Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2017), thuộc chuyên ngành Lý luận văn học (mã số: 62.20), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. La Khắc Hòa. Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính, vận dụng lý thuyết diễn ngôn, ký hiệu học văn hóa và thi pháp học hiện đại để tiếp cận một hiện tượng lịch sử văn học.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nghiên cứu văn học Việt Nam, các công trình bàn về người phụ nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa tương đối phong phú. Tuy nhiên, phần lớn các công trình trước đây đều tiếp cận giới nữ như một hình tượng khách thể và là sản phẩm của mô hình tư duy phản ánh luận. Cách tiếp cận này chủ yếu dừng lại ở việc mô tả người phụ nữ trong tác phẩm có đặc điểm gì, phẩm chất gì theo tinh thần xã hội học dung tục hoặc cảm hứng ngợi ca đồng điệu. Luận án này đặt vấn đề nghiên cứu có tính hệ thống về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự soi sáng của lý thuyết diễn ngôn. Hướng nghiên cứu không chỉ nhận diện đặc điểm miêu tả phụ nữ mà trọng tâm là giải mã cơ chế kiến tạo diễn ngôn, lý giải nguyên nhân vì sao phụ nữ lại được tái hiện theo những quy chuẩn thẩm mỹ và chức năng xã hội đặc thù dưới sự chi phối của các thiết chế chính trị, tư tưởng và văn hóa thời đại.
Mục đích nghiên cứu
Luận án xác định ba mục đích nghiên cứu cơ bản:
- Làm sáng tỏ cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Phân tích tính đặc thù của diễn ngôn giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các bộ phận văn học khác.
- Chỉ ra những đóng góp cùng các giới hạn của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa về các phương diện nói trên.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án giải quyết ba nhiệm vụ cụ thể:
- Xác lập một cách hiểu thống nhất về khái niệm diễn ngôn trên cơ sở tiếp thu các thành tựu của thi pháp học và tu từ học hiện đại.
- Chứng minh toàn bộ nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một hệ hình diễn ngôn nghệ thuật thông qua hệ thống các luận điểm và dẫn chứng văn học cụ thể.
- Vận dụng lý thuyết diễn ngôn và lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa để khảo sát các sáng tác, chỉ ra đặc điểm, cơ chế và phương thức kiến tạo diễn ngôn về giới nữ ở bộ phận văn học này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khảo sát qua ba bình diện trọng yếu: chiến lược diễn ngôn, trật tự diễn ngôn và phương thức tạo lập diễn ngôn (hệ thống tu từ).
- Phạm vi khảo sát chính: Các tác phẩm văn học thuộc phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Luận án không giới hạn phạm vi trong giai đoạn 1945 - 1975 mà mở rộng sang cả các sáng tác trước năm 1945 (những tác phẩm tiếp thu phương pháp sáng tác từ Liên Xô và Trung Quốc của Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu) và sau năm 1975 (các tác phẩm tiếp tục duy trì phương pháp sáng tác này).
- Phạm vi khảo sát so sánh: Văn học dân gian, văn học trung đại, văn học giai đoạn 1930 - 1945, văn học sau năm 1975 và một số tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Liên Xô nhằm làm nổi bật tính đặc thù của đối tượng nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân tích và tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề theo các chặng đường lịch sử và các khu vực văn học:
| Nhóm công trình / Giai đoạn |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Nội dung và khuynh hướng tiếp cận chính |
| Vấn đề giới nữ trong văn hóa và báo chí đầu thế kỷ XX |
- Báo Nữ giới chung (1918, Sương Nguyệt Anh chủ bút) - Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh (trên Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí) - Đặng Văn Bảy (Nam nữ bình quyền, 1928) - Phan Bội Châu (Vấn đề phụ nữ, 1929) |
Đặt nền móng bàn luận về nữ quyền, phê phán lễ giáo phong kiến, đòi quyền bình đẳng trong giáo dục và hôn nhân, đặt vấn đề tự giải phóng của phụ nữ gắn với biến chuyển xã hội. |
| Nghiên cứu giới nữ trong văn học trước 1945 |
- Phan Khôi (1929, loạt bài trên Phụ nữ tân văn) - Lê Văn Hòe (Lược luận về phụ nữ Việt Nam, 1944) - Trần Nho Thìn (Nho giáo và nữ quyền, 2009) - Hồ Khánh Vân (2010) - Trần Văn Toàn (2011, bài viết về Đoạn tuyệt) - Mariam B. Lam (nghiên cứu Truyện Kiều) |
Vận dụng bước đầu phê bình nữ quyền để phân tích tục ngữ, ca dao và văn học trung đại; chỉ ra hiện tượng "nam tính hóa nữ tính" trong văn xuôi Tự lực văn đoàn và tính dân tộc hóa thân phận người phụ nữ. |
| Nghiên cứu giới nữ trong văn học HTXHCN (1945 - 1975) |
- Phan Nhân (1967), Hoài Thanh (1968) viết về Hòn Đất - Phan Cự Đệ (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, 1974 - 1975) - Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/1978 (Mai Hương, Bích Thu, Lê Thị Đức Hạnh, Đoàn Thị Hương) - Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Long, Trần Đăng Suyền, Đoàn Trọng Huy (Lịch sử văn học Việt Nam, Tập III) |
Tiếp cận nhân vật nữ gắn liền với cảm hứng sử thi, chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phân tích người phụ nữ ở các vai trò: người mẹ, người chiến sĩ, người lao động trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. |
| Các luận án và công trình lý thuyết diễn ngôn liên quan |
- Nguyễn Thị Nga (Luận án Tiến sĩ, 2010) - Hoàng Thị Thu Giang (Luận án Tiến sĩ, 2014) - La Khắc Hòa (các bài viết giai đoạn 2012 - 2015) |
Nghiên cứu hình tượng tác giả nữ trong thơ chống Mĩ; nghiên cứu truyện ngắn 1945 - 1975 từ thẩm quyền diễn ngôn; tiếp cận văn học HTXHCN như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây hoặc nhìn nhận giới nữ thuần túy qua lăng kính phản ánh hiện thực, xã hội học lịch sử, hoặc tiếp cận theo hướng phê bình tác giả nữ, thẩm quyền diễn ngôn truyện ngắn nói chung. Chưa có công trình nào khảo sát toàn diện và hệ thống hình tượng giới nữ trong toàn bộ nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam như một cấu trúc diễn ngôn hoàn chỉnh, làm rõ sự tương tác giữa chiến lược giao tiếp, trật tự diễn ngôn và hệ thống tu từ biểu trưng. Luận án xác định vị trí nghiên cứu nhằm lấp đầy khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án tích hợp hệ thống lý thuyết từ thi pháp học, tu từ học hiện đại và lý thuyết diễn ngôn:
- Lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault: Vận dụng quan niệm diễn ngôn là hành vi xã hội chịu sự quy định của thiết chế quyền lực, tri thức và hệ tư tưởng; vận dụng mô hình phân tích trật tự diễn ngôn gồm trật tự bên ngoài (nguyên tắc ngăn cấm, phân loại, bài xích giữa lý trí/điên rồ, chân lý/sai lầm) và trật tự bên trong (nguyên tắc bình luận, tác quyền, chuyên khoa).
- Lý thuyết thi pháp học và tu từ học diễn ngôn (M. Bakhtin, N. Tamarchenko, V. I. Chiupa): Định nghĩa diễn ngôn là sự kiện giao tiếp tương tác văn hóa xã hội giữa chủ thể, khách thể và đối tượng được nói tới. Vận dụng khái niệm thẩm quyền diễn ngôn (thẩm quyền sáng tạo, thẩm quyền của cái được tham chiếu, thẩm quyền tiếp nhận) và hệ thống 4 hình thái diễn ngôn (vị thế - bầy đàn, vai - quy phạm, đối nghịch - chủ động, hội tụ - chủ động). Trong đó, hình thái vai - quy phạm được xác định là nền tảng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.
- Lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa: Khái niệm diễn ngôn sáng thế, nguyên lý tính Đảng, thi pháp điển hình hóa và bức tranh thế giới phân vai chức năng.
- Lý thuyết phê bình nữ quyền: Tiếp cận ý thức phái tính, khoảng cách giới và vị thế người phụ nữ trong các cấu trúc quyền lực xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: Chia tách chỉnh thể văn học thành hệ thống các yếu tố cùng cấp độ (chiến lược, trật tự, phương thức tu từ), xác định các yếu tố hạt nhân chi phối diện mạo diễn ngôn giới nữ.
- Phương pháp xác định lịch sử phát sinh (theo M. Khrapchenko): Nghiên cứu văn học từ nguồn gốc đời sống xã hội, gắn sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa vào bối cảnh lịch sử - chính trị của hai cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa với văn học dân gian, văn học trung đại, văn học Tự lực văn đoàn, văn học sau năm 1975 và văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Xô-viết để làm sáng tỏ tính chất khu biệt của đối tượng.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Luận án khảo sát các văn bản văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên các thể loại thơ ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, ký của các tác giả tiêu biểu (Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Anh Đức, Bùi Đức Ái, Nguyễn Thi, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Chu Văn, Phan Tứ, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Anh Xuân, Lâm Thị Mỹ Dạ, Xuân Quỳnh, Nguyễn Thị Ngọc Tú...), đồng thời tham chiếu các văn kiện, bài phát biểu chỉ đạo văn nghệ của Đảng (Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng) và các tài liệu văn học so sánh liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này khái quát tiến trình nhận thức về giới nữ trong văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Luận án phân tích sự vận động của ý thức nữ quyền từ đầu thế kỷ XX qua báo chí quốc ngữ (Nữ giới chung, các bài viết của Phan Khôi, Đặng Văn Bảy), sự gắn kết giữa giải phóng phụ nữ với giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản từ năm 1930. Đồng thời, chương 1 tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu về phụ nữ trong văn học trước năm 1945, văn học giai đoạn 1945 - 1975 và sau năm 1975, từ đó xác lập tính cấp thiết của việc áp dụng lý thuyết diễn ngôn vào đề tài.
Chương 2. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình diễn ngôn nghệ thuật
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết nền tảng cho toàn bộ luận án:
- Diễn ngôn như một sự kiện giao tiếp: Trình bày nội hàm thuật ngữ diễn ngôn, cấu trúc thẩm quyền giao tiếp (thẩm quyền sáng tạo, thẩm quyền tham chiếu, thẩm quyền tiếp nhận) và phân loại 4 hình thái diễn ngôn theo V. I. Chiupa.
- Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam - nguồn gốc và quá trình phát triển: Phân tích sự tiếp thu phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa từ Liên Xô và Trung Quốc; quá trình phát triển từ Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) đến giai đoạn 1945 - 1975 và sự chuyển đổi sau năm 1975.
- Loại hình diễn ngôn sáng thế truyền đạt tri thức: Chứng minh văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là diễn ngôn sáng thế nhằm truyền đạt tri thức về sự hình thành chế độ xã hội mới và tri thức về con người mới thông qua nguyên tắc lý tưởng hóa và định hướng tương lai.
- Bức tranh thế giới phân vai theo chức năng xã hội: Phân tích mô hình tổ chức không gian giao tiếp theo hai cấu trúc:
- Thế giới như một mặt trận: Phân tuyến rạch ròi theo trục đối lập "Ta - Địch".
- Thế giới như một gia đình: Thiết lập hệ thống thứ bậc "Cha - Mẹ - Chúng con".
- Sự chuyển dịch diễn ngôn giới: Khảo sát con đường dịch chuyển từ các quan điểm trong diễn ngôn chính trị, xã hội của Đảng vào diễn ngôn nghệ thuật của văn học.
Chương 3. Giới nữ trong diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa
Chương 3 đi sâu phân tích cơ chế kiến tạo hình tượng người phụ nữ qua hai bình diện:
- Diễn ngôn về giới nữ nhìn từ chiến lược giao tiếp:
- Tuyệt đối hóa vai xã hội: Phụ nữ được phân chia và định hình thông qua các vai chức năng: vai "Mẹ - Chiến sĩ, Mẹ - Tổ quốc" (biểu tượng cội nguồn, hậu phương, đức hy sinh); vai "Chúng con - Anh hùng" (thế hệ trẻ trực tiếp chiến đấu, lao động sản xuất); vai "Kẻ lầm đường, lạc lối" (nhân vật có nhận thức lệch lạc cần được giác ngộ, cải tạo).
- Nguyên tắc đồng thuận của tiếng nói giới nữ: Mọi tiếng nói của nhân vật nữ đều quy phục và hòa nhập vào tiếng nói mang chân lý tuyệt đối của "Ta", tạo ra sự đồng thanh, đồng thuận nhất trí, triệt tiêu sự phân rã ý thức cá nhân.
- Diễn ngôn về giới nữ nhìn từ trật tự diễn ngôn:
- Trật tự bên trong: Thể hiện sự giằng co giữa hai xu hướng: một mặt xóa bỏ khoảng cách phái tính để hòa nhập phụ nữ vào các nhiệm vụ chiến đấu và lao động như nam giới; mặt khác tô đậm sự khác biệt giới tính ở những thuộc tính chức năng (tình mẫu tử, sự dịu dàng, đức tính đảm đang).
- Trật tự bên ngoài: Phân lập ranh giới nghiêm ngặt giữa hệ chủ đề chính thống (lòng yêu nước, tinh thần hy sinh, lao động tập thể, nghĩa vụ cách mạng) và hệ chủ đề cấm kỵ (những ham muốn dục vọng cá nhân, nỗi đau bi lụy, sự dao động ủy mị, sự phản kháng cấu trúc xã hội).
Chương 4. Diễn ngôn giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ thống tu từ
Chương này luận giải các phương thức nghệ thuật cụ thể được sử dụng để kiến tạo hình tượng giới nữ:
- Xu hướng biểu trưng hóa:
- Biểu trưng hóa bản chất xã hội qua cặp hình tượng không - thời gian: "Không gian chiến trường - thời gian khẩn trương, gấp gáp" gắn với nữ chiến sĩ, thanh niên xung phong; "Không gian làng quê - thời gian chờ đợi, mong ngóng" gắn với người mẹ, người vợ hậu phương.
- Biểu trưng hóa thuộc tính phẩm chất qua hệ thống ẩn dụ: Hình tượng Hoa (vẻ đẹp tâm hồn thanh cao, tinh tế); các chi tiết khuôn mặt, mái tóc, làn da, cánh tay, dáng vóc (vẻ đẹp nữ tính khỏe khoắn, hòa quyện với vẻ đẹp lao động và chiến đấu); hình tượng Lời ru (biểu trưng cho tình yêu thương sâu thẳm, cội nguồn văn hóa).
- Huyền thoại hóa hình tượng nữ giới:
- Quy chiếu nhân vật nữ theo ba mẫu gốc huyền thoại: Bà Mẹ Xứ sở (thiêng liêng, trường tồn), Nữ anh hùng chiến trận (bất khuất, quả cảm), Người phụ nữ đa khổ, đa nạn được cứu rỗi (chuyển biến từ kiếp nô lệ phong kiến/thực dân sang làm chủ cuộc đời nhờ ánh sáng cách mạng).
- Sử dụng triệt để thủ pháp trùng điệp và khuếch đại nhằm tạo ra tầm vóc phi thường.
- Nguyên tắc tạo hình và biểu hiện:
- Nguyên tắc tạc tượng đài: Sử dụng màu sắc tươi sáng, rạng rỡ; đường nét, hình khối uy nghi, hoành tráng; chất liệu bền vững, bất hoại (đá, thép, đồng) để bất tử hóa hình tượng nữ giới.
- Tổ chức giọng điệu: Hệ thống 5 giọng điệu chủ đạo chi phối lời văn nghệ thuật: giọng ngợi ca - thành kính; giọng cảm phục - tự hào; giọng hân hoan - lạc quan; giọng ngọt ngào - đằm thắm; đối lập với giọng châm biếm - khinh bỉ - phê phán khi miêu tả các nhân vật phản diện hoặc lạc hậu.
Kết quả và những đóng góp mới
Dựa trên phần tự đánh giá đóng góp của luận án, công trình đạt được các kết quả khoa học cụ thể:
- Về mặt lý luận: Luận án đặt vấn đề nghiên cứu có tính hệ thống về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự soi sáng của lý thuyết diễn ngôn và lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Luận án góp phần khẳng định tính khả dụng của việc tiếp cận các hiện tượng lịch sử văn học bằng khung lý thuyết diễn ngôn.
- Về mặt cấu trúc diễn ngôn: Luận án chỉ ra và phân tích cụ thể các bình diện cấu thành diễn ngôn giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa gồm: chiến lược diễn ngôn, hệ hình diễn ngôn, trật tự diễn ngôn và mục đích diễn ngôn.
- Về mặt thực tiễn văn học sử: Luận án lý giải được cơ chế vì sao giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa lại được miêu tả với những đặc tính chức năng và thi pháp khác biệt so với các trào lưu văn học khác (như văn học trung đại hay văn học lãng mạn 1930 - 1945).
- Kiến nghị khoa học: Luận án đề xuất việc mở rộng cách đọc và tiếp cận các hiện tượng văn học quá khứ từ các lý thuyết đương đại nhằm phát hiện những tầng vỉa ý nghĩa mới mà cách tiếp cận phản ánh luận trước đây chưa giải mã được.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo phạm vi xác định của tác giả, luận án tập trung khảo sát văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trong tương quan diễn ngôn của một giai đoạn lịch sử cụ thể, chưa mở rộng phân tích sâu các biến thể diễn ngôn giới nữ ở toàn bộ khu vực văn học ngoài luồng hoặc các sáng tác thuộc văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối sánh sự chuyển biến của diễn ngôn giới nữ từ văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sang văn học thời kỳ Đổi mới (sau 1986) và văn học đương đại dưới tác động của các lý thuyết nữ quyền hậu hiện đại.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp một khung phân tích thao tác mẫu mực về việc vận dụng lý thuyết diễn ngôn (đặc biệt là mô hình của M. Foucault và V. I. Chiupa) vào nghiên cứu văn học sử Việt Nam.
- Đối với giảng viên và sinh viên ngành Ngữ văn: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các học phần Lý luận văn học, Văn học Việt Nam hiện đại, Ký hiệu học văn hóa và Phê bình nữ quyền.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống phân tích về Bức tranh thế giới phân vai (Chương 2), Chiến lược phân vai và trật tự diễn ngôn (Chương 3), cùng hệ thống mô hình hóa Huyền thoại hóa và nguyên tắc tạc tượng đài (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định cấu trúc thẩm quyền giao tiếp của diễn ngôn bao gồm những thành tố nào?
Theo khung lý thuyết của V. I. Chiupa mà luận án tiếp thu, cấu trúc thẩm quyền giao tiếp diễn ngôn gồm ba thành tố: thẩm quyền sáng tạo (chịu sự quy định của hình thái tu từ và phương thức mã hóa), thẩm quyền của cái được tham chiếu (nguồn dự trữ bức tranh tu từ về thế giới), và thẩm quyền tiếp nhận (kho dự trữ nhận thức, mô phỏng, đồng tình dựa trên tập quán tu từ).
2. Trong bốn hệ hình diễn ngôn của V. I. Chiupa, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc hệ hình nào?
Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam vận dụng triệt để hình thái diễn ngôn vai - quy phạm. Đây là hình thái diễn ngôn dựa trên bức tranh thế giới quyền uy, ưu tiên loại lời biểu tượng khép kín, nơi chủ thể lời nói tự đặt mình vào các quy phạm và người tiếp nhận tuân thủ theo tập quán đồng thuận độc điệu.
3. Bức tranh thế giới phân vai trong diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được cấu trúc như thế nào?
Bức tranh thế giới được cấu trúc theo hai mô hình phân vai chính:
- Thế giới như một mặt trận: Phân tuyến triệt để theo trục đối kháng "Ta - Địch".
- Thế giới như một gia đình: Thiết lập tôn ti trật tự theo cấu trúc "Cha - Mẹ - Chúng con".
4. Chiến lược giao tiếp đối với giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa gồm những vai xã hội nào?
Chiến lược giao tiếp tuyệt đối hóa vai xã hội của giới nữ qua ba vai cơ bản:
- Vai Mẹ - Chiến sĩ, Mẹ - Tổ quốc;
- Vai Chúng con - Anh hùng;
- Vai Kẻ lầm đường, lạc lối.
5. Ba mô hình quy chiếu huyền thoại hóa hình tượng nữ giới trong hệ thống tu từ của luận án là gì?
Luận án chỉ ra ba mẫu gốc huyền thoại quy chiếu nhân vật nữ gồm:
- Bà Mẹ Xứ sở;
- Nữ anh hùng chiến trận;
- Người phụ nữ đa khổ, đa nạn được cứu rỗi.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh đã hệ thống hóa và giải mã cơ chế kiến tạo hình tượng người phụ nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ góc độ lý thuyết diễn ngôn. Bằng việc phân tích đa tầng từ chiến lược giao tiếp, trật tự diễn ngôn đến hệ thống tu từ biểu trưng và huyền thoại hóa, công trình làm sáng tỏ bản chất của một nền văn học vận hành theo mô hình diễn ngôn sáng thế và quy phạm vai xã hội. Kết quả nghiên cứu cung cấp một cách tiếp cận mang tính học thuật cao, góp phần bổ khuyết cho các nghiên cứu phản ánh luận truyền thống về lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX.