Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu (25 trang), Chương 2: Đối 5 tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu (26 trang), Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (73 trang), Kết luận, tồn tại và kiến nghị (4 trang); Tài liệu tham khảo (16 trang); và Phụ lục. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số thuật ngữ chính sử dụng trong luận án Sinh khối trên mặt đất cây rừng (AGB): Trong hệ sinh thái rừng có 5 bể chứa carbon theo IPCC (2006) đó là: 1) Trong sinh khối của thực vật phần trên mặt đất (AGB) (bao gồm trong thân, cành, lá, và vỏ cây), 2) Trong sinh khối của thực vật phần dưới mặt đất là hệ rễ cây (BGB), 3) Trong thảm mục rừng (Litter), 4) Trong gỗ chết (chết đứng và nằm) (Dead Wood), và 5) Trong carbon hữu cơ trong đất (SOC). Nghiên cứu này tập trung cho AGB nhưng chỉ cho thực vật thân gỗ. Mô hình sinh trắc, sinh khối cây rừng: Đó là các mô hình toán mô phỏng mối quan hệ sinh học giữa sinh trưởng, sinh khối, carbon của cây rừng với các nhân tố điều tra cây cá thể và có thể có các nhân tố sinh thái, môi trường rừng.
Hệ thống mô hình ước tính sinh khối trên mặt đất cây rừng: Bao gồm các mô hình ước tính AGB và bộ phận của nó là sinh khối cành, lá và vỏ cây; hoặc bao gồm các mô hình theo hệ thống phân loại thực vật rừng khộp; hoặc bao gồm các mô hình dưới sự ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái môi trường. Các mô hình này có thể thiết lập độc lập hay đồng thời. Thẩm định chéo (Cross Validation): Đây là một phương pháp đánh giá sai số của mô hình khách quan, dữ liệu được phân chia ngẫu nhiên thành hai phần, một phần cho thiết lập mô hình (Training), và phần còn lại để đánh giá sai số (Validation), tỷ lệ mỗi phần phụ thuộc vào từng phương pháp. Tiến hành lặp lại việc phân chia dữ liệu để training và validation R lần và các chỉ tiêu thống kê của mô hình cũng như sai số được tính trung bình từ R lần.
Như vậy có nghĩa là tất cả dữ liệu đều được sử dụng lập mô hình và tất cả dữ liệu cũng được dùng thẩm định mô hình, chúng kiểm tra chéo lẫn nhau và bảo đảm sai số đúng trong mọi trường hợp của dữ liệu nghiên cứu. 7 Trọng số của mô hình (Weight): Sinh khối cây rừng có hiện tượng phân hóa (heteroscedasticity), làm cho sai số biến động càng lớn khi kích thước cây càng tăng, dẫn đến mô hình gia tăng sai số ở các cây có kích thước lớn. Vì vậy trọng số được sử dụng trong quá trình mô hình hóa là nhằm để điều hòa biến động sai số ở các kích thước cây khác nhau, làm cho chúng khá tương đồng và mô hình có sai số đồng đều ở các kích thước cây. Hệ thống mô hình thiết lập đồng thời theo phương SUR: Thông thường các mô hình ước tính AGB và bộ phận của nó là sinh khối cành, lá và vỏ cây được thiết lập độc lập.
Kết quả cho thấy AGB tính từ tổng các mô hình sinh khối thành phần sẽ có độ lệch đáng kể so với mô hình ước tính AGB độc lập. Ngoài ra, các sinh khối thành phần còn có quan hệ với nhau theo mối tương quan chéo giữa các phương trình. Để khắc phục các nhược điểm này của các mô hình sinh khối thành phần được xây dựng độc lập, phương pháp Seemingly Unrelated Regression (SUR) đã được xây dựng (Parresol, 2001). SUR giúp thiết lập đồng thời các mô hình AGB và các mô hình sinh khối bộ phận như cành, lá, vỏ trong mối quan hệ sinh học giữa các thành phần và cải thiện độ tin cậy khi đã xem xét các mối quan hệ giữa thành phần với nhau (Picard và ctv, 2012; Poudel và Temesgen, 2016; Kralicek và ctv, 2017; Huy và ctv, 2019).2 Chương trình REDD+ và nhu cầu về mô hình ước tính sinh khối, carbon cây rừng Hiệp định khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã thông qua một cơ chế cho phép giảm lượng khí thải và tăng cường loại bỏ các khí gây hiệu ứng nhà kính từ các khu rừng nhiệt đới được tính toán carbon, góp phần vào mục tiêu cuối cùng là ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn chặn để giảm nguy hiểm của con người.
Các nước 8 nhiệt đới cắt giảm khí thải nhà kính, có xác nhận của UNFCCC và sau đó giao dịch tín dụng carbon trên thị trường carbon quốc tế (UN-REDD, 2011) Cơ chế này được gọi là REDD+: “Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng và vai trò của bảo tồn, quản lý bền vững rừng và tăng cường trữ lượng carbon rừng ở các nước đang phát triển”. Các cơ chế của REDD+ vẫn còn đang được đàm phán ở cấp độ của UNFCCC. Trong vài năm qua những đường nét của cơ chế này đã nổi lên, và trên cơ sở đó các nước đang chuẩn bị cho việc thực hiện một chương trình quốc gia REDD+. REDD+ xác định cơ chế hoạt động bao gồm 5 lĩnh vực chính (UN- REDD+, 2011): i) Giảm phát thải từ mất rừng; ii) Giảm phát thải từ suy thoái rừng; iii) Bảo tồn trữ lượng carbon rừng; iv) Quản lý rừng bền vững và v) Nâng cao các bể chứa carbon rừng Như vậy có thể thấy mặc dù chương trình REDD+ chưa hoàn toàn có đầy đủ cơ chế tài chính giữa các quốc gia cho nổ lực quản lý bảo vệ rừng nhằm giảm phát thải từ suy thoái và mất rừng, nhưng các yếu tố kỹ thuật, vai trò của cộng đồng và lợi ích của REDD đã được xây dựng và thừa nhận.
Hiện tại REDD đang được thực hiện theo chương trình của Liên Hiệp Quốc với tên gọi là UN-REDD+ ở các quốc gia thí điểm trong đó có Việt Nam. Đây chính là cơ sở kỹ thuật và cách thức tiếp cận để cung cấp thông tin dữ liệu quốc gia về phát thải để tiến đến chi trả theo hiệp định khung về biến đổi khí hậu trong thời gian đến. Chương trình UN-REDD+ ở Việt Nam đã được khởi động từ năm 2009 với sự hỗ trợ của FAO - Liên Hiệp Quốc và có vai trò quan trọng trong thúc đẩy quản lý rừng tự nhiên bền vững để chi trả dịch vụ môi trường, nó có tính toàn cầu mà trong đó Việt Nam là một thành viên. Tuy nhiên để tham gia chương trình REDD+, Việt Nam cần có nghiên cứu phương pháp đo tính giám 9 sát để cung cấp thông tin, dữ liệu có cơ sở khoa học, đáng tin cậy về sự thay đổi của các bể chứa carbon trong các hệ sinh thái rừng và chứng minh giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính CO2 trong thực hiện quản lý rừng tốt hơn.
Chương trình UN-REDD+ hướng đến tạo ra sinh kế, thu nhập cho người nghèo, các cộng đồng đang được giao đất giao rừng để quản lý bảo vệ (IUCN, 2007; FAO, 2010, 2016), để việc từ chi trả tín chỉ carbon đến được cộng đồng, họ cần tham gia giám sát thay đổi các bể chứa carbon rừng. Vì vậy trong một số quốc gia đang phát triển thực hiện REDD+ đã bắt đầu xây dựng các hướng dẫn đo tính carbon rừng có sự tham gia (Patrick, 2008; Skutsch và ctv, 2009; Silva và ctv, 2010; Bảo Huy, 2009, 2012). Trên cơ sở nghiên cứu các công nghệ, kỹ thuật đo tính giám sát carbon rừng, cần phát triển bộ công cụ thích hợp, đơn giản để cộng đồng có thể tiếp cận đo tính, cung cấp dữ liệu để chuyển đổi sang sinh khối, carbon đạt yêu cầu của IPCC (2003, 2006). Nhiều yếu tố tương tác ảnh hưởng các bể chứa carbon này như loại hệ sinh thái rừng, độ tuổi của rừng, các tầng rừng (Omar và ctv, 2015) loại rừng có độ cao khác nhau (Matthew và ctv, 2018).
Đồng thời, hiểu giá trị của các bể chứa carbon rất hữu ích để xây dựng các chính sách và khung pháp lý phù hợp với bảo tồn rừng. Do vậy, cần có nghiên cứu xác định trữ lượng carbon cho các bể chứa khác nhau để có được bức tranh toàn diện về carbon được tích lũy trong các hệ sinh thái rừng. Snowdon (2002) đã xác định carbon ở các bể chứa là thực vật sống trên mặt đất, cây bụi thảm tươi, trong rễ và trong đất khi nghiên cứu hấp thụ carbon rừng, đồng thời đưa ra phương pháp thu thập mẫu để phân tích hàm 10 lượng carbon trong mỗi bể chứa. Năm 2006, IPCC tổng kết đầy đủ tất cả các nghiên cứu trên thế giới về đo tính, giám sát, thẩm định thay đổi bể chứa carbon rừng để hướng dẫn các quốc gia, dự án REDD+ áp dụng.
Hertel và ctv (2009) đã nghiên cứu bể chứa carbon dưới mặt đất và trên mặt đất trong một khu rừng tự nhiên cổ đại và so sánh với rừng nguyên sinh ở Sulawesi, Indonesia. Đến năm 2010, Subedi đưa ra phương pháp hướng dẫn đo lường trữ lượng carbon rừng do cộng đồng quản lý ở năm bể chứa. Sau đó hai năm, Bảo Huy và ctv (2012) đã xây dựng được hệ thống hàm sinh trắc với các biến số điều tra rừng, nhân tố sinh thái, cấu trúc lâm phần để ước tính sinh khối và carbon cho cả năm bể chứa rừng lá rộng thường xanh vùng Tây Nguyên. Đồng thời sử dụng công nghệ GIS để xây dựng phương pháp giám sát trữ lượng sinh khối, carbon rừng.
Nam và ctv (2016) ước tính sinh khối trên mặt đất (Above Ground Biomass - AGB) và sinh khối rễ (Below Ground Biomass - BGB) khu rừng thường xanh ở Việt Nam. Các ước tính sinh khối từ các mô hình địa phương này được so sánh với các mô hình vùng và nhiệt đới. Trong 5 bể chứa carbon thì bể chứa AGC là quan trọng nhất và biến động theo mức độ quản lý tác động đến rừng, do vậy trong các dự án, chương trình REDD đều tập trung vào đo lường, giám sát thay đổi AGC. Trong khi đó để cung cấp cấp dữ liệu AGC thì cần có các mô hình sinh khối trên mặt đất cây rừng bao gồm sinh khối trong thân cây gỗ (Biomass of Stem - Bst), trong vỏ cây (Biomass of Bark - Bba), trong cành (Biomass of Branch - Bbr), trong lá (Biomass of Leaf - Bl) và toàn bộ sinh khối trên mặt mất đất của cây rừng (Above Ground Biomass - AGB).
Như vậy, việc giám sát phát thải hoặc hấp thụ CO2 từ rừng là giám sát sự thay đổi các bể chứa carbon này cùng với diện tích rừng, từ đó tính được sự gia tăng hay suy giảm bể chứa carbon hay nói khác là sự gia tăng hay giảm 11 phát thải CO2 từ quản lí rừng, làm cơ sở cho việc buôn bán tín chỉ carbon rừng.