CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu chung về di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể Có nhiều nghiên cứu về di sản văn hóa và di sản văn hóa phi vật thể. Hầu hết các nghiên cứu tiếp cận từ góc độ văn hóa, không có sự hiện diện nhiều các nghiên cứu tiếp cận từ góc độ luật học. Marillena Vecco (2010)10 bàn về định nghĩa di sản văn hóa vật thể và phi vật thể với nội dung tập trung vào phân tích sự phát triển của khái niệm di sản văn hóa ở các quốc gia Tây Âu.
Theo đó, các khái niệm di sản xác định được đặc trưng bởi việc mở rộng khái niệm ba lần: lần một mở rộng theo chủ đề; lần hai tiêu chí lựa chọn di sản văn hóa thay đổi từ các giá trị lịch sử và nghệ thuật là duy nhất thành giá trị văn hóa, giá trị bản sắc và năng lực; lần ba tiếp cận việc công nhận di sản từ quan niệm đối tượng được đưa vào danh sách bằng việc dựa trên năng lực của đối tượng để khơi dậy giá trị của di sản. Như vậy, tiếp cận định nghĩa quốc tế về di sản được đưa ra bởi các chỉ thị, điều lệ và nghị quyết quốc tế nhằm xác định một phác thảo toàn cầu về ý nghĩa của di sản không chỉ giới hạn trong một kích thước quốc gia cụ thể. Từ cách tiếp cận thuần túy mang tính quy phạm, người ta đã chuyển sang cách tiếp cận ít hạn chế hơn, dựa trên năng lực của đối tượng để khơi dậy những giá trị nhất định khiến xã hội được đề cập coi đó là di sản và do đó, tiến tới một bước xa hơn mà di sản không còn nữa. được xác định trên cơ sở khía cạnh vật chất của nó.
Sự phát triển này cũng giúp chúng ta có thể công nhận các di sản văn hóa phi vật thể lâu nay bị bỏ qua là di sản cần được bảo vệ, gìn giữ. Các tài liệu nghiên cứu của Satoru Hyoki (2007)11, Zhao Chan (2012)12 cho thấy vấn đề sau: Nhật Bản có nhiều di sản văn hóa phi vật thể, nhưng khác với hầu hết các quốc gia khác thừa nhận bảo vệ tập hợp các di sản văn hóa phi vật thể trên lãnh thổ, Nhật Bản có quy định rõ ràng và chỉ có ba loại hình quan trọng nhất được pháp luật bảo vệ gồm: i) tài sản văn hóa phi vật thể quan trọng (IICP) của người mang chuyên môn với kỹ năng và bí quyết rất tinh vi; ii) đánh giá giá trị theo yêu cầu tầm quan trọng của người Viking; tài sản văn hóa dân gian phi vật thể quan trọng (IIFCP) dựa vào cộng đồng, đại diện cho các khía cạnh khác nhau của cuộc sống của người dân; iii) đánh giá giá trị theo yêu cầu tầm quan trọng của người Viking, kỹ thuật bảo quản được lựa chọn (PT), kỹ thuật và kỹ năng cho tính bền 10 Marillena, V. (2010), A definition of cultural heritage: from the tangible to the intangible, Journal of Cultural heritage, 27, pp. 11 Satoru Hyoki (2007), Safeguarding intangible cultural heritage in Japan: Systems, schemes and activities, https://www.net/publication/267851229_Safeguarding_Intangible_Cultural_Heritage_in_Japan_Systems_Sc hemes_and_Activities.
12 Zhao Chan (2012), The comparative study of the act on safeguarding intangible cultural heritage between Japan and China, Law School, Chongqing University. 12 vững của cả hai thuộc tính văn hóa vật thể và phi vật thể và những yêu cầu không thể thiếu. Tudorache Petronela (2016)13 tiếp cận vai trò của di sản văn hóa phi vật thể trong nền kinh tế của Áo. Theo quan điểm tác giả cho rằng di sản văn hóa phi vật thể là sự giàu có về kiến thức và kỹ năng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trước hết, đối với các nhóm thiểu số và các nhóm xã hội chính thống, giá trị kinh tế và xã hội của tri thức là phù hợp. Di sản văn hóa phi vật thể được thể hiện thông qua quá trình, cụm từ, bí quyết và khả năng - bao gồm các vật thể và không gian văn hóa liên quan - mà mọi người phân biệt như một thành phần của di sản văn hóa của họ. Trải qua nhiều thế hệ và liên tục được tái tạo, nó đảm bảo cho con người một cảm giác về bản sắc và tính liên tục. Thứ hai, các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, chẳng hạn: tốc độ tăng trưởng và phát triển, khối lượng ngoại hối chảy ra, phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật quản lý mới và kinh nghiệm đào tạo chắc chắn đóng góp vào sự phát triển kinh tế và xã hội của một quốc gia.
Bảo vệ an toàn di sản văn hóa phi vật thể là nguồn gốc quý giá của nền kinh tế. Do đó, các hoạt động bảo vệ phải luôn có sự tham gia của xã hội, con người và các cá nhân mang di sản đó khi thích hợp. Sự giàu có toàn cầu về truyền thống là động lực chính cho du lịch, với việc khách du lịch muốn tìm hiểu về các nền văn hóa mới và trải nghiệm sự khác biệt toàn cầu của nghệ thuật biểu diễn, thủ công, nghi lễ và ẩm thực. Sự hợp tác văn hóa được kích thích bởi cuộc họp như vậy sẽ thúc đẩy thảo luận, xây dựng sự hiểu biết và khuyến khích lòng khoan dung và hòa bình.
Những người nhận ra những giá trị này, ở khắp mọi nơi trên thế giới đều có cách riêng để truyền bá kiến thức và kỹ năng của họ, phần lớn thời gian dựa vào truyền miệng hơn là văn bản. Tóm lại, các di sản văn hóa phi vật thể là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai; họ tạo ra sự liên tục và thay đổi cấu trúc của xã hội bằng những trải nghiệm như chuyển tiếp và siêu việt. Trần Văn Khê (2004)14, qua bài “Nhạc cung đình Việt Nam và UNESCO”, đã kể về quá trình gian nan, dày công để đưa Nhã nhạc Cung đình Huế được UNSECO công nhận là một "kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu" của nhân loại đầu tiên ở Việt Nam. Mặc dù có một giá trị rất cao về phương diện lịch sử vì chưa có một bộ môn âm nhạc nào được ghi vào sử sách Việt Nam nhiều như Nhạc cung đình: "Đại Việt sử ký toàn thư ", "Khâm định thông giám Việt sử cương mục "," Lê triều hội điển ", "Lịch triều hiến chương loại chí "và cả nước ngoài như "Khâm Định Đai Thanh hội điển sự lệ" của Trung Quốc và bài viết bằng tiếng Pháp trong nhiều tập của " Tạp chí những Người bạn của cố đô Huế "(Bulletin des Amis du Vieux Huế).
Giá trị nghệ thuật đỉnh cao của Nhã nhạc Cung đình được thể hiện qua nhạc khí, dàn nhạc đa dạng, khi thì là nhạc lễ, lúc loại thính phòng và biểu diễn là những nghệ sĩ cao 13 Tudorache Petronela (2016), The importance of the intangible cultural heritage in the economy, procedia economics and finance, vol. 14 Trần Văn Khê, “Nhạc cung đình Việt Nam và UNESCO”, http://vietsciences.fr, truy cập ngày 28/8/2020. 13 tay nghề, sáng tác dồi dào và biểu diễn tinh vi. Nhưng dựng một hồ sơ thoả mãn được các yêu cầu của UNESCO không đơn giản.
Các chuyên gia Việt Nam đã chịu khó, bền tâm, kiên trì thu thập các tư liệu về lịch sử, hình ảnh, dĩa hát, băng ghi âm, phim đen trắng, phim video, để giới thiệu một cách có hệ thống, mạch lạc, khoa học trong một hồ sơ trên 100 trang thuyết trình, 118 ảnh tư liệu, 2 cuốn băng video các băng ghi âm thể hiện từng loại nhạc cụ. Bên cạnh đó cũng phải tranh thủ sự giúp đỡ hết sức nhiệt thành của bạn bè quốc tế. Bài viết của Giáo sư Trần Văn Khê cũng chỉ rõ: Di sản văn hoá của Cha Ông chúng ta để lại có bề dầy của lịch sử, chiều sâu của nghệ thuật. Chúng ta nên vô cùng thận trọng trong việc giữ gìn và nhất là trong công việc "phát triển".
Đừng để cho lòng nhiệt tình của chúng ta bị danh từ "hiện đại" đưa chúng ta đi đến chỗ lòng muốn làm cho đẹp cho hay hơn xưa, làm giàu cho vốn cổ, mà thật sự làm "biến chất" cái hay của truyền thống có khi đi đến chỗ phá tan truyền thống, làm mất bản sắc dân tộc và rơi vào mảnh đất ngoại lai. Một điều cần xác định là theo quan điểm của UNESCO, một bộ môn nghệ thuật khi được tổ chức này công nhận "kiệt tác" có nghĩa là nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao nên không được phép thay đổi. Đó là cách mà tất cả các nước trên thế giới đều áp dụng cho những bộ môn nghệ thuật đã được xếp loại di sản phi vật thể của thế giới. Nguyễn Chí Bền (2004)15, cho rằng để bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể cần có một hệ thống công việc mà chúng ta phải thực hiện đồng bộ ngay là xây dựng một phòng di sản văn hoá phi vật thể tại các bảo tàng địa phương.
Chúng ta không thể nói rằng di sản văn hóa phi vật thể của chúng tôi hay lắm, đẹp lắm, phong phú và đa dạng lắm nếu không có một nơi chuyên môn như bảo tàng để bảo quản, lưu trữ chúng. Thời gian qua, các bảo tàng mới chỉ có các hiện vật gồm những di sản văn hoá vật thể là chính, có rất ít bảo tàng địa phương có một gian (phòng) trưng bày về di sản văn hoá phi vật thể, chưa có nhiều lắm những bảo tàng có bộ phận cán bộ chuyên môn chuyên trách về di sân văn hoá phi vật thể. Vì thế, với các bảo tàng địa phương, đầu tư một phòng giới thiệu di sản văn hoá phi vật thể của địa phương là rất cần thiết. Cần tính đến tính hiện đại và thống nhất của sản phẩm kỹ thuật số về di sản văn hoá phi vật thể để khách tham quan đến các bảo tàng địa phương, vừa được xem những hiện vật, hình ảnh, sản phẩm trình diễn trình chiếu về các hiện tượng văn hoá phi vật thể của địa phương mình, dân tộc mình, lại vừa được xem những sản phẩm tương tự của toàn quốc, của các dân tộc anh em.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục tuyên truyền giáo dục trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ, những hiểu biết về di sản văn hoa phi vật thể là công việc đáng phải làm, rất cần thiết và quan trọng để tránh hiện tượng đứt gãy di sản văn hoá dân tộc ở một số hiện tượng cụ thể. Cần có một hệ thống sản phẩm đa dạng, cả văn tự lẫn kỹ thuật lưu trữ hiện đại giới thiệu về di 15 Nguyễn Chí Bền (2004), “Bảo tàng với việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 7/2004.