Chương 1 NHUNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NUÔI CON NUÔI 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NUÔI CON NUÔI 1. Khái niệm con nuôi Khái niệm con nuôi có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong phạm vi của luận án, khái niệm con nuôi được xem xét dưới góc độ xã hội, sinh học và pháp luật.
Khái niệm con nuôi dưới góc độ xã hội Trong mối quan hệ giữa con người với con người, danh từ “con” chỉ “người ở cương vị đối với cha mẹ” [112, tr. Khái niệm con gắn liền với khái niệm cha, mẹ. Không thể có con nếu không có cha, mẹ. Về mặt xã hội nói chung, “con nuôi” có thể được hiểu như sau: “Con không phải do cha, mẹ sinh ra nhưng được cha, mẹ nuôi như con de” [16, tr.
Khái niệm con nuôi được định nghĩa đầy đủ hơn như sau: “Con nuôi (con trai, con gái) không do vợ, chồng trong một gia đình sinh ra, mà do nhận con của người khác về nuôi dưỡng, xem như con đẻ. Con nuôi được hưởng mọi quyền lợi và có nghĩa vụ đối với bố mẹ nuôi như con de” (113, tr. Định nghĩa trên thể hiện nội hàm của khái niệm con nuôi dưới góc độ xã hội học, chứa đựng những dấu hiệu cơ bản sau: Thứ nhất, con nuôi là người không phải do người đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sinh ra, giữa hai bên không có quan hệ sinh thành ra nhau. Thứ hai, là người được một người hoặc hai người là vợ chồng nhận làm con.
Thứ ba, hai bên có quan hệ cha mẹ và con với nhau. Dưới góc độ xã hội, việc nhận một người nào đó làm con nuôi trước hết tuỳ thuộc vào ý chí chủ động của người nhận nuôi. Ý chí đó có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau và thể hiện rất đa dạng. Đó có thể là tình thương yêu, thông cảm, lòng nhân ái của người nhận nuôi đối với con nuôi, nhưng cũng có thể là sự lợi dung con nuôi vào những mục đích khác.
Là một quan hệ xã hội, người được nhận làm con nuôi có thể là bất cứ ai, có thể là con trai hoặc con gái, không phụ thuộc vào độ tuổi, nhưng không do người nhận nuôi sinh ra. Trong thực tế, người được nhận làm con nuôi thường là trẻ em. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay, người con nuôi có thể là người đã thành niên trong trường hợp làm con nuôi người già yếu cô đơn. Mặc dù hiện tượng này không xảy ra nhiều, nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường, người già yếu sống cô đơn, không có người chăm sóc có xu hướng tăng lên, trong khi đó tuổi thọ của họ lại cao hơn.
Đối với những người này, nếu được người đã thành niên nhận làm cha mẹ nuôi để chăm sóc, nuôi dưỡng trong tình cảm cha mẹ và con là một điều tốt đẹp đối với mỗi cá nhân cũng như xã hội. Đây là một quan hệ xã hội cần được khuyến khích thực hiện vì nó thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội phức tạp, nảy sinh trong điều kiện kinh tế thị trường. Đối với những trường hợp này, việc nhận nuôi con nuôi là vì lợi ích của người nhận nuôi. Về mặt xã hội, con nuôi có thể có các dạng: con nuôi thực tế, con nuôi trên danh nghĩa và con nuôi có đăng ký [3, tr.
Đây cũng là quan điểm chung về cách phân loại và đánh giá qua hoạt động quản lý và thống kê hộ tịch trong lĩnh vực nuôi con nuôi [1 17, tr. Trong quan hệ xã hội, con nuôi có thể được nhận dưới nhiều hình thức khác nhau, bao hàm cả con nuôi được công nhận về mặt pháp lý hoặc không được công nhận về pháp lý, nhằm thoả mãn những nhu cầu tình cảm hoặc lợi ích nhất định của cá nhân. Con nuôi trên danh nghĩa là con nuôi được nhận trên cơ sở sự thoả thuận miệng giữa hai gia đình có mối quan hệ gắn bó, thể hiện tình cảm thân thiết giữa hai gia đình mà không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Con nuôi không sống chung với cha mẹ nuôi mà vẫn sống cùng với cha mẹ đẻ [117, tr.
Trong đời sống xã hội, việc nhận con nuôi hay cha mẹ nuôi trên danh nghĩa có ý nghĩa, giá tri nhất định đối với con người, phù hợp với đạo đức, tình cảm của họ mà không bị ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ cụ thể, nên thường được cá nhân lựa chọn. Tuy nhiên, đây là một quan hệ xã hội thuần tuý, mà không phải là quan hệ pháp lý. Về con nuôi thực tế, có quan điểm cho rằng: con nuôi thực tế cũng giống như con nuôi trên danh nghĩa, là sự thoả thuận miệng giữa hai gia đình về việc nuôi con nuôi mà không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, (có một số ít trường hợp có văn bản viết tay giữa hai gia đình) [3, tr. Quan niệm về con nuôi thực tế như vậy chưa thật chính xác.
Theo chúng tôi, con nuôi thực tế là người được nhận làm con trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện của việc nHôi con nHôi, giữa người nuôi và người được nhận nuôi đã thực hiện đây đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau, nhưng không đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Con nuôi thực tế khác con nuôi trên danh nghĩa ở những điểm sau: Thứ nhất, con nuôi trên danh nghĩa là một quan hệ xã hội, không phải là một quan hệ pháp luật, không được pháp luật điều chỉnh. Ngược lại, con nuôi thực tế là một hiện tượng xã hội có thể được pháp luật điều chỉnh khi có những điều kiện nhất định, trong giai đoạn nhất định. Thứ hai, con nuôi trên danh nghĩa không đòi hỏi phải tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi, nhưng con nuôi thực tế chỉ có thể được công nhận có giá trị pháp lý khi tuân thủ đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi nhưng không đăng ký nuôi con nuôi.
Thứ ba, con nuôi trên danh nghĩa không tồn tại quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, nhưng trong quan hệ con nuôi thực tế hai bên đã thực sự chung sống với nhau và thực hiện đây đủ các quyền va nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau. Thứ tư, con nuôi trên danh nghĩa không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, nhưng đối với con nuôi thực tế thì giữa cha mẹ nuôi và con nuôi vẫn có quyền và nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ và con 10 theo luật định (khi được công nhận). Như vậy, về mặt xã hội, con nuôi là con của người khác nhưng được một người hoặc hai người là vợ chồng nhận làm con và coi như con đẻ, nhằm thoả mãn những nhu câu, lợi ích nhất định của các bên. Khát niệm con nuôi dưới góc độ sinh học Dưới góc độ khoa học, quan hệ cha mẹ và con được hình thành trên cơ sở sinh đẻ, trong đó có sự di truyền gen từ thế hệ cha mẹ sang thế hệ con cái một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, nhằm đảm bảo sự kế tục nòi giống, phù hợp với quy luật tự nhiên của quá trình tái sản xuất.
Do đó, con đẻ, về nguyên tắc, bao giờ cũng mang huyết thống và gen di truyền của cha mẹ, do cha mẹ truyền lại và do cha mẹ sinh ra. Ngược lại, con nuôi không có quan hệ huyết thống trực hệ với cha mẹ nuôi và không mang gen di truyền của cha mẹ nuôi. Trong một số trường hợp, người được nhận làm con nuôi có thể có quan hệ huyết thống với người nhận nuôi, như chú nhận cháu làm con nuôi, nhưng giữa họ không thể có quan hệ sinh thành ra nhau. Nếu có quan hệ sinh thành ra nhau thì sẽ làm phát sinh quan hệ giữa những người cùng huyết thống về trực hệ, đó là quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con, quan hệ giữa ông bà và cháu, mà không còn là quan hệ nuôi con nuôi nữa.
Do đó, về nguyên tắc, một người không thể nhận con đẻ của mình (ngoài giá thú) làm con nuôi, cũng như ông bà không thể nhận cháu ruột trực hệ của mình làm con nuôi. Về thực chất, việc nhận nuôi con nuôi không liên quan gì đến quá trình phát triển tự nhiên về mặt sinh học của việc thụ thai, mang thai và sinh con. Trong khi đó, về nguyên tắc, sự hình thành quan hệ cha mẹ và con bằng việc sinh đẻ tuân theo quy luật tự nhiên của quá trình di truyền nòi giống, qua đó gen của thế hệ cha mẹ được truyền lại cho thế hệ con cái một cách trực tiếp. Từ gens đồng nghĩa với những từ khác như genos theo tiếng Hy-lạp, từ gan của người A-ri-en.
đều có nghĩa là sinh đẻ, huyết tộc, dòng họ [79, tr. 1] Ban chất của việc sinh con gan liền với su di truyền noi giống, gắn liền với huyết thống. Ngược lại, việc nhận nuôi con nuôi là sự thể hiện ý chí, mong muốn của con người, mà không liên quan gì đến huyết thống sinh học. Hiện nay vấn đề thụ thai và sinh con đã có những thay đổi đáng kể.
Việc thụ thai nhân tạo và thụ thai trong ống nghiệm đã được thực hiện thành công. Việc xác định quan hệ cha mẹ cho con theo huyết thống sinh học không đặt ra đối với các trường hợp con được sinh ra do áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Điều 21 Nghị định 12/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/2/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học, gọi tắt là Nghị định 12/CP). Có quan điểm cho rằng, “trong trường hợp cả vợ và chồng đều không có khả năng có con, phải nhận phôi người khác thì có lẽ cần phải xem đây là một dang con nuôi đặc biệt” [35]. Theo chúng tôi, quan niệm trong trường hợp này, đứa trẻ sinh ra là con nuôi là chưa chính xác, vì người mẹ đó đã tự mình thực hiện hành vi mang thai và sinh con, điều mà trong việc nhận nuôi con nuôi không thể có.
Trong quá trình mang thai và sinh con, cha mẹ của đứa trẻ, đặc biệt là người mẹ phải trải nghiệm tất cả những sự biến đổi về tâm - sinh lý của cơ thể phù hợp với sự phát triển của thai nhi.