Luận án tiến sĩ: Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu

Phân tích ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu, khám phá phong cách độc đáo và nghệ thuật kể chuyện đặc sắc của hai nhà văn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý luận ngôn ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2007

231
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN

1.1. Ba lĩnh vực kết học, nghĩa học, ngữ dụng học và mối quan hệ của chúng

1.2. Ngôn ngữ kể chuyện. Ngôn ngữ nhân vật. Điểm nhìn nghệ thuật trong truyện

1.3. Quan điểm của M.Bakhtin và của Kate Hamburger về ngôn ngữ trong thể loại tiểu thuyết

2. CHƯƠNG 2: NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN KHẢI

2.1. Điểm nhìn trần thuật và ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải trước 1975

2.2. Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải giai đoạn sau 1975

2.3. Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thường. Ngôn ngữ đa thanh có tính đối thoại nội tại

3. CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

3.1. Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu giai đoạn trước 1975

3.2. Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau 1975

3.3. Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thường. Ngôn ngữ có tính đối thoại đa thanh - một chất liệu mới trong ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Minh Châu sau 1975

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ngôn ngữ kể chuyện

Ngôn ngữ kể chuyện là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong văn học, đặc biệt là trong các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu. Ngôn ngữ kể chuyện không chỉ là phương tiện truyền tải nội dung mà còn là công cụ thể hiện phong cách nghệ thuật của tác giả. Trong nghiên cứu này, ngôn ngữ được xem như một hệ thống tín hiệu giao tiếp, nơi mà các yếu tố như điểm nhìnphương thức tự sự đóng vai trò quyết định trong việc tạo nên giá trị thẩm mỹ của tác phẩm. Các nhà văn này đã sử dụng ngôn ngữ để phản ánh hiện thực xã hội, đồng thời thể hiện tâm tư, tình cảm của nhân vật một cách sâu sắc. Đặc biệt, trong bối cảnh lịch sử Việt Nam từ 1955 đến 1975, ngôn ngữ kể chuyện đã mang những đặc trưng riêng, phản ánh những biến động của thời đại.

1.1. Khái niệm ngôn ngữ kể chuyện

Khái niệm ngôn ngữ kể chuyện được định nghĩa là cách thức mà tác giả sử dụng ngôn ngữ để xây dựng câu chuyện. Điều này bao gồm việc lựa chọn từ ngữ, cấu trúc câu, và cách thức trình bày nội dung. Ngôn ngữ kể chuyện không chỉ đơn thuần là việc kể lại sự kiện mà còn là việc tạo ra một không gian nghệ thuật, nơi mà người đọc có thể cảm nhận được chiều sâu của nhân vật và bối cảnh. Các yếu tố như điểm nhìngiọng điệu cũng ảnh hưởng lớn đến cách mà câu chuyện được tiếp nhận. Việc phân tích ngôn ngữ kể chuyện trong các tác phẩm của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu sẽ giúp làm rõ hơn những đặc điểm nghệ thuật độc đáo của họ.

II. Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải

Nguyễn Khải là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam. Ngôn ngữ kể chuyện trong các tác phẩm của ông thể hiện sự nhạy bén với thực tại và khả năng phản ánh sâu sắc tâm tư của nhân vật. Ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Khải thường mang tính chất sinh hoạt đời thường, gần gũi với người đọc. Ông sử dụng điểm nhìn đa dạng, từ điểm nhìn toàn tri đến điểm nhìn của nhân vật, tạo nên sự phong phú trong cách kể. Đặc biệt, trong giai đoạn trước 1975, ngôn ngữ của ông thường mang tính chất chính trị, thể hiện tinh thần yêu nước và khát vọng tự do. Sau 1975, ngôn ngữ của Nguyễn Khải chuyển mình, phản ánh những biến đổi trong xã hội và tâm lý con người. Ông đã khéo léo kết hợp giữa ngôn ngữ đa thanhđối thoại nội tại, tạo nên một không gian nghệ thuật phong phú.

2.1. Điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện trước 1975

Trước 1975, ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Khải thường gắn liền với những sự kiện lịch sử và chính trị. Ông sử dụng điểm nhìn của người kể chuyện toàn tri để cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quát về bối cảnh xã hội. Ngôn ngữ trong các tác phẩm này thường mang tính chất mô tả, thể hiện rõ nét những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật. Các nhân vật trong truyện của ông thường phải đối mặt với những thử thách lớn lao, và ngôn ngữ kể chuyện trở thành cầu nối giữa nhân vật và người đọc. Điều này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về hoàn cảnh mà còn tạo ra sự đồng cảm với nhân vật.

III. Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu là một nhà văn nổi bật với phong cách viết độc đáo và sâu sắc. Ngôn ngữ kể chuyện trong các tác phẩm của ông thường mang tính triết lý, phản ánh những suy tư sâu sắc về cuộc sống và con người. Ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Minh Châu không chỉ đơn thuần là việc kể lại sự kiện mà còn là một cuộc đối thoại giữa tác giả và người đọc. Ông thường sử dụng điểm nhìn của nhân vật để tạo ra sự gần gũi và thân thuộc. Ngôn ngữ của ông có tính chất đa thanh, thể hiện sự phong phú trong cách diễn đạt và cảm xúc. Sau 1975, ngôn ngữ của Nguyễn Minh Châu trở nên phong phú hơn, phản ánh những biến đổi trong xã hội và tâm lý con người.

3.1. Ngôn ngữ kể chuyện sau 1975

Sau 1975, ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Minh Châu có sự chuyển mình mạnh mẽ. Ông bắt đầu khai thác những khía cạnh mới của cuộc sống, từ những mối quan hệ con người đến những vấn đề xã hội phức tạp. Ngôn ngữ kể chuyện của ông không chỉ đơn thuần là việc mô tả mà còn là một cách thể hiện những suy tư triết lý về cuộc sống. Ông sử dụng điểm nhìn của nhân vật để tạo ra sự đồng cảm và kết nối với người đọc. Ngôn ngữ của Nguyễn Minh Châu thường mang tính chất đối thoại, thể hiện sự đa dạng trong cách diễn đạt và cảm xúc. Điều này giúp cho tác phẩm của ông trở nên sống động và gần gũi hơn với người đọc.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cuộc thoại, ai hồi dap, ai két thic. ctng phan anh vi thế của SP\, SP». Bên cạnh đó, các hành vi ngôn ngữ, hành vi hội thoại, sự thể hiện phép lịch sự cũng phản ánh quan hệ vị thế. Người có quyền lực cao thường hay thản nhiên hay vô tình đe dọa thể diện người đối thoại.

Những dấu hiệu phi lời như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt và những dau hiệu kèm lời như cường độ âm lực, âm lượng, cũng góp phần phản ánh vị thế của các vai trong hội thoại. 20 Trong tác phẩm văn học, các nhà văn lại tạo ra những cuộc hội thoại lệch chuẩn, làm xuất hiện hàm ẩn: Ví dụ, trong truyện ngắn Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu) có cuộc hội thoại giữa lão Khúng và chủ tịch huyện Boi. Quan hệ giữa hai nhân vat nay là quan hệ tôn ti xã hội giữa một người có vị thế cao (chủ tịch huyện Boi) với một người có vị thế thấp - một người nông dân (lão Khúng). Trong cuộc thoại, lão Khúng liên tục làm mất thể diện của chủ tịch Boi và đe dọa thé diện của chủ tịch huyện: (14.) “- Công trường với lại công triếc, toàn một lũ ăn cắp! Ông chủ tịch huyện đã cảm thấy bị xúc phạm, da mặt đỏ gay, tuy vẫn cố kim giữ: - Sao thé?.

Có việc gì thé hả ông lão? - Toàn một lũ ăn cap. Ông coi, chúng nó tháo mắt của tôi cả một bộ díp - Lão Khúng càng cau mặt lại - Quân ăn cướp chứ không phải lũ ăn cắp nữa, cải quân công trường ấy! [147,Tr. b) Cầu trúc hội thoại Trong cuộc hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp, có các đơn vị từ lớn đến nhỏ như sau: cuộc hội thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi ngôn ngữ. Trong đó, ba đơn vị đầu có tính chất lưỡng thoại (do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoai), hai đơn vi sau có tính chất đơn thoại (do một người nói ra) (Theo Đỗ Hữu Châu) [19, Tr.

c) Dich hội thoại Dé tài của lời và dé tài diễn ngôn Đề tài của lời là hiện thực được một người nào đó nêu ra trong tham thoại của mình. Đề tài của lời được nâng cấp thành đề tài diễn ngôn nếu được nhân vật hội thoại hưởng ứng, nếu không chúng chỉ dừng lại ở cấp độ là đề của lời (Theo Đỗ Hữu Châu) [19, Tr. Vì vậy, đề tài diễn ngôn không phải do một nhân vật hội thoại quyết định mà là “cái gì đó” được các nhân vật hội thoại cùng cộng tác.) SPy: - Ai đấy? SP2: - Bà Bội! SP,: - A, lai bà Bội.14] Câu hỏi mà SP¡ đưa ra được SP; hưởng ứng, nên câu hỏi về một người nao đó đã trở thành đề tài diễn ngôn. Dich của hội thoại Đề tài là một hiện thực, một hành động hay một hành vi ngôn ngữ nào đó được nêu ra trong hội thoại.

Còn hướng phát triển, sự quan tâm và hứng thú, các kết luận mà các nhân vật hội thoại nhằm đi tới đối với đề tải là chủ đề của dé tài (Theo Đỗ Hữu Châu) [19, Tr. Một dé tài trong hội thoại nếu không có chủ đề, tức không có đích cũng không trở thành đề tài diễn ngôn. Đích của hội thoại là một căn cứ giúp xác định các hành vi ngôn ngữ được dẫn trong lời thoại của nhân vật. d) Lịch sự trong giao tiếp Phép lịch sự hay chính là quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân.Green, thì phép lịch sự là “những người tham gia hội thoại có thể chọn cách xử sự lịch sự, tránh cục can thô lỗ.

Họ còn có thé lựa chọn cách xử sự tuỳ thích không đếm xia đến tình cảm và nguyện vọng của người khác. Họ còn có thé dựa vào những hiểu biết của mình về các quy tắc lịch sự để tỏ ra cục can thô lỗ một cách cô ý” (dan theo Đỗ Hữu Châu) [19,Tr. Ý nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tường minh a) Ý nghĩa tường minh là ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ dem lại. Còn ý nghĩa hàm ẩn là ý nghĩa phải nhờ suy ý mới nắm bắt được.) Han mà làm được thì chó có váy lĩnh.

Câu trên có ý nghĩa hàm ân là han không thể làm được, vì chó không bao giờ được mặc váy lĩnh. b) Phân loạiý nghĩa hàm ẩn Dựa vào hai tiêu chí: bản chất của ý nghĩa hàm ân và chức năng của chúng, người ta phân loại ý nghĩa hàm an trong diễn ngôn thành bốn loại: hàm ngôn nghĩa học, hàm ngôn dụng học, tiền giả định nghĩa học và tiễn gid 22 định dụng học [19, Tr.364] c) Cơ chế tạo ra các yếu tổ hàm an không tự nhiên Theo Grice, ý nghĩa không tự nhiên (non nature maening) là ý nghĩa hàm ấn mà người nói có ý định thông báo cho người đối thoại biết, mặc dầu vì những lý do nào đó, không nói nó ra một cách tường minh. Để tạo ra ý nghĩa không tự nhiên, phải dựa vào tất cả các quy tắc ngữ dụng. Khi sử dụng ngôn ngữ, người nói cố ý vi phạm những quy tắc ấy và giả định người nghe ý thức được sự vi phạm đó.

Sự vi phạm quy tắc chiếu vật: Các từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú, phức tạp. Mỗi cặp từ xưng hô của SP; và SP; đều tiền giả định vi thế hội thoại nhất định. Sẽ xuất hiện ý nghĩa hàm ân không tự nhiên khi xuất hiện các cặp từ xưng hô không đúng vị thế giữa các nhân vật giao tiếp. Vi dụ: Trong truyện ngắn Nira đêm của Nam Cao, lúc tức giận, thì vợ Trương Đức gọi anh ta bằng may, xưng tao, nhưng khi hết giận, thì chị ta lại gọi cậu, xưng em.

450] Sử dụng các hành vi ngôn ngữ dé tạo ý nghĩa hàm an không tự nhiên Vi dụ: (17.) - Đi chết đâu mà di mãi thé?” Sao không chết dam chết giúi ở đâu cho rồi?! Còn về đây làm gì?” Còn vác mặt về đây làm gì?” [140,Tr.276|] Trong tham thoại trên, có bốn câu hỏi, cả bốn câu đều được dùng theo các hành vi ngôn ngữ gián tiếp. Với câu (1) và câu (2), thì người vợ đã vi phạm vào thé diện âm tính của người chồng: Di chết đâu ; chết dam chết giúi. Còn ở câu (3) và (4), thì lại vi phạm vào điều kiện chuẩn bị và điều kiện chân thành của hành vi hỏi. Sự vi phạm các quy tắc lập luận: Thường, những nhân vật tham gia hội thoại không hoàn thành tất cả các bước lập luận nhằm để tạo ra hàm ngôn.) Bay giờ thì đôi mi tim bam của nó đã phủ kín đôi mat nhắm.

Các thực từ được lựa chọn miêu tả: đổi mi tim bam, phi 23 kín đôi mắt nhắm đã đưa đến kết luận là: Thi, em gái của Lưu đã chết. Sự vi phạm các quy tắc hội thoại: Ví dụ: (19.) Bà đồ: - cậu muốn mua thứ gi? Cậu phán: - Cu có bán na thì chau mua! [140,Tr.341] Trong cặp trao đáp trên, câu trả lời của cậu phán đã vi phạm phương châm về chất, vì vào lúc cậu hỏi thì không phải là mùa na, nhưng bà đồ vẫn hiểu, bởi vì bà có cô con gái tên là Na. Trên đây là những vấn đề cốt yếu của ngữ dụng học. Tuy vậy, khi phân tích các hiện tượng ngôn ngữ của tác phâm văn học theo phương pháp ngữ dụng học, ta cần hiểu vai trò thống hợp của ngữ dụng học một cách linh hoạt, biện chứng.

Nghia là: “ngay trong kết hoc trong nghĩa học đã có sự chỉ phối của các quy tắc của ngữ dụng học và các quy tắc ngữ dụng học phải nương tựa vào các sự kiện, các quy tắc kết học mà biểu hiện, mà phát huy tác dung” [19, Tr. Ngôn ngữ kế chuyện. Mỗi tác phẩm văn hoc là một thông điệp mà nhà văn gửi tới người đọc. Nhà văn là “tiéu hóa công ”, là chủ thé sáng tạo của tác phâm nghệ thuật.

Tuy vậy, theo khung sơ đồ trần thuật J. Linvent dựng lên dựa theo tư tưởng của Schmid, thì tác giả chỉ là người chịu trách nhiệm sáng tạo ra các thành phần ngôn ngữ: ngôn ngữ người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật, còn ngôn ngữ tác giả lại không được thê hiện trực tiếp trong tác phẩm. Do đó, người kể chuyện và ngôn ngữ của người ké chuyện là các nhân tố đầu tiên cần khảo sát khi tim hiểu ngôn ngữ kể chuyện trong một tác phâm (Hình 1. Tác giả cụ thể Kể = Diễn ngôn của người trần thuật + Diễn ngôn của các vai Độc giả cụ thể Hình 1.1: Sơ đồ miêu tả các cấp độ trần thuật 24 J.

Linvent đã minh thị sơ đồ của mình như sau: “Kể - ld một hành vi tran thuật, và theo nghĩa rộng, là cả một tình thé hư cấu, bao gồm cả người tran thuật (narrateur) và người nghe ké (narrataire). Tôi hiểu sự kể là cdi văn ban tran thuật bao gồm không chỉ hành ngôn tran thuật do người trần thuật phát ngôn mà còn gồm cả những ngôn từ do các vai nói ra và những ngôn từ do người tran thuật trích dan. Ngôn ngữ người kể chuyện. Người ké chuyện (Narrator) Đỗ Hải Phong trong ” Vấn dé người kế chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại”, đã dan lời của Todorov về van đề người ké chuyện như sau: “Người kể chuyện là yếu tô tích cực trong việc kiến tạo thé giới tưởng tượng.

Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện ” [90,Tr. Trong tác phâm, người kề chuyện có thé xuất hiện trực tiếp mà cũng có thé không xuất hiện trực tiếp. Trường hợp xuất hiện trực tiếp, ta có người kể chuyện hiển ngôn xưng “toi” kể chuyện về mình hay về người khác. Nếu là người ké chuyện xưng “t6i” kế chuyện mình, thì anh ta thuộc vào cái thế giới được miêu tả của chuyện, anh ta tham gia vào hành động trong truyện.

Ví dụ, các truyện ngắn: Song ở doi, Một giọt nắng nhạt (Nguyễn Khải), Bức tranh, Co lau (Nguyễn Minh Châu). Khi không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm, ta có người ké chuyện hàm ẩn. Người kế chuyện hàm an không thuộc vào thế giới được miêu tả trong truyện, mà có khoảng cách xa, ở ngoài quan sát và kể lại câu chuyện của các nhân vật. + Người kể chuyện hàm 4n có thể là tác giả hàm ẩn trong trường hợp người kế chuyện toàn tri (omniscient).

Người kế chuyện đứng ngoài, đứng trên thé giới được trình bay dé quan sát, ké và bình luận, lý giải sự kiện, am tường mọi chuyện. + Người kê chuyện hàm ân có thé tựa vào điểm nhìn một nhân vật trong truyện dé kể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu" khám phá cách thức mà ngôn ngữ kể chuyện được sử dụng trong các tác phẩm của hai nhà văn nổi tiếng này. Tác giả phân tích các yếu tố ngôn ngữ, cấu trúc và phong cách kể chuyện, từ đó làm nổi bật sự độc đáo và chiều sâu trong cách thể hiện nhân vật và tình huống. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về nghệ thuật kể chuyện mà còn mở ra những góc nhìn mới về văn học Việt Nam hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ văn học và văn hóa việt nam dấu ấn hiện sinh trong truyện ngắn và tiểu thuyết nguyễn danh lam, nơi phân tích dấu ấn hiện sinh trong văn học. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ văn học và văn hóa việt nam văn xuôi của nguyễn trí dưới góc nhìn phê bình sinh thái sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn xuôi trong bối cảnh sinh thái. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ thơ việt nam hiện đại viết về biển đảo khảo sát qua một số tác giả tiêu biểu, giúp bạn hiểu rõ hơn về thơ ca hiện đại và các chủ đề nổi bật trong văn học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và văn học Việt Nam.