Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm ngôn từ nghệ thuật và hướng nghiên cứu tác giả văn học từ phương diện ngôn từ 1. Khái niệm ngôn từ nghệ thuật Để nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài, chúng tôi diễn giải nội hàm một số khái niệm có liên quan. Ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp và công cụ tư duy.
Ngôn ngữ nghệ thuật là chất liệu để tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Hiểu theo nghĩa rộng thì ngôn ngữ nghệ thuật là một loại tín hiệu trong hệ thống tín hiệu nghệ thuật để tác giả truyền đạt quan niệm về con người và cuộc sống. Mỗi loại hình nghệ thuật có ngôn ngữ riêng. Hội họa có ngôn ngữ là màu sắc, đường nét, hình khối.
Âm nhạc có ngôn ngữ là âm thanh, giai điệu, tiết tấu. Văn học là nghệ thuật ngôn từ bao gồm hệ thống từ ngữ và các biện pháp tu từ. Các nhà lý luận văn học đã khẳng định vai trò của từng loại ngôn ngữ trong các loại hình nghệ thuật khác nhau “Tính chất, đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật gắn liền với đặc điểm và khả năng nghệ thuật của chất liệu được dùng làm cơ sở cho nghệ thuật đó”[116, tr.92] đồng thời nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng cũng như những đặc điểm riêng biệt của ngôn ngữ văn học so với các loại hình nghệ thuật khác “văn học là nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ là phương tiện vật chất của văn học”[116, tr. Ngôn ngữ văn học Trong nghiên cứu văn học và nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu có quan niệm khác nhau về ngôn ngữ văn học.
Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan niệm ngôn ngữ văn học là “dạng thức đã được chỉnh lý của ngôn ngữ toàn dân, được những người dùng ngôn ngữ này coi là chuẩn mực, được dùng trong các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh truyền hình, nhà trường, sân khấu, khoa học, văn học (nghệ thuật ngôn từ)”[57, tr. Đây là cách hiểu ngôn ngữ văn học theo nghĩa rộng: ngôn ngữ được sử dụng trong toàn bộ các dạng thức văn bản dùng trong cuộc sống, chỉ được phân biệt với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày. Đa số các nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất quan niệm ngôn ngữ văn học theo nghĩa hẹp: “Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được 8 dùng trong văn học” [35, tr. Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ của nhân dân được chọn lọc, tinh luyện qua lao động nghệ thuật của nhà văn, là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn.
Ngôn ngữ văn học có các đặc điểm: chính xác, hàm súc, đa nghĩa, giàu tính tạo hình, giàu biểu cảm. Tùy từng thể loại mà ngôn ngữ văn học còn có các đặc điểm riêng như ngôn ngữ trong các tác phẩm văn xuôi, tác phẩm thơ, tác phẩm ký, tác phẩm kịch. Chúng tôi thấy quan niệm này đã hàm chứa ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ văn học: ngôn ngữ dùng trong văn học; ngôn ngữ của nhân dân được nâng cao qua sáng tạo của nhà văn; có đặc điểm riêng không giống ngôn ngữ khoa học và ngôn ngữ hành chính, ngôn ngữ của các ngành nghệ thuật khác. Nghiên cứu ngôn ngữ văn học của tác phẩm văn học hay tác giả văn học, không thể không dựa vào những yếu tố trên.
Lời văn nghệ thuật Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì lời văn nghệ thuật được quan niệm là “dạng phát ngôn được tổ chức một cách có nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học. Lời thơ, lời trần thuật, lời nhân vật, lời thoại trong kịch và các dạng của chúng đều là các bộ phận tạo thành lời văn nghệ thuật” [35, tr. Lời văn nghệ thuật có các đặc điểm như tính toàn vẹn, tính cụ thể, sinh động tính hình tượng, tính cố định, tính độc lập và tính thẩm mỹ khác với lời nói hàng ngày trong các hoạt động giao tiếp hay lời nói thuộc đối tượng trong nghiên cứu ngôn ngữ. Lời văn nghệ thuật được xây dựng theo cấu trúc hình tượng của tác phẩm, ý thức nghệ thuật, tư duy nghệ thuật nên có tính tổ chức cao.
Theo cách hiểu này, lời văn nghệ thuật là biểu hiện cụ thể của ngôn ngữ văn học trong tác phẩm. Ngôn từ nghệ thuật Thuật ngữ ngôn ngữ văn học, ngôn từ văn học có điểm gần gũi nên trong quá trình nghiên cứu văn học, đặc biệt khi nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ của tác giả văn học, người ta thường đồng nhất khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn từ nghệ thuật. Chúng tôi chọn và dùng khái niệm ngôn từ nghệ thuật với nghĩa “ngôn từ có tính văn học, có cách tổ chức, kết hợp đặc biệt để gây chú ý vào bản thân nó và do đó tăng cường hiệu quả biểu đạt nghệ thuật” [116, tr. Trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn thì “ngôn từ nghệ thuật là ngôn từ được sáng tạo nhằm mục đích nghệ thuật, gắn liền với việc sáng tạo hình tượng nghệ thuật” [116, tr.
Luận án cụ thể hóa khái niệm ngôn từ nghệ thuật ở các phương diện: 9 - Ngôn từ nghệ thuật là một hệ thống ngôn từ có tổ chức cao dựa trên nguyên tắc sử dụng tối đa chức năng thẩm mỹ của nó. - Ngôn từ nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nhà văn trên cơ sở ngôn ngữ tự nhiên. - Ngôn từ nghệ thuật là chất liệu quan trọng để sáng tạo hình tượng nghệ thuật, thể hiện cảm quan nghệ thuật của nhà văn. Theo chúng tôi nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật của nhà văn không tách biệt với lời văn nghệ thuật bởi những đặc điểm ngôn từ nghệ thuật luôn được biểu hiện trong lời văn nghệ thuật như lời trần thuật, lời nhân vật.
Điểm khác giữa nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật và lời văn nghệ thuật là chúng tôi tập trung đi sâu khảo sát các loại từ ngữ, phân tích giá trị của từ ngữ trong các tình huống cụ thể của tác phẩm, trong việc xây dựng hình tượng, thể hiện cảm quan nghệ thuật, quan niệm ngôn từ của tác giả. Việc phân tích đặc điểm ngôn từ, sự vận động của ngôn từ trong lời văn nghệ thuật (những cấu trúc đặc biệt của văn bản nghệ thuật) là bình diện thứ hai để làm rõ hơn chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, sáng tạo của nhà văn - nghệ sĩ ngôn từ. Hướng nghiên cứu tác giả văn học từ phương diện ngôn từ nghệ thuật Hướng nghiên cứu tác giả văn học từ phương diện ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn từ nghệ thuật đã trở thành phổ biến trong phê bình và giảng dạy văn học hiện nay. Các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học, nghiên cứu ngôn ngữ đã tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của các tác giả văn học ở các phương diện: ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn từ nghệ thuật, lời văn nghệ thuật…trong đó việc nghiên cứu ngôn từ trong sáng tác của các tác giả văn xuôi được chú trọng hơn.
Từ ngôn từ của cuộc sống đến ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn là một quá trình chuyển hóa mang tính sáng tạo cao, theo những quy luật riêng của sáng tạo nghệ thuật. Con đường đi từ ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác để hiểu tư tưởng của nhà văn, lý giải quan điểm nghệ thuật, khẳng định đóng góp của nhà văn đối với nền văn học dân tộc tưởng như quen mà vẫn lạ vì hiện nay, lý thuyết về ngôn ngữ đã có thêm những điểm mới như lý thuyết về diễn ngôn, về kiểu văn bản…, lý luận văn học cũng có những điểm mới về nghệ thuật tự sự, về loại hình văn học, thi pháp học… Hướng nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn từ nghệ thuật) của văn học nói chung, tác giả văn học nói riêng biểu hiện qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu như Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học của Nguyễn Lai; Ngôn ngữ thơ 10 Việt Nam của Hữu Đạt; Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh; Ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỷ XX của Nguyễn Văn Long…Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ văn học trên đã giải quyết được một số vấn đề: - Chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm thơ, truyện “khác với văn xuôi, thơ ca là thể loại chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm hồn con người” [14, tr.4]; phân biệt sự khác nhau của ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi qua sáng tác của một số tác giả trong văn học hiện đại [148, tr.48-80] - Phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa nội dung phản ánh (cái được biểu đạt) và hình thức ngôn ngữ (phương tiện biểu đạt) của tác phẩm văn học, giữa quan niệm nghệ thuật và hệ thống ngôn từ được nhà văn sử dụng “cái biểu đạt và cái được biểu đạt không thể tách rời trong cơ chế ngôn ngữ mà đồng thời nó còn là chiếc chìa khóa giúp ta mở rộng vấn đề sang lĩnh vực quá trình sáng tạo văn học”[136, tr. - Lý giải những thành công về ngôn ngữ xuất phát từ cá tính sáng tạo của nhà văn “Thành tựu về ngôn ngữ của văn xuôi hiện thực được kết tinh ở những phong cách đặc sắc như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng…Sự vận động của ngôn ngữ thơ mới theo chiều hướng từ lãng mạn đến tượng trưng và ít nhiều có dấu ấn siêu thực diễn ra không đơn giản mà có sự đan xen như ở Huy Cận, Bích Khê, Hàn Mặc Tử”[148, tr. - Lý giải những đổi mới của ngôn ngữ văn học từ sự đổi mới của văn học do tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, do sự thay đổi quan niệm thẩm mỹ, quan niệm nghệ thuật của nhà văn “sau 1975 và nhất là từ khi mở ra công cuộc đổi mới toàn diện trên đất nước ta, nền văn học Việt Nam đã có sự chuyển mình ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc mà trong đó sự đổi mới về ngôn ngữ văn học là một phương diện quan trọng.
Sự nhạt dần khuynh hướng sử thi cả trong văn xuôi và thơ đã làm thay đổi hệ hình ngôn ngữ ngôn ngữ văn học” [148, tr.