Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV" được thực hiện bởi tác giả Trịnh Huỳnh An, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Nho Thìn và TS. Lê Thanh Nga, bảo vệ tại Trường Đại học Vinh vào năm 2020 (hoàn thiện năm 2021). Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số đào tạo 9220121.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, đất nước bước vào kỷ nguyên tự chủ và thiết lập chế độ quân chủ chuyên chế kéo dài mười thế kỷ. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, hoàng đế đứng ở vị trí trung tâm, nắm quyền lực tối cao, quyết định sự hưng vong của triều đại và toàn bộ trật tự xã hội. Do đó, hoàng đế trở thành một đối tượng phản ánh trung tâm của văn học. Tuy nhiên, qua khảo sát lịch sử nghiên cứu văn học trung đại, phần lớn các công trình chuyên sâu trước đây chỉ tập trung vào các loại hình nhân vật như thiền sư, nho sĩ, hoặc liệt nữ; hoặc nếu có đề cập đến hoàng đế thì chủ yếu tiếp cận dưới các góc độ ngoài văn học như lịch sử, chính trị, quân sự, khảo cổ học, hoặc khảo sát đơn lẻ một vị vua trong một tác phẩm cụ thể. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách bao quát, có hệ thống về nhân vật hoàng đế như một loại hình nhân vật văn học - văn hóa trong tiến trình văn học giai đoạn sơ kỳ trung đại.
Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát, rút ra những khái quát về đặc điểm nội dung và hình thức biểu hiện của nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV; qua đó chỉ ra mối quan hệ giữa văn chương và chính trị thời trung đại, đồng thời phác họa bức tranh tổng thể về các loại hình nhân vật trong thời kỳ này.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày một cách tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài.
- Khảo sát và chỉ ra các cơ sở hình thành nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
- Khảo sát và phân tích những đặc điểm nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV.
- Khảo sát, phân tích và chỉ ra các phương thức thể hiện nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV; từ đó rút ra kết luận và đề xuất một số vấn đề nghiên cứu liên quan.
Đối tượng nghiên cứu của công trình là hình tượng nhân vật hoàng đế được thể hiện trong các trước tác văn học trung đại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian tập trung vào các sáng tác từ thế kỷ X đến thế kỷ XV trên lãnh thổ Đại Việt. Về mặt ngữ liệu, xuất phát từ đặc trưng "văn - sử - triết bất phân" của văn học trung đại, phạm vi ngữ liệu của luận án không chỉ giới hạn ở các thể loại thuần túy văn học mà mở rộng sang các văn bản chức năng hành chính và tác phẩm mang tính nguyên hợp. Nguồn tư liệu bao gồm các bộ tuyển tập lớn như: Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, Tổng tập văn học Việt Nam (tập I – V), Nguyễn Trãi toàn tập, Tổng tập văn học Hán – Nôm, Thơ văn Lí – Trần, Tuyển thơ các vua Trần, Thơ văn Lê Thánh Tông, Cổ tâm bách vịnh, cùng các văn bản lịch sử mang đậm chất văn học như Đại Việt sử ký toàn thư, Tam tổ thực lục, và Lam Sơn thực lục.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đi trước theo hai hướng tiếp cận chính: các nghiên cứu chung về mô hình nhân vật hoàng đế và các nghiên cứu về từng vị hoàng đế tiêu biểu.
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả, công trình và năm công bố |
Nội dung và luận điểm chính được trích dẫn |
| Nghiên cứu chung về mô hình nhân vật hoàng đế |
Trần Ngọc Vương (1997), Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung |
Phân tích mô hình hoàng đế khu vực Đông Á theo cấu trúc "tam vị nhất thể" (thiên mệnh – thiên hạ – thiên tử); chỉ ra các chuẩn mực đạo đức bắt buộc của người nhận thiên mệnh: chí hiếu, chí nhân, chí minh, chí thành, chí kính. |
|
Đỗ Lai Thúy (2006), bài viết trong Văn học Việt Nam thế kỉ X – XIX – Những vấn đề lí luận và lịch sử |
Phân chia nhân vật văn học trung đại thành ba loại hình: vô ngã, quân tử và tài tử; xếp hoàng đế vào loại hình nhân vật quân tử mang bản chất nhà nho. |
|
Đoàn Thị Thu Vân (2007), Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam sơ kì trung đại |
Nhấn mạnh đường lối chính trị thân dân, sự gắn kết không phân chia đẳng cấp khắc nghiệt thời Lý - Trần; phân tích triết lý chính trị "vô vi" thời Lý và tinh thần dũng cảm phản tỉnh của các vua Trần. |
|
Trịnh Văn Định (2018), Tự do và quyền lực |
Nhận định về quyền uy tối thượng của hoàng đế trong thiết chế chuyên chế, chi phối cả thế quyền lẫn thần quyền. |
|
Nguyễn Thị Giang (2014), Luận án Tiến sĩ |
Khảo sát hệ thống nhân vật văn học gồm thiền sư, liệt nữ, hoàng đế; tuy nhiên mảng hoàng đế chủ yếu chỉ khảo sát qua sáng tác của Lê Thánh Tông. |
| Nghiên cứu về các hoàng đế tiêu biểu |
Quốc Chấn (2009), Những vua chúa Việt Nam hay chữ |
Đánh giá sự dung hợp triết lý Phật giáo vào công việc trị quốc của Trần Thái Tông và chủ trương đức trị của Trần Nhân Tông. |
|
Nguyễn Hữu Sơn (2015), bài nghiên cứu tạp chí |
Xác lập mô hình tác gia "Hoàng đế – Thiền sư – Thi sĩ" ở Trần Thái Tông; chỉ ra sự hòa hợp giữa vương quyền thế tục và tâm linh thần quyền. |
|
Đỗ Thanh Dương (2003), Trần Nhân Tông nhân cách văn hoá lỗi lạc |
Khảo sát Trần Nhân Tông qua ba tư cách: chính khách kiệt xuất, thi sĩ, vua Phật; chỉ ra sự đan xen giữa cảm hứng yêu nước và cảm quan Phật giáo. |
|
Bùi Huy Du, bài viết nghiên cứu |
Nhấn mạnh tinh thần nhân văn, quan điểm dưỡng dân, giáo dân và trách nhiệm với non sông trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông. |
|
Nhiều tác giả (1998), Hoàng đế Lê Thánh Tông nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn |
Các bài viết của Đặng Việt Bích, Tạ Ngọc Liễn, Trần Trọng Hựu, Vũ Ngọc Lý, Trần Đình Hượu, Bùi Duy Tân, Vũ Thanh, Vũ Đức Phúc phân tích sự nghiệp mở cõi, pháp luật, văn hóa Nho học, Hội Tao đàn và sáng tác văn thơ Hán Nôm của Lê Thánh Tông. |
|
Bùi Duy Tân chủ biên (2001), Lê Thánh Tông - Về tác gia và tác phẩm |
Tập hợp nghiên cứu của Bùi Duy Tân, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Hữu Sơn, Đặng Thanh Lê khẳng định vai trò của Lê Thánh Tông như một cột mốc trong tiến trình văn học trung đại. |
Vị trí của luận án được xác định rõ qua việc giải quyết khoảng trống học thuật: Trong khi các công trình đi trước chủ yếu nghiên cứu hoàng đế dưới góc độ nhân vật lịch sử, phân tích tiểu sử tác gia đơn lẻ, hoặc khảo sát rải rác từng triều đại, thì luận án của Trịnh Huỳnh An là công trình đầu tiên đặt nhân vật hoàng đế vào vị trí một loại hình nhân vật văn học - văn hóa trong một giai đoạn hoàn chỉnh từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, khảo sát đồng thời cả hai chiều kích: cái tôi tự biểu hiện của hoàng đế và hình tượng hoàng đế trong sự phản ánh của giới trí thức đương thời.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng bốn hệ thống lý thuyết văn học hiện đại nhằm thiết lập khung phân tích:
- Lý thuyết loại hình: Dựa trên các quan điểm của N. Konrad, D. Likhachop, B. Riptin, M. B. Khrapchenko, cùng các nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam của Nguyễn Văn Dân, Biện Minh Điền. Lý thuyết này được sử dụng để phân loại các kiểu tác giả (thiền gia, nho gia, hoàng đế - thiền sư - thi sĩ, nho sĩ hành đạo, nho sĩ ẩn dật) và xác lập các đặc điểm chung mang tính quy luật của loại hình nhân vật hoàng đế trong tương quan với các loại hình nhân vật khác.
- Lý thuyết về mối quan hệ giữa văn hóa – tư tưởng và văn học: Kế thừa quan niệm truyền thống từ Khổng Tử trong Kinh Thi, Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long, Bạch Cư Dị, cùng công trình lý luận của Trần Nho Thìn. Lý thuyết này xem sáng tác văn học là một hành vi văn hóa, văn bản văn học là chứng tích văn hóa phản ánh mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế vận hành theo nguyên lý đức trị.
- Lý thuyết liên văn bản: Tiếp cận theo định hướng của Roland Barthes và Nguyễn Văn Thuấn, xem mỗi tác phẩm văn học là một không gian đối thoại, giao thoa với các văn bản khác. Luận án đặt văn bản văn học vào mạng lưới thể loại và mối liên hệ với các thư tịch lịch sử, giúp nhận diện đa chiều diện mạo nhân vật hoàng đế.
- Lý thuyết diễn ngôn: Ứng dụng các luận điểm của H. G. Widdowson, M. Bakhtin, M. Foucault, Trần Đình Sử, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Hải Phương. Lý thuyết diễn ngôn giúp giải mã các chiến lược ngôn từ chính trị, cơ chế xác lập quyền lực của hoàng đế qua hình thức xướng họa cung đình, cũng như phương thức phúng gián kín đáo của tầng lớp trí thức.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp sáu phương pháp chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức văn hóa học, triết học, luật học, ngôn ngữ học, tâm lý học để soi chiếu nhân vật hoàng đế.
- Phương pháp lịch sử – xã hội: Tái hiện bối cảnh lịch sử, thể chế chính trị Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV tác động đến quá trình hình thành và vận động của nhân vật.
- Phương pháp phân loại – thống kê: Định lượng các kiểu tác giả, tác phẩm, thể loại văn học; khảo sát khối lượng tác phẩm cụ thể để tạo cơ sở dữ liệu xác thực cho các luận điểm.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích cấu trúc tác phẩm theo thể loại, tác giả, giai đoạn, từ đó tổng hợp sự biến đổi hệ tư tưởng Nho – Phật – Đạo chi phối hình mẫu hoàng đế.
- Phương pháp so sánh – loại hình: So sánh hình mẫu hoàng đế giữa các triều đại Lý, Trần, Lê; so sánh văn học giai đoạn X - XV với giai đoạn sau thế kỷ XV đến thế kỷ XIX; bước đầu liên hệ đối chiếu với mô hình hoàng đế khu vực Đông Á (đặc biệt là Trung Quốc).
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Xâu chuỗi các hiện tượng văn học thành một chỉnh thể thống nhất, bảo đảm tính logic và bao quát.
Về nguồn tư liệu, luận án khai thác hệ thống văn bản từ các bộ tuyển tập văn học chữ Hán và chữ Nôm thời Lý - Trần - Lê sơ, kết hợp với các bộ biên niên sử và truyện ký mang tính nguyên hợp (Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục, Tam tổ thực lục).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 1 dành toàn bộ dung lượng để điểm lại bức tranh học thuật liên quan đến đề tài và xây dựng nền tảng lý luận. Tác giả phân tích kỹ lưỡng các công trình nghiên cứu đi trước về mô hình hoàng đế phương Đông, các chuyên luận về con người nhân văn thời sơ kỳ trung đại và các luận án về hệ thống nhân vật thiền sư, nho sĩ, liệt nữ. Đồng thời, chương này tổng thuật các nghiên cứu riêng lẻ về ba vị hoàng đế tiêu biểu: Trần Thái Tông (kiểu tác gia hoàng đế - thiền sư - thi sĩ), Trần Nhân Tông (nhân cách văn hóa kết tinh Phật giáo Trúc Lâm) và Lê Thánh Tông (đỉnh cao của mô hình quân chủ Nho giáo và chủ soái Hội Tao đàn). Trên cơ sở đó, tác giả luận giải việc áp dụng bốn trụ cột lý thuyết: lý thuyết loại hình, lý thuyết mối quan hệ văn hóa - tư tưởng và văn học, lý thuyết liên văn bản và lý thuyết diễn ngôn, tạo tiền đề phương pháp luận cho việc triển khai ba chương nội dung tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở hình thành nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
Chương 2 tập trung làm sáng tỏ các tiền đề dẫn đến sự xuất hiện và xác lập vị thế của nhân vật hoàng đế trong văn học.
Thứ nhất, về mặt giới thuyết khái niệm, tác giả phân tích ngữ nghĩa của từ "Hoàng đế" qua các từ điển chuyên ngành và thư tịch cổ. Tác giả dẫn giải câu trong Kinh Dịch: "Thể thiên địa chi đức viết đế" và "Thiên địa chi đại đức viết sinh", khẳng định cốt lõi của khái niệm hoàng đế là người thay trời trị vì thiên hạ, phải mang đức hiếu sinh đối với muôn vật. Luận án phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa "Đế" và "Vương": từ "Vương" đến "Đế" là một quá trình phát triển về danh xưng và quy mô thiết chế; "Đế" thể hiện vị thế tối cao, toàn quyền, ngang hàng với hoàng đế phương Bắc. Khái niệm nhân vật hoàng đế trong luận án được tiếp cận theo nghĩa rộng: được dựng lại và phác họa từ nhiều nguồn tác phẩm khác nhau trong bối cảnh thi pháp trung đại "trọng thần khinh hình", kết hợp giữa cái nhìn tự họa của chính nhà vua và cái nhìn miêu tả của người ngoài.
Thứ hai, tác giả phân tích ba tiền đề hình thành:
- Tiền đề lịch sử, xã hội: Trải qua các mốc lịch sử từ chiến thắng Bạch Đằng năm 938, sự kiện Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long năm 1010, Lý Thánh Tông đổi tên nước thành Đại Việt năm 1054, sự phát triển rực rỡ của thời đại Lý - Trần với hào khí Đông A, cuộc kháng chiến chống quân Minh gian khổ của nghĩa quân Lam Sơn (1418 - 1428), cho đến giai đoạn phát triển cực thịnh của chế độ quân chủ tập quyền dưới triều vua Lê Thánh Tông vào nửa cuối thế kỷ XV.
- Tiền đề văn hóa, chính trị: Sự chuyển dịch hệ tư tưởng từ Phật giáo giữ vai trò chủ đạo thời Lý - Trần sang Nho giáo chiếm vị thế độc tôn ở thời Lê sơ. Mô hình hoàng đế lý tưởng chuyển dần từ mẫu hình hoàng đế sùng Phật, nhập thế hành đạo sang mẫu hình Nho gia "nội thánh, ngoại vương", lấy chuẩn mực "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" làm gốc. Tư tưởng thân dân vận động từ chính sách "ngụ binh ư nông" thời Lý đến "khoan thư sức dân" thời Trần và phát triển thành tư tưởng xem "dân như nước, có thể chở thuyền và lật thuyền" thời Lê.
- Tiền đề văn học: Nền văn học mang nặng tính chức năng, coi trọng quan niệm "thi dĩ ngôn chí", "văn dĩ tải đạo". Các hoàng đế sử dụng văn chương để ban bố mệnh lệnh hành chính, khẳng định tính chính danh của ngôi vị, phô diễn tài năng và đức độ nhằm thực hiện mục tiêu chính trị. Đồng thời, tầng lớp trí thức nho sĩ và thiền sư sử dụng văn chương như một phương tiện giao tiếp, phò tá triều đình và thực hiện chức năng phúng gián.
Thứ ba, về vị thế của nhân vật hoàng đế: Luận án đưa ra số liệu thống kê cụ thể: trong tổng số 1800 tác phẩm văn học được khảo sát từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, có 680 tác phẩm trực tiếp thể hiện nhân vật hoàng đế (chiếm tỷ lệ 37,7%). Điều này khẳng định hoàng đế là nhân vật trung tâm trong đời sống văn học giai đoạn này. Tác giả cũng chỉ ra sự đối lập giữa niềm tin chính trị vững chắc của giới sĩ phu vào bậc minh quân ở giai đoạn X - XV với sự suy giảm niềm tin, gia tăng tâm trạng hoài nghi đối với nền đức trị ở giai đoạn văn học từ sau thế kỷ XV đến thế kỷ XIX.
Chương 3: Đặc điểm nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
Dựa trên cấu trúc mục lục và các luận điểm trong văn bản, Chương 3 phân tích nhân vật hoàng đế ở hai chiều kích thẩm mỹ:
Thứ nhất, nhân vật hoàng đế với tư cách là cái tôi tự biểu hiện (cái nhìn từ bên trong qua các sáng tác của chính các nhà vua):
- Nhân vật hoàng đế - thiên tử trong ý thức chính trị: Thể hiện ý thức tự tôn dân tộc, khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia và tính chính danh của ngai vàng được trời ủy thác, bộc lộ tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của giang sơn và bách tính.
- Nhân vật hoàng đế - thiền nhân trong những suy tư mang màu sắc tôn giáo: Tiêu biểu ở các vị vua đầu triều Trần như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông. Nhân vật giãi bày những chiêm nghiệm về triết lý vô thường, sắc không, bản tâm, sự dung hợp giữa việc giữ gìn ngai vàng thế tục với con đường giải thoát tâm linh.
- Nhân vật hoàng đế - thi sĩ trong cảm quan thẩm mĩ: Thể hiện tâm hồn nghệ sĩ trước vẻ đẹp của non sông đất nước, những rung động tinh tế trước thiên nhiên, niềm vui trong cảnh thái bình thịnh trị gắn liền với cảm hứng tự thuật thế sự.
Thứ hai, nhân vật hoàng đế với tư cách khách thể phản ánh (cái nhìn từ bên ngoài qua ngòi bút của các thiền sư và văn thần):
- Nhân vật hoàng đế "thập toàn" của đấng "chăn dân" trong cảm hứng ngợi ca: Hình tượng hoàng đế được lý tưởng hóa qua lăng kính Nho gia, hội tụ đầy đủ các đức tính thánh nhân: chí nhân, chí hiếu, chăm lo việc trị quốc, ban bố ân huệ cho trăm họ.
- Nhân vật hoàng đế "bất toàn" trong cảm hứng phê phán, phúng gián: Phản ánh những hạn chế, sai lầm trong việc cai trị. Do điều kiện ngặt nghèo của xã hội chuyên chế, cảm hứng phê phán được thể hiện kín đáo, tinh vi qua bút pháp phúng thích, mượn chuyện xưa tích cũ hoặc quy luật "chở thuyền - lật thuyền" để khuyên răn, cảnh tỉnh nhà vua.
Chương 4: Phương thức thể hiện nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV
Chương 4 khảo sát các phương tiện nghệ thuật được sử dụng để xây dựng hình tượng nhân vật:
- Lựa chọn thể loại: Tác giả tập trung phân tích văn chính luận với các thể loại chức năng quan phương như chiếu, hịch, biểu, cáo (tiêu biểu như Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo). Đây là những thể loại trực tiếp chuyển tải khẩu khí đế vương và tư tưởng chính trị của người đứng đầu đất nước.
- Lựa chọn ngôn từ: Luận án phân tích ba hệ thống ngôn từ nổi bật:
- Hệ thống ngôn từ bộc lộ khẩu khí của đế vương: Mang tính trang trọng, uy nghiêm, biểu đạt uy quyền tuyệt đối của bậc thiên tử.
- Hệ thống ngôn từ thể hiện nhãn quan chính trị: Sử dụng dày đặc các khái niệm đạo đức Nho giáo và chính trị như đức, tài, trung, hiếu, thân dân, ái quốc.
- Hệ thống ngôn từ thể hiện quan niệm thẩm mĩ: Gắn liền với cảm quan tao nhã, điển lệ của văn học cung đình.
- Sự vận dụng bút pháp: Luận án chỉ rõ việc kết hợp giữa hai bút pháp chủ đạo:
- Bút pháp trữ tình: Bộc lộ tâm tư, sự ưu tư đối với dân chúng và những rung cảm nội tâm của đấng minh quân.
- Bút pháp khoa trương: Thường xuất hiện trong các bài thơ đề vịnh, xướng họa cung đình nhằm ca tụng công đức thái bình, khẳng định uy thế triều đại và tài năng của thiên tử.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về loại hình nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XV. Luận án đã làm sáng tỏ cơ chế diễn ngôn quyền lực trong văn học trung đại, chỉ ra sự gắn kết hữu cơ giữa chức năng hành chính - chính trị với giá trị nghệ thuật văn chương thời kỳ "văn - sử - triết bất phân". Công trình đóng góp vào việc phân loại các kiểu tác giả thời trung đại (thiền gia, nho gia, hoàng đế - thiền sư - thi sĩ) và xác lập vị thế trung tâm của nhân vật hoàng đế trong mối tương quan với các nhân vật khác.
Về mặt thực tiễn, luận án đã thống kê và hệ thống hóa khối lượng tư liệu lớn từ 1800 tác phẩm, nhận diện 680 tác phẩm trực tiếp khắc họa nhân vật hoàng đế. Luận án tái hiện chân dung nhân vật hoàng đế từ hai điểm nhìn: điểm nhìn chủ quan (tự thuật, tự họa) của chính các vua chúa và điểm nhìn khách quan của các trí thức thời đại.
Về mặt kiến nghị, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử từ tư tưởng "đức trị", chính sách "thân dân", "khoan thư sức dân" và quan điểm "dân là gốc nước" của các bậc minh quân thời Lý - Trần - Lê sơ, xem đây là những giá trị có ý nghĩa tham khảo thiết thực cho công tác quản trị quốc gia và củng cố mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân trong xã hội đương đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận do sự biến động khắc nghiệt của lịch sử, đặc biệt là chính sách tàn phá, đốt sạch sách vở của quân xâm lược nhà Minh ở đầu thế kỷ XV, một khối lượng đồ sộ các tác phẩm văn học thời Lý - Trần đã bị thất lạc. Do đó, nguồn tư liệu lưu trữ hiện còn chưa thể phản ánh tuyệt đối chân xác và đầy đủ toàn bộ diện mạo nhân vật hoàng đế như trong thực tế lịch sử quá khứ.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở:
- Mở rộng phạm vi khảo sát loại hình nhân vật hoàng đế ở các giai đoạn văn học tiếp theo, đặc biệt là giai đoạn từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (thời kỳ phân liệt Trịnh - Nguyễn và triều Nguyễn).
- Đẩy mạnh hướng nghiên cứu so sánh loại hình giữa hình tượng hoàng đế trong văn học Việt Nam với các nền văn học trong khu vực văn hóa đồng văn Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) nhằm làm nổi bật những nét tương đồng và đặc thù của văn học dân tộc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Hán Nôm và Lịch sử tư tưởng Việt Nam khi tiếp cận thi pháp nhân vật trung đại và lý thuyết diễn ngôn quyền lực.
- Sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn và Khoa học Xã hội cần tư liệu nghiên cứu chuyên sâu về các tác gia hoàng đế như Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông và Nguyễn Trãi.
- Những người làm công tác nghiên cứu chính trị học, văn hóa học quan tâm đến lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, nghệ thuật trị quốc dựa trên nền tảng đức trị và truyền thống thân dân thời trung đại.
Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 2 và Chương 3, nơi tác giả làm rõ sự chuyển biến từ mô hình "hoàng đế - thiền sư" sang "hoàng đế - nho gia", cùng hệ thống bảng biểu thống kê tác phẩm trực tiếp phản ánh nhân vật hoàng đế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt hai khái niệm "Đế" và "Vương" như thế nào?
Theo luận án, "Đế" và "Vương" đều chỉ người đứng đầu nhà nước quân chủ, nhưng nội hàm không đồng nhất. Quá trình phát triển từ "Vương" đến "Đế" là sự mở rộng về danh hiệu, quy mô thiết chế và nhận thức quyền lực. "Đế" là danh xưng tối cao, toàn quyền và thiêng liêng hơn "Vương". Việc các vị vua Đại Việt xưng "Đế" (như trong bài thơ Nam quốc sơn hà: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư") là biểu hiện của ý thức tự chủ, khẳng định vị thế độc lập ngang hàng với các hoàng đế phương Bắc.
2. Tỷ lệ tác phẩm trực tiếp thể hiện nhân vật hoàng đế trong giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV được tác giả thống kê là bao nhiêu?
Qua khảo sát thực tế trên nguồn ngữ liệu gồm 1800 tác phẩm văn học giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, tác giả đã thống kê được 680 tác phẩm trực tiếp thể hiện nhân vật hoàng đế, chiếm tỷ lệ 37,7%. Con số này chưa bao gồm các tác phẩm phản ánh gián tiếp.
3. Vì sao luận án lại sử dụng các tác phẩm lịch sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục làm ngữ liệu nghiên cứu văn học?
Luận án căn cứ vào đặc trưng tư duy nguyên hợp "văn - sử - triết bất phân" của văn học trung đại. Trong thời kỳ này, các tác phẩm hành chính quan phương hay ghi chép lịch sử đều chứa đựng tính chất nghệ thuật văn học rõ nét; các bộ sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục, hay Tam tổ thực lục lưu giữ nhiều trang văn ký sự chân dung nhân vật mang giá trị văn học đậm nét.
4. Hai trục diện mạo chính của nhân vật hoàng đế trong Chương 3 là gì?
Nhân vật hoàng đế được khảo sát qua hai trục: (1) Với tư cách là cái tôi tự biểu hiện (cái nhìn từ bên trong), gồm ba phương diện: thiên tử trong ý thức chính trị, thiền nhân trong tư tưởng tôn giáo, và thi sĩ trong cảm quan thẩm mỹ; (2) Với tư cách khách thể phản ánh (cái nhìn từ bên ngoài của sĩ phu), gồm hình tượng hoàng đế "thập toàn" trong cảm hứng ngợi ca và hình tượng "bất toàn" trong cảm hứng phê phán, phúng gián.
5. Bốn hệ thống lý thuyết được tác giả sử dụng làm khung nghiên cứu là gì?
Bốn hệ thống lý thuyết gồm: Lý thuyết loại hình (xác định loại hình tác giả và nhân vật); Lý thuyết về mối quan hệ giữa văn hóa – tư tưởng và văn học (tiếp cận tác phẩm như chứng tích văn hóa chính trị); Lý thuyết liên văn bản (kết nối văn bản văn học với văn bản lịch sử và mạng lưới thể loại); và Lý thuyết diễn ngôn (giải mã chiến lược phát ngôn quyền lực và sự tương quan giữa quyền lực với tri thức).
Kết luận
Luận án của Trịnh Huỳnh An là công trình học thuật chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về nhân vật hoàng đế trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XV. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết loại hình, liên văn bản, diễn ngôn và văn hóa học, tác giả đã tái hiện chân dung nhân vật hoàng đế ở cả tư cách cái tôi tự biểu hiện lẫn khách thể phản ánh của giới trí thức. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật sự vận động tư tưởng từ Phật giáo sang Nho giáo chi phối mô hình đấng minh quân, đồng thời chỉ ra các phương thức biểu đạt nghệ thuật đặc thù của văn học cung đình và chức năng quan phương thời sơ kỳ trung đại.