CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐÈ TÀI 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐÈ TÀI Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất dâu tằm tơ nói riêng giống đóng vai trò cực kỳ quan trọng ước tính khoảng 40 - 60% mức tăng năng suất là nhờ việc đưa vào sản xuất những giống tốt mới, vì một số biện pháp kỹ thuật canh tác như mật độ trồng, bón phân, tưới tiêu, đốn hái, phòng trừ sâu bệnh. thì cũng chỉ lảm tăng năng suất lá dâu tới một giới hạn nảo đó. Sau đó dù có tăng lượng phân bón, phòng trừ sâu bệnh tốt.
thì năng suất dâu cũng không thê tăng lên được nữa vì khả năng đồng hoá của cây đã đạt đến mức tối đa của nó. Do đó để vượt qua ngưỡng năng suất đó chỉ có một cách duy nhất là thay đổi giống mới, nghĩa là đi mới thành phan gen dé tạo ra một tiềm năng năng suất mới. Trong lĩnh vực sản xuất dâu tằm thì giống dâu lại đóng vai trò rất quan trọng, bởi lá dâu là thức ăn duy nhất của tằm dâu - một loại côn trùng đơn thực. Một trong những mục tiêu chọn tạo giống dâu mới hiện nay là chọn tạo giống dâu có năng suất và phẩm chất lá cao.
Giống dâu muốn có sản lượng lá cao phải có nhiều cành, cành dải, đốt ngắn, tỷ lệ nảy mầm cao, sinh trưởng mạnh, mầm sinh trưởng nhiều. Lá to trung bình nhưng dày, hoa quả ít. Chất lượng lá dâu tốt là thành phần dinh dưỡng trong lá cao và phù hợp với yêu cầu sinh trưởng phát dục của con tằm để thu sản lượng kén cao, tỷ lệ tơ nõn nhiều (Đỗ Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995). Trồng dau la dé lay lá nuôi tam, năng suất chất lượng lá dâu không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức sống tằm, chất lượng tơ kén mà còn ảnh hưởng tới chất lượng trứng giống tằm (Hà Văn Phúc, Ngô Xuân bái, 1989).
Qua các kết quả nghiên cứu cho thây chất dinh dưỡng trong lá dâu có ý nghĩa quyết định đến sự sinh trưởng phát triển của con tằm. Trong quá trình phát dục của con tằm ở các thời kỳ phát dục khác nhau con tằm cũng yêu cầu các chất đinh dưỡng khác nhau. Thời kỳ tằm con yêu cầu lá đâu non, mềm, hàm lượng nước nhiều, nhưng ở thời kỳ tằm lớn nó yêu cầu lá dâu có chất lượng dinh đưỡng cao hơn. Vì thế người ta đã chọn ra giống dâu chuyên đùng cho tằm con, tằm lớn riêng biệt (Lê Quang Tú, 2015).
Một con tằm từ khi nở ra khỏi vỏ trứng đến khi chín nó ăn hết khoảng 21 gam lá dâu (Đỗ Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995). Trong đó 40% lượng lá dâu này qua tiêu hoá dùng để cung cấp cho hoạt động sinh trưởng của con tằm cho hình thành sợi tơ của kén và hoạt động sống của con nhộng, ngài. Vì thế sinh trưởng, phát dục của con tằm chịu ảnh hưởng rất lớn vào tính chất vật lý và hoá học của lá dâu (Đỗ Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995). Theo kết quả của nhà nghiên cứu Nhat Ban Anoymous (Tojyo Isao, 1996) thi hàm lượng protein mà con tằm hấp thu được từ ngày thứ 3 của tuôi 5 trở về trước chủ yếu sử dụng để cấu tạo nên các bộ phận của cơ thể và tăng cường thể chất, nhưng từ ngày thứ 4 trở về sau chủ yếu là để cấu tạo nên tuyến tơ và hơn 70% protein trong thành phần sợi tơ được tông hợp trực tiếp trong lá dâu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khi cho tằm ăn đơn thuần 1 giống dâu và hỗn hợp nhiều giống dâu thì thấy tằm ăn hỗn hợp của 4 loại lá đâu khác nhau đã cho năng suất kén tăng 19,09%, ngài đẻ trứng hữu hiệu tăng 10,58%, số trứng đẻ/ỗ tăng 16% so với chỉ cho tằm ăn 1 loại lá dâu (Hoàng Thị Lợi, Lê Thị Kim, 1986). Như vậy khẳng định hàm lượng dinh dưỡng của các giống dâu khác nhau là rất khác nhau và bổ sung cho nhau khi hỗn hợp nhiều loại giống với nhau cho tằm ăn. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong cùng một giống dâu, lá có độ thành thục khác nhau thì thành phần dinh đưỡng trong lá cũng khác nhau. Cho tằm ăn lá dâu có độ thành thục không phủ hợp với tuổi tằm (quá non hoặc quá già) ngoài việc làm giảm năng suất kén, năng suất và chất lượng trứng giống so với cho tằm ăn lá dâu đúng tuổi nó còn làm tăng tỷ lệ ô trứng không hưu miên từ 15-22%.
Do lá dâu non có hàm lượng chất đạm tổng số cao nhưng hàm lượng các chất béo và tỉnh bột thấp (Nguyễn Thị Đảm và CS, 2008). Như vậy có thê khẳng định: Chất lượng lá dâu không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của tằm mà cỏn liên quan đến chất lượng tơ kén, trứng giống và đặc biệt là thê hệ kế tiếp của tằm. Mặt khác điều kiện khí hậu ở Lâm Đồng chia làm 2 mùa rõ rệt. Ở mùa khô thời tiết thích hợp cho nuôi tằm nhưng sản lượng lá dâu lại ít.
Còn ở mùa mưa ẩm độ cao nuôi tằm dễ bị bệnh thì sản lượng lá dâu lại chiếm trên 65% (Đố Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995). Cho nên mục tiêu hiện nay trong sản xuất là giảm lá dâu ở mùa mưa. Để giải quyết được mục tiêu này ngoài kỹ thuật đốn, chăm sóc, thì việc chọn tạo giống dâu cho năng suất lá nhiều ở mùa khô có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết. PHAN BO, PHAN LOAI VA YEU CAU SINH THAI CAY DAU 1.
Phân bố và phân loại cây dâu Tác giả Watt (1873) cho rằng cây đâu có nguồn gốc từ Trung Quốc hoặc Ấn Độ, chúng mọc ở sườn núi dãy Hymalaya (Jolly, M. Con theo nhà thực vật học người Nga, N.I Vavilov thì cây dâu phat sinh tại vùng trung tâm Trung Quốc, Nhật Bản (Mallikarjunappa RS and Bongale UD, 1992). Nghề trồng dâu nuôi tằm đã xuất hiện ở Trung Quốc vào khoảng năm 2800 trước công nguyên (Tổng Thị Sen, 2014); (Hiệp hội Dâu tằm tơ Việt Nam, 2003), (Zheng Ting-zing, Tan Yun-fang, 1988). Cay dau cé tính thích ứng rất rộng: từ vùng ôn đới đến cận nhiệt đới và nhiệt đới, từ đồng bằng màu mỡ đến những ving khé can, từ vùng đất thấp đến tận những vùng núi cao và từ vùng ẩm ướt đến bán sa mac (Yu Jian Jun, Luo Guo Qing, 2011); (Interrational Sericultural commision (2016).
Theo két qua diéu tra cua Hiép héi To tam thé gidi, cay dau được phân bố từ 5000 vĩ bắc và kéo dài đến 1000 vĩ nam (Hoàng Thị Lợi, Lê Thị Kim, 1986); (Zhen-si-zhi 1987); (Sen Guo-Xing Chai Xiao-ling, 1998); (Sun xiaoxia, Pan Y Le, Zhang mei Bo, 2012). Trong hệ thống phân loại thực vật chính thức được công nhận, cây dâu thuộc: Ngành: thực vật (Spermatophyta); Lớp (class): cay hat kin (Angiospermae); Lớp phụ (subclass): hai lá mam (dicotyledoneace); Bộ (order): gai (Urticales); Ho (family): dau (Moraceae); Chi (genus): déu tam (Morus); Loai (species): alba, multicaulis, rubra, Indica, nigra,. Hiện nay có khoảng 68 loài dâu thuộc chi Morus, phần lớn chúng phân bố ở châu Á và bắt nguồn từ 4 loài chinh: Morus alba, M. Hiện nay tại Việt Nam có trên 150 giống dâu, chủ yếu thuộc các loài M.
Nam 1885, Hoocker đã nghiên cứu mô ta về đặc tính thực vật của cây dâu và cho rằng cây dâu có lá mọc cách, xẻ thuỳ hoặc không xẻ thuỳ, hoa đơn tính đồng chu hoặc di chu (Zhu Fang Rong, Hu Le Shan, Lin Qiang, 2005); (Đỗ Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995). Năm 1917 - 1923, Koidzumi dựa vào chiều đài vòi nhụy và đặc điểm núm nhuy (Ullal. Hotta (1938) phan loai cay dâu thành 2 nhóm dựa vào hình dạng và hoạt động của nang kén trong lá, tuy nhiên năm 1954 ông phân loại đâu như Koidzumi và chia các loại đựa vào đặc điểm của thân lá. Yêu cầu sinh thái của cây dâu 1.
Nhiệt độ Nhiệt độ là một trong những nhân tố sinh thái quan trọng đối với cây trồng nói chung và cây đâu nói riêng. Đối với cây dâu, nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất có ảnh hưởng, quan hệ mật thiết với sinh trưởng và phát triển. Cây dâu nảy mầm và sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ thích hợp tir 24 - 32°C (Ren De Zhu, 2010); (Đỗ Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995). Sự Sinh trưởng của cây dâu nhanh hay chậm tùy thuộc vào nhiệt độ cao hay thấp.
Khi nhiệt độ không khí tăng trén 12°C thì cây dâu bắt đầu nảy mầm, khi nhiệt độ quá cao cây ngừng sinh trưởng, đặc biệt nhiệt độ không khí trên 40%C dẫn đến một số bộ phân của cây dâu bị chết. Nhiệt độ thích hợp cho cây dâu sinh trưởng là 24 - 289C, đưới 13°C va trén 39°C cay dâu sẽ hạn chế sự nảy mầm và sinh trưởng (Yw Ren Fu, Luo Guo Qing, 2009); (Mallikarjunappa RS and Bongale UD, 1992). Trong một năm, sự sinh trưởng phát triển của rễ dâu thay đổi theo mùa, rễ bắt đầu hoạt động khi nhiệt độ bề mặt đất (xung quanh 30 cm) trên 5°C và ngược lại rễ ngừng hoạt động khi dưới 50C. Cây ra rễ mới khi nhiệt độ khoảng 100C và cây có thé hút dinh dưỡng khi nhiệt độ khoảng 250C.
Các nhà khoa học Ấn Độ cho rằng điều kiện tối ưu cho nảy mầm và sinh trưởng phải từ 139C trở lên, trên 37,72C cây ngừng sinh trưởng và nhiệt độ thích hợp từ 23,9 - 26,ó%C (Zheng Ting-zing, Tan Yun-fang, 1988). Nhitng giéng dau mdi chon tạo hiện nay có ban lá to cho nên mức độ bị hại do nhiệt độ cao sẽ nặng hơn so với những giống dâu cũ, giống địa phương có lá nhỏ (Đỗ Thị Châm, Hà Văn Phúc, 1995). Ánh sáng Dâu là loại cây trồng ưa ánh sáng, năng suất chất lượng lá có quan hệ mật thiết với điều kiện chiếu sáng. Số giờ chiếu sáng 10 - 12 giờ/ngày là tốt nhất.
Đối tượng thu hoạch của cây đâu là lá dâu mà 90 - 95% chất khô trong lá dâu là sản phẩm của quang hợp nên ánh sáng có liên quan chặt chẽ với năng suất và chất lượng lá dâu. Trong điều kiện chiếu sáng đầy đủ, cây dâu sinh trưởng tốt, cành khoẻ và mập, lá dày, có màu xanh đậm, năng suất và chất lượng lá cao. Ngược lại trong điều kiện chiếu sáng không đầy đủ thì cành nhánh thường mềm, lá mỏng, màu xanh nhạt, hàm lượng nước trong lá cao, chất khô giảm, dinh dưỡng trong lá thấp (6 30°C với ngày nắng cường độ quang hợp của cây dâu la 2mg chat kh6/100cm? 1a 1gid, ngày trời râm cường độ quang hợp chỉ bằng 50% ngày nắng còn ngày mưa chỉ bằng 30% .