Tổng quan luận án

Công trình Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm 2015 là luận án tiến sĩ lịch sử thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 03 15), do nghiên cứu sinh Vũ Thị Yến thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa và TS. Phạm Thị Lương Diệu.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản nêu rõ kinh tế tư nhân là một trong những thành phần kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Sau mốc khởi xướng đổi mới năm 1986, kinh tế tư nhân tại Việt Nam từng bước thoát khỏi những rào cản hành chính và khẳng định vị trí trong đời sống kinh tế - xã hội. Bắc Ninh là địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trên hai hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Từ khi tái lập tỉnh vào ngày 01 tháng 01 năm 1997, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã kế thừa các chủ trương của Tỉnh ủy Hà Bắc, vận dụng đường lối của Trung ương để lãnh đạo khu vực kinh tế tư nhân đạt nhiều bước chuyển biến về quy mô và năng lực sản xuất. Tuy nhiên, quá trình lãnh đạo cũng bộc lộ những hạn chế trong việc cụ thể hóa đường lối vào thực tiễn địa phương, dẫn tới những rào cản khiến kinh tế tư nhân chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Thực tiễn này đòi hỏi phải có công trình khoa học đánh giá toàn diện, khách quan về hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua các thời kỳ để đúc rút các bài học kinh nghiệm.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong việc phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm 2015, từ đó rút ra các kinh nghiệm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn phục vụ cho yêu cầu trước mắt và lâu dài.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm bốn nội dung:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án; chỉ ra những thành tựu nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết.
  2. Trình bày và phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với kinh tế tư nhân những năm 1997 - 2015.
  3. Phân tích và làm rõ chủ trương cũng như những biện pháp, giải pháp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh nhằm hiện thực hóa các chủ trương đó trong lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm 2015.
  4. Rút ra những nhận xét về ưu điểm cần phát huy, hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của hạn chế trong sự lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2015; trên cơ sở đó, đúc rút một số kinh nghiệm phục vụ hiện tại.

Đối tượng nghiên cứu là chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm 2015.

Phạm vi nghiên cứu được xác định trên các phương diện:

  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Bắc Ninh gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện, có chú trọng khảo sát tại các huyện, thị xã tiêu biểu về sản xuất tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp.
  • Phạm vi thời gian: Mốc bắt đầu là năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh Bắc Ninh và tách khỏi tỉnh Hà Bắc); mốc kết thúc là năm 2015 (thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII). Luận án cũng mở rộng khảo sát giai đoạn trước năm 1997 và sau năm 2015 nhằm đảm bảo tính liền mạch lịch sử và đối sánh.
  • Phạm vi nội dung khoa học: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với 3 bộ phận cấu thành kinh tế tư nhân (kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân) trên 4 trụ cột công tác: tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh; tăng cường tiếp cận các nguồn lực vật chất; hỗ trợ tháo gỡ khó khăn phát triển nội lực; phát triển nguồn nhân lực. Tiến trình khảo sát được chia tách qua hai giai đoạn: 1997 - 2005 và 2005 - 2015, lấy dấu mốc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (năm 2005) làm ranh giới phân kỳ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả tiến hành phân loại các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về kinh tế tư nhân quốc tế và Việt Nam. Về bình diện quốc tế, các công trình khảo cứu quá trình tư nhân hóa của Saul Estrin và Adeline Pelletier xem xét tốc độ tư nhân hóa tại các nước đang phát triển từ thập niên 1980 đến thập niên 2000 gắn với hạ tầng thể chế; Gasmi và các cộng sự phân tích cấu trúc thể chế mạng lưới; các bài viết nghiên cứu kinh nghiệm Trung Quốc của Vân Anh, Nguyễn Kim Bảo, Hoài Nam (phân tích sự chuyển đổi nhận thức cho phép đảng viên làm kinh tế); các tác giả Nguyễn Văn Tâm, Đinh Thị Thơm, Phan Hữu Nhật Minh khảo sát vị trí của kinh tế tư nhân tại các nền kinh tế chuyển đổi Đông Âu. Về kinh tế tư nhân tại Việt Nam, Katariina Hakkala phân tích vai trò của Nhà nước trong mối quan hệ với khu vực tư nhân và khu vực doanh nghiệp nhà nước; Lê Duy Bình tiếp cận kinh tế tư nhân gắn với việc tạo việc làm và tiến bộ giới; các tác giả Hà Huy Thành, Lê Hữu Nghĩa, Đinh Văn Ân phân tích nhận thức lý luận và khung chính sách của Đảng; Đinh Thị Thơm, Mai Tế, Nguyễn Văn Tuất, Đặng Danh Lợi khảo sát thực trạng hoạt động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nguyễn Thị Cành và Nguyễn Anh Phong ứng dụng kỹ thuật định lượng đo lường tác động của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân trong 22 ngành kinh tế giai đoạn 1990 - 2016; Vũ Trọng Lâm nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh gia nhập WTO; nhóm tác giả Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Nguyễn Văn Áng và tác giả Nguyễn Minh Phong phân tích thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn Hà Nội.

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng và các Đảng bộ địa phương đối với kinh tế tư nhân. Tác giả Phạm Thị Lương Diệu qua các ấn phẩm chuyên khảo đã phân tích tiến trình nhận thức của Đảng, các bước ngoặt thể chế giai đoạn 1986 - 2005 và những khó khăn nội tại của khu vực ngoài nhà nước; Vũ Văn Phúc làm rõ quan niệm về kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và định hướng phát triển kinh tế tư bản nhà nước; Vũ Văn Gàu phân tích dưới góc độ triết học về chủ trương cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân; Phạm Tất Thắng phân tích sự chuyển biến trong tư duy kinh tế nhiều thành phần của Đảng từ sau năm 1986.

Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu về kinh tế tư nhân ở Bắc Ninh và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. Khổng Văn Thắng phân tích số liệu thu hút đầu tư nước ngoài năm 2015 của Bắc Ninh với 144 dự án và 3,46 tỷ USD vốn đăng ký mới và bổ sung; Nguyễn Hữu Thành phân tích các giải pháp xúc tiến đầu tư giai đoạn 2010 - 2011; Nguyễn Nhân Chiến tổng kết 15 năm chính sách thu hút đầu tư có chọn lọc; Tạ Ngọc Nam nghiên cứu phát triển công nghiệp hỗ trợ trong 4 phân ngành (điện tử - tin học, cơ khí chế tạo, lắp ráp ô tô, dệt may và da giày); Nguyễn Thị Huyền Trang khảo sát hoạt động của các khu công nghiệp giai đoạn 2005 - 2012; các tác giả Lê Xuân Tâm và Nguyễn Phúc Thọ sử dụng phương pháp thống kê mô tả khảo sát 4 làng nghề (gốm Phù Lãng, sắt thép Châu Khê, giấy Phong Khê, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ); Vương Quốc Tuấn nghiên cứu mô hình liên kết doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các làng nghề; Nguyễn Như Chung tổng kết việc hoàn thiện chính sách phát triển làng nghề giai đoạn 1997 - 2003; Đỗ Thị Lan Oanh nghiên cứu làng nghề tại thị xã Từ Sơn giai đoạn 2012 - 2016; Nguyễn Đức Chính thực hiện luận án kinh tế về kinh tế tư nhân Bắc Ninh giai đoạn 2000 - 2009; Bùi Thị Nhung nghiên cứu thực trạng kinh tế tư nhân cấp tỉnh; công trình Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926 - 2008) ghi nhận kết quả lãnh đạo kinh tế qua các nhiệm kỳ.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về kinh tế tư nhân dưới các góc độ kinh tế học, quản lý nhà nước, hoặc phân tích riêng lẻ từng bộ phận như khu công nghiệp, làng nghề, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, song đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào khảo cứu một cách toàn diện, có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với sự phát triển của thành phần kinh tế tư nhân từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến năm 2015 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm dựng lại bức tranh lịch sử đầy đủ và đúc rút các kinh nghiệm thực tiễn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận và khái niệm, luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cùng hệ thống văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khái niệm kinh tế tư nhân được xác định là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc doanh, vận hành dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Khu vực này hoạt động dưới các hình thức pháp lý: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và các hộ sản xuất kinh doanh cá thể.

Khung phân tích nội dung lãnh đạo của Đảng bộ cấp tỉnh được tác giả xác lập thông qua 4 thành tố:

  • Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi (ổn định kinh tế, ban hành cơ chế chính sách thu hút đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và thực hiện cải cách hành chính).
  • Tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn lực vật chất (mặt bằng sản xuất, đất đai và nguồn vốn tín dụng).
  • Hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển nội lực (hỗ trợ xúc tiến thương mại, đổi mới khoa học kỹ thuật, phát triển đội ngũ doanh nhân và công tác xây dựng Đảng).
  • Thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực (nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề và đào tạo nhân lực chất lượng cao).

Phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp phương pháp lôgíc làm chủ đạo. Để tái hiện tiến trình lịch sử và làm rõ bản chất các sự kiện, tác giả phối hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các chủ trương, nghị quyết của Tỉnh ủy và tổng hợp các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh số liệu giữa các thời kỳ 1997 - 2005 và 2005 - 2015, đối chiếu chủ trương Trung ương với sự vận dụng tại địa phương.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý các chuỗi dữ liệu kinh tế về số lượng cơ sở kinh doanh, vốn đầu tư, cơ cấu lao động và giá trị sản xuất.
  • Phương pháp điền dã, điều tra thực địa và phỏng vấn sâu: Khảo sát thực tế tại các làng nghề truyền thống, khu công nghiệp và trao đổi với các nhân chứng, cán bộ quản lý địa phương qua các thời kỳ.

Nguồn tư liệu sử dụng bao gồm:

  • Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
  • Hệ thống văn kiện Đại hội, các nghị quyết chuyên đề, chỉ thị, kết luận của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh được khai thác tại Phòng Lưu trữ Tỉnh ủy và Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Bắc Ninh.
  • Niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh công bố qua các năm.
  • Các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học đã công bố của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 thực hiện tổng thuật 3 nhóm tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước; phân tích thành tựu đạt được về mặt tư liệu, lý luận và thực tiễn của các học giả đi trước; chỉ ra những vấn đề mà các công trình trước chưa làm sáng tỏ. Trên cơ sở đó, chương này xác định 5 vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp giải quyết:

  • Làm rõ các yếu tố tác động (tự nhiên, kinh tế - xã hội, bối cảnh lịch sử và chủ trương của Trung ương Đảng) tới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với kinh tế tư nhân giai đoạn 1997 - 2015.
  • Phân tích quá trình hình thành và phát triển chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh qua hai giai đoạn 1997 - 2005 và 2005 - 2015.
  • Tái hiện toàn diện quá trình hiện thực hóa các chủ trương đó trên các mặt quản lý, hỗ trợ và phát triển kinh tế tư nhân.
  • Đánh giá khách quan các ưu điểm, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong công tác lãnh đạo và phân tích nguyên nhân của các mặt đó.
  • Đúc rút các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn.

Chương 2. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm 2005

Chương này tập trung phân tích bối cảnh lịch sử và các quyết sách lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong 8 năm đầu sau khi tái lập tỉnh.

Về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 822,7 km² (chiếm khoảng 0,2% diện tích cả nước, là tỉnh có diện tích nhỏ nhất), dân số năm 2005 khoảng 991.100 người (khu vực thành thị chiếm 28,6%, nông thôn chiếm 71,4%). Đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện với 126 xã, phường, thị trấn. Địa phương có địa hình chuyển tiếp đồng bằng và trung du, mạng lưới sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình tạo lưu lượng nước mặt dồi dào (ước khoảng 177,5 tỷ m³); đất phù sa màu mỡ với lượng phù sa sông Đuống từ 1,028 đến 1,4 kg/m³. Về khoáng sản, tỉnh có đất sét gạch ngói trữ lượng khoảng 4 triệu tấn tại Quế Võ và Tiên Du; đá sa thạch tại Vũ Ninh khoảng 300.000 m³; than bùn tại Yên Phong từ 6 đến 20 vạn tấn. Bắc Ninh còn là trung tâm văn hóa Kinh Bắc với mật độ di tích dày đặc, sở hữu hai di sản dân ca Quan họ và Ca trù, tổ chức khoảng 300 lễ hội hàng năm, có 677 vị đỗ đại khoa trong lịch sử Nho học.

Về thực trạng kinh tế trước năm 1997: Nền kinh tế chủ yếu thuần nông, manh mún, công nghiệp quốc doanh địa phương sa sút và ngừng sản xuất tại nhiều đơn vị như Cơ khí Đáp Cầu, Xí nghiệp vôi Đáp Cầu. Nhịp độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 - 1995 chỉ đạt bình quân 8,06%/năm (thấp hơn mức bình quân 8,2% của cả nước); GDP bình quân đầu người năm 1995 đạt 254 USD (bằng 75% bình quân cả nước); nông nghiệp chiếm tỷ trọng 46% trong cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, sau các chính sách đổi mới kinh tế nông nghiệp (Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988) và cơ chế quản lý kinh tế ngoài quốc doanh (Nghị quyết 16-NQ/TW năm 1988), các cơ sở tư nhân bắt đầu hình thành.

Chỉ tiêu kinh tế tư nhân Bắc Ninh Năm 1995 Năm 1996
Hộ cá thể sản xuất công nghiệp (hộ) 7.657 8.069
Hộ kinh doanh thương nghiệp, dịch vụ (hộ) 5.685 6.139
Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH thành lập mới (doanh nghiệp) 87 -
Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu kinh tế (%) - 24,0
Tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu kinh tế (%) - 29,1
Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế (%) - 46,4
Sản lượng lương thực quy thóc (nghìn tấn) - 322
Lương thực bình quân đầu người (kg/người/năm) - 351

Huyện Yên Phong cuối năm 1990 đã có 2.156 hộ tư nhân chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp với 4.109 lao động. Nhiều làng nghề truyền thống từng bước phục hồi như sắt Đa Hội (Châu Khê), giấy Phong Khê, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, Phù Khê, Hương Mạc (Tiên Sơn).

Về chủ trương và quá trình chỉ đạo:

  • Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (tháng 10 năm 1997): Đề ra chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ; khuyến khích thành phần kinh tế cá thể, tư nhân bỏ vốn phát triển sản xuất kinh doanh theo pháp luật; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn; phổ cập giáo dục cơ sở và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 16% lên 20% vào năm 2003.
  • Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 25 tháng 05 năm 1998 về phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp, chủ trương củng cố làng nghề truyền thống, khôi phục làng nghề cũ, xây dựng làng nghề mới gắn với du lịch, hình thành các cụm công nghiệp tập trung theo ngành hàng.
  • Năm 2000, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TU về phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
  • Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (tháng 01 năm 2001): Xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 đưa Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp; tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, hỗ trợ kinh tế tư nhân về thủ tục đăng ký kinh doanh, thuê đất, vay vốn tín dụng, chuyển giao công nghệ và thông tin thị trường.
  • Triển khai thực tế: Tỉnh tập trung giải phóng mặt bằng, thành lập các cụm công nghiệp làng nghề để đưa sản xuất ra khỏi khu dân cư; thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại các cơ quan chuyên môn; hỗ trợ vốn vay ưu đãi qua hệ thống ngân hàng thương mại và quỹ hỗ trợ phát triển.

Chương 3. Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển kinh tế tư nhân từ năm 2005 đến năm 2015

Chương này phân tích sự điều chỉnh chiến lược lãnh đạo kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng (gia nhập WTO năm 2007) và chịu tác động của suy thoái kinh tế thế giới năm 2008.

Những định hướng và chủ trương lớn:

  • Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (năm 2005) và lần thứ XVIII (năm 2010): Chuyển hướng chỉ đạo sang phát triển kinh tế tư nhân gắn với chiều sâu chất lượng, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
  • Tỉnh ủy xác định chủ trương đẩy mạnh xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao, thân thiện môi trường, tiết kiệm tài nguyên đất đai. Việc thu hút các tập đoàn công nghệ đa quốc gia (tiêu biểu như Samsung năm 2008) tạo môi trường liên kết cho kinh tế tư nhân trong nước tham gia mạng lưới cung ứng công nghiệp hỗ trợ. Đến năm 2015, toàn tỉnh đã thu hút 144 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm đạt 3,46 tỷ USD (chiếm 16% tổng vốn đăng ký của cả nước).
  • Chỉ đạo phát triển công nghiệp hỗ trợ tập trung vào 4 ngành: điện tử - tin học, cơ khí chế tạo, lắp ráp ô tô, dệt may và da giày nhằm gia tăng tỷ lệ nội địa hóa cho các sản phẩm công nghiệp.
  • Hiện thực hóa chủ trương trên các mặt:
    • Môi trường kinh doanh: Triển khai cải cách hành chính theo cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông", nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
    • Nguồn lực đất đai: Quy hoạch và mở rộng các khu công nghiệp tập trung (Yên Phong, Quế Võ, Tiên Sơn, VSIP...) song song với việc hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các cụm công nghiệp địa phương để tháo gỡ mặt bằng cho doanh nghiệp tư nhân.
    • Tháo gỡ khó khăn về vốn và thị trường: Chỉ đạo các tổ chức tín dụng ưu tiên nguồn vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức đối thoại định kỳ giữa lãnh đạo tỉnh với cộng đồng doanh nghiệp để xử lý vướng mắc.
    • Đào tạo nhân lực: Quy hoạch mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp, liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân.

Chương 4. Nhận xét và kinh nghiệm

Luận án tổng kết toàn diện hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua 18 năm trên các mặt thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.

Về ưu điểm:

  • Đảng bộ tỉnh đã bám sát và quán triệt kịp thời các nghị quyết của Trung ương, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương.
  • Ban hành kịp thời các nghị quyết chuyên đề mở đường cho việc hình thành các khu, cụm công nghiệp và phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp.
  • Kinh tế tư nhân có bước tiến lớn về quy mô và số lượng; từ chỗ chủ yếu là kinh tế cá thể tự cung tự cấp đã phát triển thành hệ thống hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động đa dạng trong các ngành công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ, đóng góp tỷ trọng lớn vào nguồn thu ngân sách và giải quyết việc làm cho lao động địa phương.

Về hạn chế:

  • Năng lực nội tại của khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn phần lớn còn yếu: Quy mô doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa, vốn mỏng, công nghệ chậm đổi mới.
  • Tình trạng vi phạm pháp luật trong kinh doanh, trốn thuế, gian lận thương mại và cạnh tranh không lành mạnh vẫn diễn ra.
  • Công tác quản lý nhà nước tại các làng nghề truyền thống còn nhiều bất cập, dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại một số điểm nóng (sắt thép Châu Khê, giấy Phong Khê).
  • Khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp tư nhân trong nước với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn lỏng lẻo, chưa tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Nguyên nhân của những hạn chế xuất phát từ cả yếu tố khách quan (hệ thống pháp luật kinh tế cả nước trong quá trình hoàn thiện còn nhiều điểm chưa đồng bộ, tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu) lẫn nguyên nhân chủ quan (nhận thức của một bộ phận cán bộ về kinh tế tư nhân đôi lúc còn e dè; năng lực của đội ngũ quản lý hành chính chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế thị trường; bản thân chủ doanh nghiệp thiếu kiến thức quản trị kinh doanh hiện đại).

Bốn bài học kinh nghiệm được tác giả đúc rút:

  1. Mạnh dạn đổi mới và có những bứt phá trong quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng phù hợp với đặc điểm của địa phương.
  2. Sáng tạo, chủ động trong đề ra các quyết sách mở đường cho kinh tế tư nhân.
  3. Nhạy bén, năng động trong khai thác, phát huy các tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế tư nhân.
  4. Chú trọng chỉ đạo tạo lập đồng bộ các yếu tố mang tính đòn bẩy cho kinh tế tư nhân phát triển.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt tư liệu:

  • Luận án khai thác, hệ thống hóa và công bố khối lượng tư liệu lưu trữ phong phú, có xuất xứ rõ ràng từ Phòng Lưu trữ Tỉnh ủy Bắc Ninh, Trung tâm Lưu trữ của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2015.
  • Cung cấp nguồn số liệu thực chứng, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế tư nhân nói riêng và lịch sử kinh tế tỉnh Bắc Ninh nói chung trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Về nội dung khoa học:

  • Luận án đã phục dựng tương đối toàn diện, hệ thống và khách quan tiến trình lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân qua hai giai đoạn cụ thể (1997 - 2005 và 2005 - 2015).
  • Làm sáng tỏ các nhân tố tác động, quá trình chuyển biến trong nhận thức, phương thức ban hành chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện của Tỉnh ủy Bắc Ninh đối với các bộ phận kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân.
  • Đánh giá khách quan các ưu điểm, chỉ ra những khuyết tật tồn tại của mô hình kinh tế tư nhân địa phương và nguyên nhân của những tồn tại đó.
  • Đúc kết bốn bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế tư nhân trong hiện tại và tương lai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Mốc thời gian nghiên cứu của đề tài dừng lại ở năm 2015, do đó chưa khảo cứu được giai đoạn phát triển kinh tế tư nhân sau khi Trung ương ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03 tháng 06 năm 2017 (Hội nghị Trung ương 5 khóa XII) về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Do tiếp cận chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, luận án tập trung khảo sát chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của cấp ủy Đảng, không đi sâu vào các mô hình kinh tế lượng hoặc phân tích cấu trúc tài chính vi mô của doanh nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm 2015 đến nay để đánh giá sự chuyển biến của kinh tế tư nhân Bắc Ninh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
  • Thực hiện các nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa hoạt động lãnh đạo kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh với các tỉnh, thành phố khác trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hưng Yên hay Hải Phòng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử kinh tế và Khoa học quản lý; phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương và lịch sử Đảng bộ các cấp.
  • Các cơ quan tham mưu, cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Bắc Ninh và các địa phương có điều kiện tương đồng trong việc nghiên cứu, vận dụng các bài học kinh nghiệm lịch sử vào công tác hoạch định cơ chế, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân, giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường làng nghề và tăng cường liên kết công nghiệp hỗ trợ.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là hệ thống tư liệu lịch sử về quá trình chuyển dịch làng nghề truyền thống sang mô hình cụm công nghiệp tập trung tại Chương 2 và các giải pháp gắn kết FDI với kinh tế tư nhân trong nước tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

Luận án phân kỳ tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với kinh tế tư nhân thành các giai đoạn nào và dựa trên căn cứ gì?
Luận án chia tiến trình nghiên cứu thành hai giai đoạn: 1997 - 2005 và 2005 - 2015. Căn cứ phân kỳ dựa trên mốc kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (năm 2005) - thời điểm đánh dấu sự chuyển biến rõ rệt trong tư duy kinh tế của Đảng bộ tỉnh, chuyển từ việc tháo gỡ rào cản hành chính ban đầu sang chủ trương hội nhập quốc tế sâu rộng và công nghiệp hóa theo chiều sâu.

Tại thời điểm tái lập tỉnh năm 1997, kinh tế Bắc Ninh và khu vực kinh tế tư nhân có xuất phát điểm như thế nào?
Bắc Ninh có xuất phát điểm thấp, diện tích tự nhiên nhỏ nhất cả nước (822,7 km²), kinh tế thuần nông với nông nghiệp chiếm 46% cơ cấu kinh tế. Tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 - 1995 chỉ đạt 8,06%/năm (cả nước là 8,2%), GDP bình quân đầu người năm 1995 chỉ đạt 254 USD. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh tế tư nhân manh mún, công nghiệp quốc doanh địa phương sa sút. Năm 1995, toàn tỉnh có 7.657 hộ cá thể sản xuất công nghiệp và 87 doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH.

Nghị quyết chuyên đề quan trọng đầu tiên về kinh tế tư nhân do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh ban hành sau khi tái lập tỉnh là gì?
Đó là Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 25 tháng 05 năm 1998 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Nghị quyết đề ra định hướng củng cố các làng nghề hiện có, khôi phục làng nghề cũ, xây dựng làng nghề mới gắn với du lịch và quy hoạch các cụm công nghiệp theo ngành hàng thủ công mỹ nghệ.

Khu vực kinh tế tư nhân tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 đã tận dụng cơ hội từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như thế nào?
Nhờ chủ trương thu hút FDI có chọn lọc của Tỉnh ủy Bắc Ninh (nổi bật là năm 2015 thu hút 144 dự án FDI với 3,46 tỷ USD vốn đăng ký, dẫn đầu cả nước), khu vực kinh tế tư nhân trong nước đã tham gia cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong 4 phân ngành chính: điện tử - tin học, cơ khí chế tạo, sản xuất lắp ráp ô tô, dệt may và da giày, từng bước tham gia chuỗi giá trị sản xuất công nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia.

Luận án chỉ ra những hạn chế cơ bản nào trong công tác lãnh đạo và phát triển kinh tế tư nhân tại Bắc Ninh?
Các hạn chế chủ yếu gồm: quy mô doanh nghiệp tư nhân phần lớn còn nhỏ bé, vốn ít, công nghệ lạc hậu; sự liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với khu vực FDI còn hạn chế; công tác quản lý còn bất cập dẫn đến tình trạng trốn thuế, buôn bán hàng giả; đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng kéo dài tại các làng nghề công nghiệp như Châu Khê và Phong Khê chưa được giải quyết triệt để.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Yến đã dựng lại toàn diện tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đối với thành phần kinh tế tư nhân trong giai đoạn lịch sử từ năm 1997 đến năm 2015. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử - lôgíc và nguồn tư liệu lưu trữ xác thực của địa phương, công trình đã luận giải mối quan hệ giữa đường lối đổi mới của Trung ương Đảng với thực tiễn vận dụng linh hoạt tại một tỉnh công nghiệp quy mô nhỏ thuộc châu thổ sông Hồng. Bốn bài học kinh nghiệm được đúc rút từ thành công và hạn chế trong công tác chỉ đạo có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương cũng như quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế tư nhân hiện nay.