Luận án tiến sĩ luật học chế định ủy ban thường vụ quốc hội việt nam lý luận và thực tiễn

Luận án tiến sĩ luật học phân tích chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam từ góc độ lý luận và thực tiễn, đóng góp giá trị học thuật.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

198
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2. Các công trình nghiên cứu lý luận về chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội ở Việt Nam

1.3. Đánh giá tổng quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề mà Luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.4. Những vấn đề đã làm sáng tỏ và được Luận án kế thừa và tiếp tục phát triển

1.5. Những vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc chưa được giải quyết thấu đáo cần tiếp tục nghiên cứu

1.6. Những vấn đề được tiếp tục nghiên cứu trong Luận án

1.7. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

1.8. Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu của Luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM

2.1. Cơ sở hình thành và phát triển của chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội ở Việt Nam

2.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội ở Việt Nam

2.2.1. Khái niệm chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội

2.2.2. Đặc điểm chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội

2.2.3. Nội dung chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội

2.3. Chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội trong các bản Hiến pháp

2.3.1. Chế định Ban thường vụ Nghị viện trong Hiến pháp năm 1946

2.3.2. Chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội trong Hiến pháp năm 1959

2.3.3. Chế định Hội đồng Nhà nước trong Hiến pháp năm 1980

2.3.4. Chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội trong Hiến pháp năm 1992

2.3.5. Chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013

2.4. Chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội ở Liên Xô, Trung Quốc và một số tham chiếu với Việt Nam

2.5. Địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỊNH ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Thực trạng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội

3.2. Việc tổ chức chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội

3.3. Về hoạt động lập pháp

3.4. Về hoạt động giám sát

3.5. Việc xem xét, quyết định tổ chức bộ máy, nhân sự và các vấn đề quan trọng

3.6. Việc chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

3.7. Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

3.8. Một số nhiệm vụ khác

3.9. Thực trạng tổ chức, phương thức hoạt động, chế độ làm việc và quan hệ công tác của Ủy ban thường vụ Quốc hội

3.9.1. Cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động và chế độ làm việc

3.9.2. Các phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội

3.9.3. Sự lãnh đạo của Đảng và mối quan hệ công tác với các cơ quan, tổ chức hữu quan

3.10. Nguyên nhân, bài học kinh nghiệm

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHẾ ĐỊNH ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

4.1. Quan điểm đổi mới chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội

4.1.1. Đổi mới nhận thức về chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội

4.1.2. Đổi mới chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội cần thực hiện từng bước, có lộ trình và điều kiện bảo đảm

4.1.3. Đổi mới cần gắn với việc xây dựng môi trường dân chủ và pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội

4.2. Các giải pháp đổi mới chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội

4.2.1. Thu hẹp và tiến tới loại bỏ một số thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội

4.2.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, chế độ làm việc và các mảng hoạt động chính của Ủy ban thường vụ Quốc hội

4.2.3. Tiếp tục hoàn thiện quy trình, thủ tục làm việc của Ủy ban thường vụ Quốc hội

4.2.4. Đổi mới các cơ quan giúp việc của Ủy ban thường vụ Quốc hội

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này tập trung vào việc đánh giá tình hình nghiên cứu về chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) ở Việt Nam. Từ Hiến pháp 1959, chế định này đã được xác lập nhưng chưa được nghiên cứu một cách độc lập và hệ thống. Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến UBTVQH, nhưng chủ yếu trong khuôn khổ nghiên cứu về Quốc hội và tổ chức quyền lực nhà nước. Các công trình như của Trần Ngọc Đường và Ngô Đức Mạnh đã chỉ ra vai trò và chức năng của UBTVQH trong bối cảnh Quốc hội không chuyên nghiệp. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn về chế định này để đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về chế định UBTVQH

Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng UBTVQH đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường không đi sâu vào các khía cạnh lý luận của chế định này. Các tác giả như Đào Trí Úc đã nhấn mạnh rằng để Quốc hội hoạt động hiệu quả, cần phải đảm bảo tính chất đại diện của UBTVQH. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một cái nhìn tổng thể và hệ thống về chế định này trong bối cảnh hiện đại.

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu hiện tại

Tình hình nghiên cứu hiện tại cho thấy có nhiều khoảng trống cần được lấp đầy. Các công trình nghiên cứu chưa đủ sâu sắc để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến UBTVQH. Việc thiếu các nghiên cứu độc lập về chế định này đã dẫn đến những hạn chế trong việc hiểu rõ vai trò và chức năng của UBTVQH trong hệ thống chính trị Việt Nam. Do đó, cần có những nghiên cứu tiếp theo để làm rõ hơn về chế định này.

II. Cơ sở lý luận về chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội ở Việt Nam

Chương này phân tích các khái niệm, đặc điểm và nội dung của chế định UBTVQH. UBTVQH được hình thành từ nhu cầu thực tiễn của Quốc hội trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Chế định này có những đặc điểm riêng biệt, như là cơ quan thường trực của Quốc hội, có nhiệm vụ thực hiện các quyền hạn theo sự ủy quyền của Quốc hội. Nội dung của chế định này bao gồm các quyền hạn trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của nhà nước, như tình trạng chiến tranh và các chính sách đối ngoại. Điều này cho thấy UBTVQH không chỉ là một cơ quan hành chính mà còn có vai trò quan trọng trong việc định hình chính sách của nhà nước.

2.1. Khái niệm và đặc điểm của UBTVQH

Khái niệm về UBTVQH được xác định rõ ràng trong các văn bản pháp lý. Đặc điểm của UBTVQH là cơ quan thường trực, có khả năng quyết định nhiều vấn đề quan trọng giữa các kỳ họp của Quốc hội. Điều này cho phép UBTVQH hoạt động linh hoạt và hiệu quả hơn trong việc thực thi quyền lực nhà nước. Sự cần thiết của chế định này được thể hiện qua vai trò của nó trong việc đảm bảo sự liên tục trong hoạt động của Quốc hội.

2.2. Nội dung và quyền hạn của UBTVQH

Nội dung của chế định UBTVQH bao gồm nhiều quyền hạn quan trọng, từ việc quyết định các vấn đề về chính trị đến việc giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. UBTVQH có quyền xem xét và quyết định các báo cáo của Chính phủ, cũng như tham gia vào quá trình lập pháp. Điều này cho thấy UBTVQH không chỉ là một cơ quan hành chính mà còn là một phần quan trọng trong việc thực hiện quyền lực nhà nước.

III. Thực trạng chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội ở Việt Nam hiện nay

Chương này đánh giá thực trạng hoạt động của UBTVQH trong bối cảnh hiện nay. Việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của UBTVQH đã gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc tổ chức các kỳ họp và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. Sự phối hợp giữa UBTVQHQuốc hội cũng cần được cải thiện để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động. Các vấn đề như sự thiếu chuyên nghiệp và không thường xuyên trong hoạt động của Quốc hội đã ảnh hưởng đến hiệu quả của UBTVQH.

3.1. Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của UBTVQH

Thực trạng cho thấy UBTVQH đã thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Việc tổ chức các kỳ họp và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước cần được cải thiện. Sự thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động của Quốc hội đã ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nhiệm vụ của UBTVQH. Cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.

3.2. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động của UBTVQH chủ yếu đến từ sự thiếu hụt về nguồn lực và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan. Bài học kinh nghiệm từ các nước khác cho thấy việc cải cách tổ chức và hoạt động của UBTVQH là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế hiện tại và đảm bảo UBTVQH thực hiện tốt vai trò của mình.

IV. Quan điểm giải pháp đổi mới chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Chương này đề xuất các quan điểm và giải pháp đổi mới chế định UBTVQH. Việc đổi mới cần được thực hiện từng bước, có lộ trình và điều kiện bảo đảm. Cần gắn đổi mới với việc xây dựng môi trường dân chủ và pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của UBTVQH. Các giải pháp như thu hẹp quyền hạn của UBTVQH và cải thiện phương thức lãnh đạo cũng cần được xem xét để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.

4.1. Quan điểm đổi mới chế định UBTVQH

Quan điểm đổi mới chế định UBTVQH cần phải phù hợp với định hướng xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền. Cần có sự thay đổi trong nhận thức về vai trò của UBTVQH để đảm bảo rằng cơ quan này thực hiện đúng chức năng của mình trong bối cảnh hiện đại. Việc đổi mới cần gắn liền với việc nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong hoạt động của Quốc hội.

4.2. Giải pháp đổi mới chế định UBTVQH

Các giải pháp đổi mới chế định UBTVQH bao gồm việc thu hẹp quyền hạn của cơ quan này và cải thiện phương thức lãnh đạo. Cần có những quy định rõ ràng về nhiệm vụ và quyền hạn của UBTVQH để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động. Việc cải cách tổ chức và hoạt động của UBTVQH là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU LIEN QUAN DEN DE TAI LUAN AN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến dé tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu lý luận về chế định Uy ban thường vụ Quốc hội ở Việt Nam Có thé khang định rang, từ Hiến pháp 1959 khi chế định UBTVQH chính thức được xác lập cho đến nay, chế định này hầu như chưa được nghiên cứu một cách độc lập va hệ thống trong khoa học tô chức nhà nước và khoa học pháp lý ở Việt Nam. Có khá nhiều công trình khoa học có đề cập đến chế định UBTVQH, nhưng chu yếu được thực hiện trong khuôn khổ nghiên cứu về Quốc hội và tô chức quyền lực nhà nước.

Trong số đó, đáng lưu ý có các công trình sau: Trần Ngọc Đường, “Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” [12]: Đề tài nghiên cứu nội dung rộng, bao gồm cơ sở lý luận của việc đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong NNPQ XHCN Việt Nam; đánh giá thực trạng và đưa ra các yêu cầu cũng như xây dựng mô hình Quốc hội, Chính phủ đến năm 2010 và các năm tiếp theo. Trong Phần I, Chương 2 (lý luận), Đề tài dành một phần nghiên cứu vi trí va chỉ ra thuộc tính đại diện của Quốc hội, vai trò đại diện Quốc hội trong hệ thống tô chức quyền lực chính trị và tổ chức quyền lực nhà nước trong NNPQ XHCN Việt Nam; vi trí, chức năng, vai trò của UBTVQH trong điều kiện khuôn khổ của một Quốc hội không chuyên nghiệp, không thường xuyên ở Việt Nam. Ngô Đức Mạnh, “Cơ sở lý luận và thực tiên về vị trí, vai trò, nhiệm vu, quyên hạn của Quốc hội trong bộ may nhà nước và hệ thống chính trị Việt Nam (qua bốn bản Hiến pháp)” [29]: Đề tài khảo sát cụ thé, logic về quá trình hình thành và phát triển của Quốc hội Việt Nam qua bốn bản Hiến pháp. Trong phần lý luận, đề tài có một số phân tích khái quát về vai trò, chức năng, vị trí của UBTVQH, trên cơ sở đó tập trung phân tích làm rõ các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và UBTVQH.

Cuốn “M6 hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Đào Trí Úc [52], tập trung vào nghiên cứu tổ chức va hoạt động của nhà nước Việt Nam, trong đó khẳng định Quốc hội có một vai trò, vị trí quan trọng trong BMNN. Tuy không phân tích sâu về UBTVQH, công trình nêu ra nhận định là để Quốc hội hoạt động hiệu quả trong NNPQ XHCN, cần phải đảm bảo tính chất đại diện của Quốc hội theo hình thức thường xuyên, chuyên nghiệp. Đây là việc làm cấp thiết và quan trong, là điều kiện dé thực thi quyền lực Nhân dân qua hình thức dân chủ gián tiếp. Cách tiếp cận này gợi mở những đổi mới về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBTVQH.

Cuốn “Chức năng đại diện của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyên” của VPQH [69] đã tập hợp II bài viết của các tác giả trong và ngoài nước tham gia hội thảo cùng tên năm 2007. Một số bài viết gián tiếp thảo luận về quan điểm về sự ủy quyền của nhân dân cho UBTVQH theo Hiến pháp dé bảo đảm cho Quốc hội thực hiện đầy đủ các quyền hạn và trách nhiệm của mình. Đây là một trong nhiều góc nhìn về tính đại diện Quốc hội ở Việt Nam và về mô hình UBTVQH của Việt Nam trong điều kiện Quốc hội hoạt động không chuyên nghiệp, không thường xuyên. Cuốn “Tổ chức và hoạt động cua Nghị viện một số nước trên thé giới” của Nguyễn Sĩ Dũng [75] tập trung nghiên cứu chuyên sâu về Nghị viện các nước trên thế giới, tập trung vào chức năng, thâm quyền, cơ cấu tô chức, quy trình thủ tục hoạt động và bộ máy giúp việc Nghị viện.

Liên quan đến chủ đề nghiên cứu của Luận án, cuốn sách này cho thấy mô hình cơ quan thường trực của Nghị viện không tồn tại trong các hệ thống Nghị viện hoạt động chuyên nghiệp, thường xuyên. Luận án Phó Tiến sĩ Luật học: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan đại diện ở nước ta hiện nay” của Chu Van Thành [45] tập trung nghiên cứu tô chức và hoạt động của hệ thống co quan đại diện (trung ương và địa phương) ở nước ta trong giai đoạn 1946 - 1992. Luận án khăng định dân chủ đại diện là phương thức chủ yếu và quan trọng dé thực hiện dân chủ XHCN ở Việt Nam. Luận án xác định việc đổi mới cơ quan đại diện (Quốc hội) hiện nay là bước quá độ nhằm chuyên Quốc hội sang hoạt động thường xuyên.

Điều đó được thể hiện qua việc đổi mới UBTVQH và các cơ quan khác của Quốc hội theo hướng hoạt động thường xuyên và kéo dài thời gian làm việc mỗi kỳ họp của Quốc hội. Nhóm bài viết về Quốc hội và UBTVQH ở Việt Nam đăng trên các tạp chí như: “Quốc hội Việt Nam - những van dé chuyển sang Nghị viện” của Nguyễn Cảnh Hợp [22, tr. 15-17]; “Bàn về tinh đại diện nhân dân của Quốc hội” của Nguyễn Quang Minh [32, tr. 69-78]; “Để mãi mãi xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân” của Nguyễn Văn An [1]; “Các mô hình Quốc hội” của Nguyễn Dang Dung [4, tr.

25-34]; “Phát huy vai trò đại diện nhân dân của đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp” của Trần Ngọc Đường [13, tr. 7-9]; “Tiêu chi và yếu tố bảo đảm hiệu quả tính đại diện của Quốc hội” của Vũ Văn Nhiêm [33, tr. 22-31]; “Dân chủ đại diện và van dé bau cứ” của Trần Nho Thìn [47, tr. 23-25]; “Một vài kiến nghị về pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội hiện nay” của Đoàn Thị Bạch Liên [24, tr.

Những công trình này cũng đề cập một cách khái quát đến vị trí, vai 10 trò, chức năng, hoạt động của UBTVQH trong bối cảnh đổi mới Quốc hội, xây dựng NNPQ nhằm hướng đến việc bảo đảm Quốc hội là co quan đại biểu cao nhất của nhân dân và nâng cao tính chuyên nghiệp của Quốc hội. Đặc biệt, đã có một số nghiên cứu riêng về chế định UBTVQH hoặc một số khía cạnh, vấn đề về chế định UBTVQH ở Việt Nam, tiêu biểu trong số đó có thể kể như sau: Mai Thị Mai, “Những vấn dé đặt ra đối với hoạt động cua Uy ban thường vu Quốc hội trong một Quốc hội chuyên nghiệp” [28, tr. 20-25]: Day là một trong những bai báo hiếm hoi phân tích trực tiếp những van dé lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động của UBTVQH trong bối cảnh xây dựng Quốc hội chuyên nghiệp. Theo bài viết, việc tồn tại UBTVQH ở Việt Nam từ xưa đến nay là do Quốc hội không hoạt động thường xuyên, nên phải thành lập một cơ quan mang tính chất thường trực cho Quốc hội.

Về nguồn gốc, sự ton tại của thiết chế này là sự học tập khía cạnh lý luận của mô hình Liên bang Cộng hoà XHCN X6-viét, trong đó UBTVQH được trao nhiều quyền hạn, hoạt động với tư cách vừa là cơ quan giúp việc của Quốc hội, vừa là một cơ quan độc lập. Tran Ngọc Đường, “7c trạng và nhu cau giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam” [15, tr. 3-7]: bài viết cho rằng trong cơ chế phân công quyền lực nha nước ở nước ta, theo Hiến pháp năm 2013, vẫn tiếp tục quy định chỉ UBTVQH có thẩm quyên giải thích chính thức Hién pháp, luật, pháp lệnh là không hợp lý, bởi theo kinh nghiệm của các nước dân chủ, pháp quyền thì Toà án tối cao là cơ quan chính thức giải thích Hiến pháp, luật. Đồng thời, việc giải thích Hiến pháp gắn liền với việc bảo vệ Hiến pháp, vì thế cần phải giao việc giải thích Hiến pháp cho một cơ quan bảo hiến chuyên trách.

Báo cáo nghiên cứu “Hoàn thiện pháp luật về hoat động chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội" [72]: Báo cáo đã phân tích làm rõ một số van dé lý luận về hoạt động chat van giữa hai kỳ họp Quốc hội, bao gồm: 11 về quyền chất vấn của ĐBQH; vai trò của UBTVQH đối với hoạt động chất van của ĐBQH; mục đích, ý nghĩa của hoạt động chat vấn tại phiên hop của UBTVQH. Báo cáo cho rằng nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động chất van tại phiên họp của UBTVQH cho thấy về cơ bản, việc UBTVQH tổ chức hoạt động nay là phù hợp với những nguyên lý cơ bản và điều kiện tô chức và hoạt động của Quốc hội nước ta, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về việc tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH. Tóm lại, có thé thay răng, các công trình nghiên cứu nói trên đã dé cập đến vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH trên một số khía cạnh cụ thể, nhưng còn sơ sài và thiếu tính hệ thống. Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn là những tư liệu tham khảo có giá trị cho luận án.

Các công trình nghiên cứu về thực trạng chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội ở Việt Nam Cũng như các nghiên cứu về lý luận, các nghiên cứu về thực trạng chế định UBTVQH chủ yếu lồng ghép trong những nghiên cứu chung về thực trạng Quốc hội. Có thé kế đến một số công trình tiêu biểu sau: Bài viết của Lê Minh Thông (2001), “Những bước đổi mới Quốc hội trong lịch sử lập hiến Việt Nam và vấn dé tăng cường tổ chức, hoạt động của Quốc hội ở nước ta hiện nay” [48, tr. 32-40] đã nhắn mạnh, sự hội nhập quốc tế và các van đề toàn cầu hoá đòi hỏi Quốc hội phải thường xuyên xử lý hàng loạt vẫn đề của đất nước trong quá trình hợp tác quốc tế, cũng như các vấn đề hợp tác của Quốc hội với Nghị viện các nước và tô chức quốc tế, mà vốn là các thiết chế quyền lực hoạt động thường xuyên. Tính chất thường xuyên của Quốc hội, nếu được thực hiện tat yếu sẽ kéo theo nhu cầu phải cơ cấu lại quan hệ giữa Quốc hội, UBTVQH và các Uỷ ban của Quốc hội.

Bởi lẽ, một khi Quốc hội chuyển sang chế độ hoạt động thường xuyên thì tính chất thường 12 trực của UBTVQH cần phải được nghiên cứu lại theo hướng giảm dần sự uỷ quyền của Quốc hội cho UBTVQH trong một số lĩnh vực hoạt động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận Án Tiến Sĩ Luật Học: Chế Định Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Việt Nam - Lý Luận Và Thực Tiễn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và chức năng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tác giả phân tích các khía cạnh lý luận và thực tiễn, từ đó làm rõ những thách thức và cơ hội mà cơ quan này đang đối mặt. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của Ủy ban Thường vụ mà còn mở ra những vấn đề pháp lý liên quan, từ đó nâng cao nhận thức về vai trò của nó trong việc xây dựng và thực thi pháp luật.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Luận án tiến sĩ luật học thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở việt nam hiện nay, nơi bàn về quy trình hành chính và vai trò của các cơ quan nhà nước. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ luật học lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về trách nhiệm pháp lý trong các giao dịch dân sự. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ luật học hợp đồng hợp tác thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các hợp đồng hợp tác và những vấn đề pháp lý liên quan. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực luật học tại Việt Nam.