ĐẶT VẤN ĐỀ Tỉnh Hà Giang có đặc điểm địa lý, địa hình và điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù, nên ngành lâm nghiệp và tài nguyên rừng của tỉnh có ảnh hƣởng rất lớn đối với cuộc sống và sinh kế của ngƣời dân trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Với phần lớn diện tích đất tự nhiên (788.437 ha chiếm 88,63%) là đất dốc từ 15 độ trở lên, nên nếu thiếu rừng cây che phủ, điều kiện sinh thái và sản xuất nông nghiệp của tỉnh sẽ bị ảnh hƣởng nghiêm trọng với mức độ rủi ro mùa màng cao. Điều đó cho thấy, tự thân ngành lâm nghiệp mà yếu tố chủ đạo là rừng trở thành “trụ đỡ” cho nền nông nghiệp, đồng thời còn là mái nhà sinh thái của vùng thƣợng nguồn, nơi tiềm ẩn nhiều thiên tai và rủi ro. Trong những năm qua, thông qua các chƣơng trình 327, 661 và chƣơng trình bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020, tỉnh Hà Giang đã đƣợc Chính phủ hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng đặc biệt là diện tích rừng phòng hộ.
Một trong những huyện đƣợc tỉnh Hà Giang ƣu tiên đầu tƣ phát triển rừng phòng hộ là huyện Yên Minh, đây là huyện có địa hình bị chia cắt, độ dốc lớn, là lƣu vực của các sông suối lớn chảy về các dòng sông chính trên địa bàn tỉnh. Giai đoạn 2011 - 2015, huyện Yên Minh đã đƣợc đầu tƣ trồng 4.147,2 ha từ chƣơng trình bảo vệ và phát triển rừng, góp phần nâng cao độ che phủ rừng lên 35,6%. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực kế hoạch trồng rừng phòng hộ còn bộc lộ nhiều hạn chế nhƣ chất lƣợng rừng, diện tích rừng trồng thành rừng, tỷ lệ cây sống, tình hình sinh trƣởng của các loài cây. chƣa đƣợc đánh giá nhằm đƣa ra các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lƣợng rừng trồng.
Để góp phần giải quyết những tồn tại nêu trên, đề tài “Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ giai đoạn 2011 - 2015 tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang” đã đƣợc thực hiện. Phƣơng hƣớng của đề tài là tiến hành đánh giá đầu vào, kết quả đầu ra về chất lƣợng và hiệu quả. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện kết quả của hoạt động trồng rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Yên Minh. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới 1. Các nghiên cứu về đánh giá kết quả trồng rừng Hoạt động trồng rừng của huyện Yên Minh đƣợc tổ chức thực hiện theo phƣơng thức của dự án. Vì vậy, dƣới đây tóm tắt một số nét chính có liên quan đến các nghiên cứu về đánh giá kết quả trồng rừng của dự án. Theo Cleland và King (1975) [45]: Dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố nhân lực và trí lực trong một thời gian nhất định để đạt đƣợc mục tiêu cụ thể.
Vấn đề quan trọng đƣợc đặt ra là dự án phải có mục tiêu nhất định và quá trình thực hiện dự án phải hƣớng tới các mục tiêu đó. Theo Clipdap [dẫn Ngọc Lê Huy, 2002] [20]: Dự án là một tập hợp các hoạt động để giải quyết một vấn đề hay hoàn thiện một trạng thái đặc biệt nào đó. Nội dung đƣợc nhấn mạnh ở đây là các hoạt động có tính định hƣớng của dự án để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. Theo tài liệu hội thảo PIMES (Hội chữ thập đỏ, 2002, Chƣơng trình phòng ngừa thảm họa) [13] đã đƣa ra hai khái niệm: Dự án là quá trình gồm các hoạt động đã đƣợc lập kế hoạch nhằm đạt đƣợc những thay đổi mong muốn hoặc đạt đƣợc một mục tiêu cụ thể nào đó; Dự án là quá trình phát triển có kế hoạch, đƣợc thiết kế nhằm đạt đƣợc mục tiêu cụ thể với khoản ngân sách xác định trong thời gian xác định.
Thông thƣờng, trong vòng 3 hoặc 5 năm sau khi kết thúc dự án các Bộ hay Công ty độc lập sẽ tiến hành đánh giá dự án. Tâm điểm là đánh giá tác động và tính bền vững của dự án so với mục tiêu ban đầu. Trong sổ tay hƣớng dẫn Giám sát đánh giá của Ngân hàng thế giới cũng đã đƣa ra nhiều khái niệm và phƣơng pháp đánh giá tác động cho các dự án. Tuy nhiên, tất cả chỉ mang tính khái quát chung chung do đó việc áp 3 dụng các lý thuyết và hƣớng dẫn này cũng cần phải linh hoạt [60].
Trong quá trình thực hiện dự án, hoạt động đánh giá có thể đƣợc tiến hành vào những giai đoạn quan trọng, thƣờng gọi là đánh giá giai đoạn (Gittinger 1982) [50]. Có nhiều tác giả cho rằng, điều quan trọng là phải tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên có liên quan mà quan trọng nhất là ngƣời hƣởng lợi từ dự án (Theo Katherine Warnerm, Auguctamolnar jonh B. Trƣớc những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả dự án trong đó có hiệu lực thực thi. Từ sau năm 1990 các hoạt động đánh giá đƣợc thực hiện đã bao gồm cả đánh giá tác động dự án, tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000) [51].
Hiện nay, việc đánh giá tác động đƣợc coi nhƣ bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá, bao gồm tất cả các thay đổi về sinh thái, văn hoá - xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lại bởi các hoạt động của một chƣơng trình, dự án. FAO (1979) [48] đã xuất bản tài liệu “Phân tích các dự án Lâm nghiệp” do Hans M - Gregersen và Amoldo H. Contresal biên soạn. Đây là tài liệu giảng dạy dùng cho các địa phƣơng mà tổ chức FAO có đầu tƣ dự án trồng rừng và phát triển lâm nghiệp; tài liệu này tƣơng đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả các dự án lâm nghiệp ở các nƣớc đang phát triển, trong đó có nƣớc ta.
Thành quả đầu tiên về đánh giá hiệu quả phát triển rừng phải kể đến là sự công bố phần mềm có tên là EVALUE của Cục Nông nghiệp Mỹ vào năm 1980. Báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland, Michael Luedeke và Jeff Martin (1996) [dẫn Trần Xuân Thiệp, 1996] [38] đây là phần mềm cho phép ngƣời sử dụng đánh giá đƣợc hiệu quả đầu tƣ cho các Dự án trồng rừng. Tuy nhiên, chƣơng trình máy tính này chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiệu quả tài 4 chính thông qua các chỉ tiêu NPV, IRR,. Các tác giả cũng khuyến nghị thêm rằng hoạt động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng đầu, còn đối với các Dự án đầu tƣ mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc việc đánh giá hiệu quả cả xã hội và môi trƣờng.
FAO (1990, 1997) [55] [58] cũng nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trƣờng khi đƣa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng. Cũng theo FAO (1996) [57], một Dự án lâm nghiệp dù có đạt đƣợc hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, BCR,…) nhƣng chƣa đạt đƣợc hiệu quả xã hội là (giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, nâng cao trình độ dân trí,…), và hiệu quả môi trƣờng (không gây ô nhiễm môi trường, xói mòn đất,…) thì không đƣợc coi là một Dự án bền vững. Việc ký kết Nghị định thƣ Kyoto cũng nhƣ việc thành lập Quỹ môi trƣờng toàn cầu (GEF) năm 1997 càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trƣờng của một Dự án đầu tƣ, đặc biệt các Dự án trồng rừng. Theo khuyến nghị của nhiều chuyên gia thì cần phải có hoạt động đánh giá môi trƣờng riêng rẽ bao gồm tất cả các chỉ tiêu phản ánh ảnh hƣởng tích cực hay tiêu cực của các Dự án trồng rừng đến môi trƣờng nhƣ mức độ xói mòn đất, khả năng ngăn ngừa thiên tai, độ che phủ rừng, sự hấp thụ và phát thải CO2.
Nếu nhƣ việc đánh giá Dự án đƣợc tiến hành sau khi thực hiện Dự án đƣợc một số năm hoặc đã kết thúc, nhằm đƣa ra những kết quả, làm rõ những thành công hay thất bại và rút ra những bài học kinh nghiệm để quản lý chu kỳ tiếp theo trong tƣơng lai của Dự án, thì việc đánh giá hiệu quả Dự án, đặc biệt là Dự án đầu tƣ lâm nghiệp đƣợc hình thành từ yêu cầu khách quan về sự phát triển bền vững của Rừng - Môi trƣờng - Con ngƣời. Ngoài hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trƣờng của quá trình đầu tƣ, thông qua quá trình đánh giá thực trạng và hiệu quả phát triển rừng của Dự án giúp chúng ta định lƣợng 5 đƣợc những tổn thất, những tái tạo về rừng và môi trƣờng do tác động của Dự án đem lại, từ đó làm cơ sở cho việc tính toán mức chi phí cần thiết cho bảo vệ rừng, điều chỉnh các hoạt động thực tiễn phù hợp, đảm bảo có lợi cho môi trƣờng từ bảo vệ và phát triển rừng mang lại. Năm 2003, Tổ chức nghiên cứu cao cấp về phát triển quốc tế Nhật Bản đã đề xuất việc đánh giá hiệu quả đầu tƣ Dự án không chỉ tập trung so sánh kết quả đầu ra với đầu vào của Dự án mà còn phải xem xét những ảnh hƣởng tích cực và tiêu cực, hiện tại và tƣơng lai, thậm chí là những ảnh hƣởng gián tiếp phát sinh từ những ảnh hƣởng trực tiếp. Vì vậy trong quá trình đánh giá hiệu quả Dự án, việc thiết kế phƣơng pháp và câu hỏi nên chia thành 2 nhóm vấn đề chính: Các vấn đề đan xen (chính sách, kỹ thuật, môi trường, văn hóa - xã hội, thể chế - quản lý và kinh tế - tài chính) và phân loại tác động thành 4 nhóm: tích cực/tiêu cực và mong đợi/không mong đợi.
Theo FAO (1987) [47], hƣớng dẫn đánh giá hiệu quả kinh tế các Dự án quản lý lƣu vực, thì đánh giá về mặt kinh tế thƣờng đƣợc dùng để phân tích các lợi ích và chi phí của xã hội, nên các lợi ích và chi phí đó phải đƣợc tính cho suốt thời gian mà chúng còn có tác dụng, nhất là đối với Dự án trồng rừng, phải sau khoảng thời gian dài thì chúng mới cho sản phẩm, đồng thời lại có những tác động về mặt môi trƣờng có thể còn có tác dụng trong một thời gian dài sau khi kết thúc Dự án. Vậy cần vận dụng khoảng thời gian nào để đánh giá thì thích hợp là câu hỏi đang đƣợc đạt ra.