Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu xử lý nước thải chế biến cao su bằng phương pháp hóa lý sinh học kết hợp

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp hóa lý sinh học kết hợp để xử lý nước thải chế biến cao su, đạt hiệu quả cao và thân thiện môi trường.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

188
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nước thải chế biến cao su

Nước thải chế biến cao su là một trong những loại nước thải có mức độ ô nhiễm cao, chứa nhiều thành phần độc hại như chất hữu cơ, nitơ, photpho và tổng chất rắn lơ lửng. Theo nghiên cứu, mỗi năm ngành công nghiệp chế biến cao su phát thải khoảng 25 triệu m3 nước thải. Xử lý nước thải là một vấn đề cấp bách, đặc biệt trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Các phương pháp hiện tại như tách gạn mủ, tuyển nổi, và các hệ thống kỵ khí như UASB vẫn chưa đạt hiệu quả tối ưu. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới là cần thiết để nâng cao hiệu quả xử lý và giảm thiểu ô nhiễm. Nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng các phương pháp hóa lýsinh học để xử lý nước thải chế biến cao su, nhằm thu hồi năng lượng và các chất dinh dưỡng.

II. Phương pháp xử lý nước thải

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp hóa lýsinh học kết hợp để xử lý nước thải chế biến cao su. Phương pháp hóa lý bao gồm việc sử dụng hóa chất để kết tủa các thành phần ô nhiễm, trong khi phương pháp sinh học sử dụng vi sinh vật để phân hủy chất hữu cơ. Một trong những công nghệ được nghiên cứu là thiết bị EGSB, cho phép xử lý hiệu quả các chất hữu cơ và thu hồi khí biogas. Kết quả cho thấy, thiết bị EGSB có khả năng xử lý COD lên đến 80% trong điều kiện tải trọng từ 7-20 kg COD/m3.ngày. Điều này chứng tỏ rằng việc kết hợp giữa hóa lýsinh học có thể mang lại hiệu quả cao trong việc xử lý nước thải chế biến cao su.

III. Đánh giá hiệu quả xử lý

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng phương pháp kết tủa Magie Amoni Photphat (MAP) có thể thu hồi đồng thời nitơ và photpho trong nước thải chế biến cao su. Hiệu suất loại bỏ N-NH4+ đạt 80,9%, COD đạt 34,8%, và khối lượng kết tủa thu hồi là 4,85 g/L nước thải. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tạo ra nguồn phân bón hữu ích cho nông nghiệp. Hơn nữa, thiết bị SBR cải tiến cho thấy khả năng xử lý đồng thời các chất hữu cơ và nitơ với hiệu suất cao, gần 100% cho N-NH4+ và 94-97% cho tổng nitơ. Những kết quả này khẳng định giá trị thực tiễn của nghiên cứu trong việc phát triển công nghệ xử lý nước thải hiệu quả.

IV. Đề xuất công nghệ xử lý nước thải

Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất quy trình công nghệ xử lý nước thải chế biến cao su theo hướng thu hồi các chất dinh dưỡng và năng lượng bằng các phương pháp hóa lýsinh học kết hợp. Quy trình này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tạo ra nguồn năng lượng tái tạo từ khí biogas, đồng thời thu hồi các chất dinh dưỡng cần thiết cho nông nghiệp. Các thông số COD, N-NH4+ và tổng nitơ trong nước thải sau xử lý đều đạt tiêu chuẩn quy định, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho ngành công nghiệp chế biến cao su.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của luận án Việt Nam là một trong ba nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu cao su thiên nhiên (CSTN). Sản lượng CSTN năm 2016 của nước ta đạt trên 1 triệu tấn, đứng thứ 3 thế giới, sau Thái Lan và Indonesia [1]. Mỗi năm ngành công nghiệp chế biến CSTN Việt Nam phát thải trên 25 triệu m3 nước thải. Nước thải chế biến CSTN là một trong những loại nước thải có mức độ ô nhiễm rất cao bởi các thành phần hữu cơ, nitơ, photpho và tổng chất rắn lơ lửng (TSS) [2-4].

Hiện nay, công nghệ xử lý nước thải (XLNT) đang được áp dụng trong ngành chế biến CSTN ở nước ta chủ yếu kết hợp một số trong các quá trình: tách gạn mủ, tuyển nổi, kỵ khí UASB (đệm bùn kỵ khí dòng hướng lên), mương oxy hóa, bể sục khí, hồ tảo, hồ sinh học. Theo Nguyễn Ngọc Bích (2011), Nguyen Nhu Hien và Luong Thanh Thao (2012), các hệ thống XLNT của các nhà máy chế biến CSTN vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như: hiệu quả xử lý chưa cao, các chỉ tiêu BOD, COD, N-amoni, TN và TSS trong nước thải sau xử lý ở nhiều nhà máy vẫn cao hơn quy chuẩn cho phép nhiều lần [4-5]. Mặc dù chế biến CSTN được đánh giá là một trong năm ngành công nghiệp điển hình phát sinh nước thải có tải lượng chất bẩn cao (dệt nhuộm, chế biến mủ cao su, sản xuất giấy, sản xuất cồn rượu và nước rỉ rác) [6], nhưng tại Việt Nam đến nay có rất ít nghiên cứu XLNT chế biến CSTN. Một số nghiên cứu trước đây tập trung vào việc kết hợp thiết bị kỵ khí sử dụng giá thể xơ dừa hoặc UASB với các hồ sinh học [7, 8], nghiên cứu tạo bùn hạt trong thiết bị UASB để nâng cao hiệu suất xử lý COD [9].

Đến nay, chưa có nghiên cứu nào theo định hướng xử lý nước thải kết hợp thu hồi đồng thời năng lượng và các thành phần dinh dưỡng (N, P) trong nước thải chế biến CSTN nhằm nâng cao hiệu suất xử lý đồng thời các chất hữu cơ, nitơ và photpho; thu hồi năng lượng và các thành phần hữu ích để giảm chi phí xử lý. Từ những lý do trên, đề tài luận án “Nghiên cứu xử lý nước thải chế biến cao su bằng phương pháp hóa lý – sinh học kết hợp” được thực hiện nhằm nghiên cứu xây dựng công nghệ XLNT chế biến CSTN giải quyết đồng thời các vấn đề: (1) Thu hồi năng lượng (khí biogas chứa CH4) làm nhiên liệu; (2) Thu hồi đồng thời nitơ và photpho trong nước thải chế biến CSTN làm phân bón cho nông nghiệp; (3) Cải tiến thiết 2 bị và kết hợp các phương pháp hóa lý – sinh học nhằm nâng cao tải trọng và hiệu quả xử lý đồng thời các chất hữu cơ và dinh dưỡng N, P trong nước thải chế biến CSTN. Mục tiêu của đề tài luận án Nghiên cứu xây dựng công nghệ XLNT chế biến CSTN theo hướng thu hồi các chất dinh dưỡng và năng lượng bằng các phương pháp hóa lý – sinh học kết hợp. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu: Nước thải chế biến CSTN của Nhà máy chế biến cao su Hà Tĩnh tại xã Hà Linh, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; – Phạm vị, địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm tại Viện Công nghệ môi trường.

Nội dung nghiên cứu của đề tài 1) Tổng quan về XLNT chế biến CSTN; 2) Nghiên cứu xử lý các chất hữu cơ trong nước thải chế biến CSTN và thu hồi năng lượng (khí biogas chứa CH4) bằng thiết bị đệm bùn hạt mở rộng (EGSB); 3) Nghiên cứu xử lý và thu hồi đồng thời nitơ và photpho trong nước thải chế biến CSTN bằng phương pháp kết tủa Magie Ammoni Photphat (MAP); 4) Nghiên cứu xử lý đồng thời các chất hữu cơ và nitơ trong nước thải chế biến CSTN sau xử lý kỵ khí trên thiết bị phản ứng theo mẻ luân phiên (SBR) cải tiến; 5) Đề xuất công nghệ XLNT chế biến CSTN theo hướng thu hồi các chất dinh dưỡng và năng lượng bằng các phương pháp hóa lý – sinh học kết hợp. Những đóng góp mới của luận án 1) Tạo bùn hạt thành công và đánh giá được khả năng ứng dụng, các điều kiện công nghệ thích hợp, cũng như khả năng thu hồi năng lượng (khí biogas) của thiết bị EGSB trong xử lý nước thải chế biến CSTN. Thiết bị EGSB hoạt động ổn định trong khoảng tải trọng 7-20 kg COD/m3ngày, hiệu suất xử lý COD trung bình trên 80%. 2) Đánh giá được khả năng và xác định được các điều kiện công nghệ thích hợp của phương pháp kết tủa MAP trong xử lý và thu hồi đồng thời nitơ và photpho trong nước thải chế biến CSTN.

Khi bổ sung đồng thời cả nguồn magie và photphat, hiệu suất loại bỏ N-NH4+, COD và khối lượng kết tủa thu hồi lần lượt là 80,9%, 34,8% và 4,85 g/L nước thải. 3 3) Phát triển thành công thiết bị phản ứng theo mẻ luân phiên (SBR) cải tiến có khả năng xử lý đồng thời các chất hữu cơ và nitơ trong nước thải chế biến CSTN với qui trình vận hành được đơn giản hóa và có khả năng tiết kiệm năng lượng cao. Hiệu quả xử lý của thiết bị SBR cải tiến được nâng cao rõ rệt so với thiết bị SBR thông thường. Hiệu suất xử lý COD, N-NH4+ và tổng nitơ (TN) trung bình là 97%, gần 100% và 94-97% trong khoảng tải trọng COD, N-NH4+ và TN tương ứng là 0,9-1,6 kg COD/m3ngày, 0,11-0,21 kg N-NH4+/m3ngày và 0,16- 0,31 kg TN/m3ngày.

4) Đề xuất được quy trình công nghệ xử lý nước thải chế biến cao su thiên nhiên theo hướng thu hồi các chất dinh dưỡng, năng lượng bằng các phương pháp hóa lý–sinh học kết hợp. Giá trị các thông số COD, N-NH4+ và TN trong nước thải sau xử lý đạt QCVN 01-MT: 2015/BTNMT. Tổng quan ngành công nghiệp chế biến cao su thiên nhiên (CSTN) Cây cao su (tên quốc tế là Hevea brasiliensis) do Columbus tìm thấy ở Châu Mỹ trong khoảng năm 1493 – 1496 và xâm nhập vào Châu Á trong khoảng năm 1876 – 1898. Thời tiết, thổ nhưỡng và những điều kiện khác ở Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á rất thích hợp với loại cây này.

Chính vì vậy, các nước Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Ấn Độ và Trung Quốc có sản lượng khai thác và thị phần xuất khẩu CSTN lớn nhất Thế Giới [10]. Hiện trạng phát triển ngành CSTN của Việt Nam Cây cao su được trồng đầu tiên tại Việt Nam năm 1877 và phát triển đến nay tại hầu hết các khu vực trong cả nước, trong đó diện tích trồng cao su lớn nhất là khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên [1, 10]. Diện tích và sản lượng CSTN của Việt Nam được thể hiện trong các Hình 1.000 tấn Năm Nước Hình 1. Diện tích và sản lượng CSTN Hình 1.

Sản lượng CSTN của Việt Nam và Việt Nam, năm 2000 – 2016 một số nước năm 2016 Từ năm 2000 đến nay, diện tích, năng suất và sản lượng CSTN của nước ta không ngừng tăng lên. Đến năm 2016, Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về sản lượng CSTN (1,032 triệu tấn) và đứng đầu thế giới về năng suất vườn cây cao su (1,688 tấn/ha). Tuy nhiên, cùng với xu hướng chung của thế giới, giá cao su xuất khẩu của nước ta biến động mạnh, năm 2011 sau khi đạt đỉnh, khoảng 4.000 USD/tấn, đã giảm mạnh xuống còn khoảng 1.400 USD/tấn vào năm 2015 và ổn định tại mức giá này đến nay. Việc giảm giá mạnh này đã tác động rất lớn đến hoạt động khai thác và sản xuất CSTN của nước ta [1].

Thành phần và tính chất mủ CSTN Latex là mủ cao su ở trạng thái phân tán nằm lơ lửng trong dung dịch chứa nhiều chất vô cơ và hữu cơ. Mủ cao su là hỗn hợp các cấu tử cao su nằm lơ lửng trong dung dịch gọi là nhũ thanh hoặc serium. Hạt cao su hình cầu, đường kính < 0,5 µm chuyển động hỗn loạn trong dung dịch. Trong 1g mủ cao su có khoảng 7,4.1012 hạt cao su được bao quanh bởi các protein giữ cho latex ở trạng thái ổn định.

Thành phần hóa học của mủ CSTN được thể hiện trong Bảng 1. Thành phần (%) hóa học của mủ CSTN TT Thành phần Hàm lượng TT Thành phần Hàm lượng 1 Cao su 30 – 40 4 Axits béo và dẫn xuất 1–2 2 Nước 52 – 70 5 Glucid và heterosid 1 3 Protein 2–3 6 Khoáng chất 0,3 – 0,7 Quá trình biến đổi trong mủ cao su gồm hai giai đoạn: Giai đoạn 1: Các vi sinh vật (VSV) có sẵn trong mủ cao su (xuất hiện và xâm nhập vào ngay sau khi mủ cao su chảy ra khỏi cây) tương tác với các thành phần phi cao su trong mủ cao su làm cho mủ cao su có tính axít; Giai đoạn 2: Quá trình thủy phân các lipids trong mủ cao su giải phóng các ion âm axít. Những ion âm này được hấp phụ lên bề mặt của những hạt cao su thay chỗ của màng protein và tương tác với các ion kim loại Mg và Ca có sẵn trong mủ cao su để hình thành các xà phòng kim loại không tan, kéo các hạt cao su lại với nhau, dẫn đến độ nhớt của mủ cao su tăng lên. Các enzym phân huỷ protein làm cho những hạt cao su lộ ra và tiếp xúc trực tiếp với nhau hình thành những hạt cao su lớn hơn, gây ra sự đông tụ.

Do đó, trong bảo quản phải bổ sung NH 3 để tăng pH ngăn cản sự đông tụ, ngược lại khi đánh đông phải bổ sung axít tạo điều kiện quá trình đông tụ xảy ra. Công nghệ chế biến mủ CSTN Trong chế biến cao su, mủ cao su sẽ được khuấy trộn đều trong một bồn chứa, pha loãng với nước sạch và để lắng trong một thời gian. Mủ cao su sau khi pha loãng được chuyển sang các mương đánh đông và cho thêm axit vào. Dưới tác dụng của axit, mủ cao su đông lại thành một khối tách khỏi phần dung dịch còn lại gọi là serum.

Các khối cao su sau đó được gia công bằng nhiều loại thiết bị cơ học khác để cho ra các hạt cốm có kích thước khoảng 3 – 5 mm. Các hạt cốm tiếp tục được làm khô bằng 6 các thiết bị sấy và cuối cùng được ép lại thành khối bằng các máy ép. Nhìn chung sơ đồ công nghệ chế biến CSTN được thể hiện như Hình 1. Mủ tạp NH3 Mủ nước Li tâm Mủ skim Ngâm rửa CH3COOH Đánh đông Nước Kéo/cán Nước thải Máy cắt Nước Sàng rung Nước Sấy Latex NH3 60% cao Ép su Thành phẩm Hình 1.

Sơ đồ công nghệ chế biến mủ CSTN 1. Đặc trưng nước thải chế biến CSTN 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu xử lý nước thải cao su bằng phương pháp hóa lý sinh học" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp hiệu quả trong việc xử lý nước thải từ ngành công nghiệp cao su. Tác giả phân tích các kỹ thuật hóa lý sinh học, nhấn mạnh lợi ích của việc áp dụng các phương pháp này để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình xử lý nước thải mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc phát triển bền vững trong ngành công nghiệp.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các phương pháp xử lý nước thải khác, hãy tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật môi trường nghiên cứu thiết kế hệ thống xử lý nước thải nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát quy mô trang trại tại xã xuân phổ huyện nghi xuân tỉnh hà tĩnh", nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về xử lý nước thải trong ngành nuôi trồng thủy sản.

Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ kỹ thuật môi trường nghiên cứu chế tạo than hoạt tính từ quả phượng và ứng dụng trong xử lý nước thải" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc sử dụng vật liệu tự nhiên trong xử lý nước thải.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ quản lý môi trường nghiên cứu tiềm năng phát triển chứng chỉ giảm phát thải cers từ xử lý nước thải chế biến thủy sản thu hồi biogas tại tỉnh an giang", một nghiên cứu liên quan đến việc giảm thiểu phát thải trong ngành chế biến thủy sản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp xử lý nước thải hiện nay.