mở đầu cuộc thoại, ai hồi dap, ai két thic. ctng phan anh vi thế của SP\, SP». Bên cạnh đó, các hành vi ngôn ngữ, hành vi hội thoại, sự thể hiện phép lịch sự cũng phản ánh quan hệ vị thế. Người có quyền lực cao thường hay thản nhiên hay vô tình đe dọa thể diện người đối thoại.
Những dấu hiệu phi lời như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt và những dau hiệu kèm lời như cường độ âm lực, âm lượng, cũng góp phần phản ánh vị thế của các vai trong hội thoại. 20 Trong tác phẩm văn học, các nhà văn lại tạo ra những cuộc hội thoại lệch chuẩn, làm xuất hiện hàm ẩn: Ví dụ, trong truyện ngắn Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu) có cuộc hội thoại giữa lão Khúng và chủ tịch huyện Boi. Quan hệ giữa hai nhân vat nay là quan hệ tôn ti xã hội giữa một người có vị thế cao (chủ tịch huyện Boi) với một người có vị thế thấp - một người nông dân (lão Khúng). Trong cuộc thoại, lão Khúng liên tục làm mất thể diện của chủ tịch Boi và đe dọa thé diện của chủ tịch huyện: (14.) “- Công trường với lại công triếc, toàn một lũ ăn cắp! Ông chủ tịch huyện đã cảm thấy bị xúc phạm, da mặt đỏ gay, tuy vẫn cố kim giữ: - Sao thé?.
Có việc gì thé hả ông lão? - Toàn một lũ ăn cap. Ông coi, chúng nó tháo mắt của tôi cả một bộ díp - Lão Khúng càng cau mặt lại - Quân ăn cướp chứ không phải lũ ăn cắp nữa, cải quân công trường ấy! [147,Tr. b) Cầu trúc hội thoại Trong cuộc hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp, có các đơn vị từ lớn đến nhỏ như sau: cuộc hội thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành vi ngôn ngữ. Trong đó, ba đơn vị đầu có tính chất lưỡng thoại (do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoai), hai đơn vi sau có tính chất đơn thoại (do một người nói ra) (Theo Đỗ Hữu Châu) [19, Tr.
c) Dich hội thoại Dé tài của lời và dé tài diễn ngôn Đề tài của lời là hiện thực được một người nào đó nêu ra trong tham thoại của mình. Đề tài của lời được nâng cấp thành đề tài diễn ngôn nếu được nhân vật hội thoại hưởng ứng, nếu không chúng chỉ dừng lại ở cấp độ là đề của lời (Theo Đỗ Hữu Châu) [19, Tr. Vì vậy, đề tài diễn ngôn không phải do một nhân vật hội thoại quyết định mà là “cái gì đó” được các nhân vật hội thoại cùng cộng tác.) SPy: - Ai đấy? SP2: - Bà Bội! SP,: - A, lai bà Bội.14] Câu hỏi mà SP¡ đưa ra được SP; hưởng ứng, nên câu hỏi về một người nao đó đã trở thành đề tài diễn ngôn. Dich của hội thoại Đề tài là một hiện thực, một hành động hay một hành vi ngôn ngữ nào đó được nêu ra trong hội thoại.
Còn hướng phát triển, sự quan tâm và hứng thú, các kết luận mà các nhân vật hội thoại nhằm đi tới đối với đề tải là chủ đề của dé tài (Theo Đỗ Hữu Châu) [19, Tr. Một dé tài trong hội thoại nếu không có chủ đề, tức không có đích cũng không trở thành đề tài diễn ngôn. Đích của hội thoại là một căn cứ giúp xác định các hành vi ngôn ngữ được dẫn trong lời thoại của nhân vật. d) Lịch sự trong giao tiếp Phép lịch sự hay chính là quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân.Green, thì phép lịch sự là “những người tham gia hội thoại có thể chọn cách xử sự lịch sự, tránh cục can thô lỗ.
Họ còn có thé lựa chọn cách xử sự tuỳ thích không đếm xia đến tình cảm và nguyện vọng của người khác. Họ còn có thé dựa vào những hiểu biết của mình về các quy tắc lịch sự để tỏ ra cục can thô lỗ một cách cô ý” (dan theo Đỗ Hữu Châu) [19,Tr. Ý nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tường minh a) Ý nghĩa tường minh là ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ dem lại. Còn ý nghĩa hàm ẩn là ý nghĩa phải nhờ suy ý mới nắm bắt được.) Han mà làm được thì chó có váy lĩnh.
Câu trên có ý nghĩa hàm ân là han không thể làm được, vì chó không bao giờ được mặc váy lĩnh. b) Phân loạiý nghĩa hàm ẩn Dựa vào hai tiêu chí: bản chất của ý nghĩa hàm ân và chức năng của chúng, người ta phân loại ý nghĩa hàm an trong diễn ngôn thành bốn loại: hàm ngôn nghĩa học, hàm ngôn dụng học, tiền giả định nghĩa học và tiễn gid 22 định dụng học [19, Tr.364] c) Cơ chế tạo ra các yếu tổ hàm an không tự nhiên Theo Grice, ý nghĩa không tự nhiên (non nature maening) là ý nghĩa hàm ấn mà người nói có ý định thông báo cho người đối thoại biết, mặc dầu vì những lý do nào đó, không nói nó ra một cách tường minh. Để tạo ra ý nghĩa không tự nhiên, phải dựa vào tất cả các quy tắc ngữ dụng. Khi sử dụng ngôn ngữ, người nói cố ý vi phạm những quy tắc ấy và giả định người nghe ý thức được sự vi phạm đó.
Sự vi phạm quy tắc chiếu vật: Các từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú, phức tạp. Mỗi cặp từ xưng hô của SP; và SP; đều tiền giả định vi thế hội thoại nhất định. Sẽ xuất hiện ý nghĩa hàm ân không tự nhiên khi xuất hiện các cặp từ xưng hô không đúng vị thế giữa các nhân vật giao tiếp. Vi dụ: Trong truyện ngắn Nira đêm của Nam Cao, lúc tức giận, thì vợ Trương Đức gọi anh ta bằng may, xưng tao, nhưng khi hết giận, thì chị ta lại gọi cậu, xưng em.
450] Sử dụng các hành vi ngôn ngữ dé tạo ý nghĩa hàm an không tự nhiên Vi dụ: (17.) - Đi chết đâu mà di mãi thé?” Sao không chết dam chết giúi ở đâu cho rồi?! Còn về đây làm gì?” Còn vác mặt về đây làm gì?” [140,Tr.276|] Trong tham thoại trên, có bốn câu hỏi, cả bốn câu đều được dùng theo các hành vi ngôn ngữ gián tiếp. Với câu (1) và câu (2), thì người vợ đã vi phạm vào thé diện âm tính của người chồng: Di chết đâu ; chết dam chết giúi. Còn ở câu (3) và (4), thì lại vi phạm vào điều kiện chuẩn bị và điều kiện chân thành của hành vi hỏi. Sự vi phạm các quy tắc lập luận: Thường, những nhân vật tham gia hội thoại không hoàn thành tất cả các bước lập luận nhằm để tạo ra hàm ngôn.) Bay giờ thì đôi mi tim bam của nó đã phủ kín đôi mat nhắm.
Các thực từ được lựa chọn miêu tả: đổi mi tim bam, phi 23 kín đôi mắt nhắm đã đưa đến kết luận là: Thi, em gái của Lưu đã chết. Sự vi phạm các quy tắc hội thoại: Ví dụ: (19.) Bà đồ: - cậu muốn mua thứ gi? Cậu phán: - Cu có bán na thì chau mua! [140,Tr.341] Trong cặp trao đáp trên, câu trả lời của cậu phán đã vi phạm phương châm về chất, vì vào lúc cậu hỏi thì không phải là mùa na, nhưng bà đồ vẫn hiểu, bởi vì bà có cô con gái tên là Na. Trên đây là những vấn đề cốt yếu của ngữ dụng học. Tuy vậy, khi phân tích các hiện tượng ngôn ngữ của tác phâm văn học theo phương pháp ngữ dụng học, ta cần hiểu vai trò thống hợp của ngữ dụng học một cách linh hoạt, biện chứng.
Nghia là: “ngay trong kết hoc trong nghĩa học đã có sự chỉ phối của các quy tắc của ngữ dụng học và các quy tắc ngữ dụng học phải nương tựa vào các sự kiện, các quy tắc kết học mà biểu hiện, mà phát huy tác dung” [19, Tr. Ngôn ngữ kế chuyện. Mỗi tác phẩm văn hoc là một thông điệp mà nhà văn gửi tới người đọc. Nhà văn là “tiéu hóa công ”, là chủ thé sáng tạo của tác phâm nghệ thuật.
Tuy vậy, theo khung sơ đồ trần thuật J. Linvent dựng lên dựa theo tư tưởng của Schmid, thì tác giả chỉ là người chịu trách nhiệm sáng tạo ra các thành phần ngôn ngữ: ngôn ngữ người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật, còn ngôn ngữ tác giả lại không được thê hiện trực tiếp trong tác phẩm. Do đó, người kể chuyện và ngôn ngữ của người ké chuyện là các nhân tố đầu tiên cần khảo sát khi tim hiểu ngôn ngữ kể chuyện trong một tác phâm (Hình 1. Tác giả cụ thể Kể = Diễn ngôn của người trần thuật + Diễn ngôn của các vai Độc giả cụ thể Hình 1.1: Sơ đồ miêu tả các cấp độ trần thuật 24 J.
Linvent đã minh thị sơ đồ của mình như sau: “Kể - ld một hành vi tran thuật, và theo nghĩa rộng, là cả một tình thé hư cấu, bao gồm cả người tran thuật (narrateur) và người nghe ké (narrataire). Tôi hiểu sự kể là cdi văn ban tran thuật bao gồm không chỉ hành ngôn tran thuật do người trần thuật phát ngôn mà còn gồm cả những ngôn từ do các vai nói ra và những ngôn từ do người tran thuật trích dan. Ngôn ngữ người kể chuyện. Người ké chuyện (Narrator) Đỗ Hải Phong trong ” Vấn dé người kế chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại”, đã dan lời của Todorov về van đề người ké chuyện như sau: “Người kể chuyện là yếu tô tích cực trong việc kiến tạo thé giới tưởng tượng.
Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện ” [90,Tr. Trong tác phâm, người kề chuyện có thé xuất hiện trực tiếp mà cũng có thé không xuất hiện trực tiếp. Trường hợp xuất hiện trực tiếp, ta có người kể chuyện hiển ngôn xưng “toi” kể chuyện về mình hay về người khác. Nếu là người ké chuyện xưng “t6i” kế chuyện mình, thì anh ta thuộc vào cái thế giới được miêu tả của chuyện, anh ta tham gia vào hành động trong truyện.
Ví dụ, các truyện ngắn: Song ở doi, Một giọt nắng nhạt (Nguyễn Khải), Bức tranh, Co lau (Nguyễn Minh Châu). Khi không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm, ta có người ké chuyện hàm ẩn. Người kế chuyện hàm an không thuộc vào thế giới được miêu tả trong truyện, mà có khoảng cách xa, ở ngoài quan sát và kể lại câu chuyện của các nhân vật. + Người kể chuyện hàm 4n có thể là tác giả hàm ẩn trong trường hợp người kế chuyện toàn tri (omniscient).
Người kế chuyện đứng ngoài, đứng trên thé giới được trình bay dé quan sát, ké và bình luận, lý giải sự kiện, am tường mọi chuyện. + Người kê chuyện hàm ân có thé tựa vào điểm nhìn một nhân vật trong truyện dé kể.