Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI LUẬN ÁN Số lượng công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án tương đối phong phú, mỗi công trình có hướng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu cũng như cách tiếp cận và phạm vi riêng, tác giả luận án chọn cách tiếp cận theo nội dung dé phân chia các công trình phục vụ mục đích khảo cứu. Những công trình liên quan đến đề tài luận án 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh té tư nhân Nỗi bật trong nhóm tác phâm nghiên cứu về tư nhân hóa, về KTTN có các công trình như: "Privatization and development: Insights from a holistic approach with special reference to the case of Jordan" [254]; "The United Kingdom "Privatization in Developing Countries: What Are the Lessons of Recent Experience?" [259]; "The Privatization of the Fixed-Line Telecommunications Operator in OECD, Latin America, Asia, and Africa: One Size Does Not Fit All" [255]. Xem xét các bang chứng thực nghiệm về quá trình tư nhân hóa ở các nước đang phát triển, hai tác giả Saul Estrin và Adeline Pelletier đưa ra cái nhìn so sánh về tốc độ tư nhân hóa qua các giai đoạn.
Theo như hai ông thì những năm 80 - 90 của thế kỷ XX, quá trình này diễn ra khá chậm chạp và chỉ đạt tốc độ cao vào những năm 2000 - đó cũng là một trong những cơ sở quan trọng thúc đây kinh tế các nước này có những bước tăng trưởng nhanh chóng. Saul Estrin va Adeline Pelletier cũng lưu ý rằng, các quốc gia tư nhân hóa thành công đã phát triển cơ sở hạ tầng của họ thông qua việc tạo ra các cau trúc thé chế phù hợp. Đồng quan điểm, Gasmi và cộng sự nhấn mạnh thêm rang, chính cấu trúc thé chế phù hợp trên nền tảng tư nhân hóa đã nâng cao hiệu quả chính sách cơ sở hạ tầng và độ phủ của mạng lưới tăng lên nhờ vào nguồn vốn bồ sung khi tư nhân hóa và phát triển KTTN. Nghiên cứu về KTTN và chuyên đổi sang KTTN ở một số nước trên thé giới, nhằm rút kinh nghiệm cho Việt Nam là một đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm.
10 Một trong những quốc gia được nhiều nhà khoa học tập trung khảo cứu về cải cách kinh tế, chuyên đổi một bộ phận nền kinh tế sang KTTN là Trung Quốc, có lẽ bởi Trung Quốc là một quốc gia có nhiều nét tương đồng về thể chế kinh tế với Việt Nam. Tiêu biểu là các công trình như: “Kinh nghiệm của Trung Quốc trong cải cách va phát triển kinh tế" [252]; “Phát triển khu vực kinh tế tư nhân kinh nghiệm Trung Quốc và bai học cho Việt Nam” [1]; “Vai trò khu vực kinh tế tr nhân trong nên kinh tế Trung Quốc” [131]; “Phát triển kinh tế tư nhân ở Trung Quốc” [182]; “Những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân ở Trung Quốc hiện nay” [15]; “Đảng Cộng sản Trung Quốc với việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân” [121]. Sự phong phú về số lượng công trình cho thấy các nhà nghiên cứu có hứng thú to lớn trong khảo cứu về quá trình hình thành, phát triển, các đặc điểm của KTTN ở Trung Quốc, để từ đó có thể gạn chắt ra những kinh nghiệm phù hợp, khuyến cáo áp dụng cho Việt Nam. Điểm chung của hau hết các công trình này là đều tập trung sự chú ý vào quá trình chuyên đổi của nền kinh tế Trung Quốc dẫn đến sự cho phép phát triển không ngừng lớn mạnh của KTTN.
Tuy nhiên, ở mỗi công trình, các tác giả cũng có những cách tiếp cận khác nhau và những phát hiện mới đa dạng. Nếu như tác giả Vân Anh trong bài viết “Phát triển khu vực kinh tế tư nhân - kinh nghiệm Trung Quốc và bài học cho Việt Nam” nhìn nhận toàn bộ sự phát triển KTTN ở Trung Quốc trên quan điểm một khu vực kinh tế đặt trong so sánh với khu vực kinh tế Nhà nước dé từ đó chat lọc các kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam, thì tác giả Nguyễn Kim Bảo với công trình “Những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tr nhân ở Trung Quốc hiện nay” đơn thuần quan tâm tới những chính sách mang tính động lực mà Nhà nước Trung Quốc dé ra nhằm tạo thuận lợi cả về môi trường kinh tế và môi trường pháp lý cho sự phát triển KTTN ở Trung Quốc. Đi vào một vấn đề cụ thể là vấn đề Đảng viên được làm KTTN, qua khảo cứu của mình “Đảng Cộng sản Trung Quốc với việc cho phép đảng viên làm kinh tế tự nhân”, tác giả Hoài Nam đã chỉ ra quá trình vượt qua những rào cản trong nhận thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc để đi đến các quyết sách cho phép Đảng viên 11 tham gia làm kinh tế. Theo Hoài Nam, thông qua những quy định cụ thé, khá chặt chẽ, việc Đảng Cộng sản Trung Quốc cho phép Đảng viên làm kinh tế chắng những cho thấy những thay đổi mang tính đột phá trong lãnh đạo kinh tế của bản thân Đảng Cộng sản Trung Quốc, mà điều đó còn tạo ra một cú hích quan trọng cho KTTN Trung Quốc phát triển, vì nó đã tận dụng được tiềm năng của một bộ phận tinh hoa trong xã hội.
Cùng viết về KTTN ngoài Việt Nam, một số tác giả khác quan tâm đến các nền kinh tế chuyên đôi. Tiêu biêu như các công trình: “Kinh tế tư nhân trong giai đoạn toàn câu hóa” [253]; “Kinh té tu nhân trong một s6 nén kinh té chuyền đổi Dong Au” [162]; “Kinh tế tư nhân ở một số nên kinh tế chuyển đổi những năm qua” [L76]; “Vai trò cua kinh tế tư nhân ở các quốc gia có nên kinh tế chuyển doi” [120]. Trên cơ sở tập trung làm rõ những đặc điểm của nền kinh tế chuyền đổi, các thuận lợi, khó khăn của các nền kinh tế này, các tác giả Nguyễn Văn Tâm, Đinh Thi Thơm. đều đề cập và phân tích vai trò quan trọng của KTTN trong sự chuyên đổi của các nền kinh tế ấy.
Mặc dù tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau về nền kinh tế chuyển đối (diện rộng như tác giả Phan Hữu Nhật Minh, Định Thị Thơm; hoặc hẹp hơn như Phan Văn Tâm), song có thê nói các tác giả đều có chung quan điểm về vị trí không thé phủ nhận của KTTN trong quá trình chuyên đổi nền kinh tế. Theo các tác giả thì nếu như không tạo điều kiện cho KTTN phát triển, thì các nền kinh tế đang chuyên đổi khó lòng chuyên đổi thành công. Nghiên cứu về KTTN Việt Nam có hàng loạt các công trình như: "Aspects of Private Sector Developmentin Vietnam" [260] "The State an Private Sector in Vietnam" [256]; "Vietnam Private Sector: Productivity and Prosperity" [257],. Tap trung vao su phat triển của khu vực KTTN ở Việt Nam, tác giả Katarina Hakkala phân tích mối quan hệ giữa nhà nước và khu vực tư nhân; đặc biệt quan tâm thảo luận về hai khía cạnh trong vai trò của Nhà nước Việt Nam đối với KTTN: 1- Vai trò của Nhà nước với tư cách là nhà hoạch định chính sách; 2- Vai trò của Nhà nước với tư cách là một tác nhân trong các lĩnh vực sản xuất, đưới vỏ bọc của các DNNN.
Theo như nghiên cứu của Katariina Hakkala thì ở Việt Nam, trong một 12 thời gian dai, thuật ngữ “khu vực KTTN” và “DNVVN” thường được đồng nhất với nhau bởi nó thuận tiện về mặt chính trị cho những người có tư tưởng cải cách khi đưa ra các chính sách về thúc đây DNVVN hơn phát triển hơn là thúc đây KTTN phát triển. Điều đó cho thấy Nhà nước van còn e dé, chưa hoàn toàn cởi mở đối với việc thừa nhận giá trị của KTTN. Tuy nhiên, Katariina Hakkala cũng đưa ra kết luận rằng, cùng với thời gian, mối quan hệ giữa khu vực KTTN và khu vực kinh tế Nhà nước cũng được dan dan cải thiện. Đánh giá cao vai trò của KTTN trong sự phát triển của kinh tế Việt Nam, Le Duy Binh không chỉ tiếp cận KTTN với vai trò là động lực của nền kinh tế, mà còn tiếp cận thành phần kinh tế này với tư cách là một đòn bẩy quan trọng gan với những tiễn bộ trong lĩnh vực giới và sự tiến bộ của phụ nữ.
Theo đánh giá của Le Duy Binh, với khả năng tạo việc làm và nguồn thu nhập, KTTN đã nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và trong cộng đồng, giúp phụ nữ tăng cường quyền tự chủ của họ trong việc ra quyết định. Le Duy Binh cũng đưa ra các khuyến nghị và giải pháp phát triển KTTN gắn với vấn đề giới; đồng thời, coi việc khai thác tiềm năng của kinh tế hộ gia đình không chỉ là biện pháp phù hợp nhất dé thúc day KTTN phát triển mà con là những đóng góp thiết thực cho bình đăng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Ngoài các công trình nêu trên, viết về KTTN Việt Nam, đặt nó trong bức tranh tổng thé của nền kinh tế có các nghiên cứu sau: “Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân - Lý luận và chính sách” [150]; “Giải pháp huy động vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn nước ngoài đối với phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam” [176]; “Phát triển kinh tế nhiều thành phan ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn” [123]; “Kinh tế tư nhân Việt Nam sau 2 thập kỉ đổi mới - thực trạng và những van dé đặt ra” [181]; “Sự vận động, phát triển cua kinh tế tư nhân trong nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [16T]; “Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay” [169]; “Effect of Public Investment on Private Investment and Economic Growth: Evidence From Vietnam by Economic Industries” [258]. 13 Trong nhóm công trình trên, làm rõ một số những vấn đề lý luận liên quan đến KTTN có các tác giả Hà Huy Thành, Lê Hữu Nghĩa, Đinh Văn Ân.
Các tác giả không chỉ làm sáng tỏ những khái niệm công cụ, các khung lý thuyết liên quan đến thành phan, lĩnh vực KTTN, ma còn phân tích quá trình nhận thức, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về phát triển KTTN - đó đồng thời cũng là đóng góp quan trọng của các tác giả trong các nghiên cứu của mình. Trong sự khác biệt với các tác giả Hà Huy Thành, Lê Hữu Nghia, Dinh Văn Ân, các nhà nghiên cứu Đinh Thị Thơm, Mai Tết, Nguyễn Văn Tuất, Đặng Danh Lợi lại quan tâm tới khía cạnh thực tiễn của phát triển KTTN ở Việt Nam đặt nó trong quá trình đổi mới và gắn nó với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.