phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương, 11 tiết. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trong sự phát triển của thế giới hiện đại, với những thành tựu to lớn của cách mạng khoa học và công nghệ, nền kinh tế đang chuyển dần sang chủ yếu dựa trên tri thức. Nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội. Các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng.
Vấn đề nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao luôn thu hút nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu của các nước trên nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Do vậy, để có cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu vấn đề này, trong chương này luận án tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN NHÂN LỰC, NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Hơn 30 năm qua, từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, năm 1986, vấn đề con người, nguồn nhân lực, nguồn nhân lực cho công nghiêp và vai trò của NNL đối với phát triển kinh tế- xã hội được nhiều nhà khoa học, học giả quan tâm nghiên cứu, nhất là từ năm 1996, khi nước ta xác định bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, những công trình về nhóm vấn đề này càng được quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý trong và ngoài nước: 1. Những nghiên cứu về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực ngành công nghiệp và vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội * Về nhóm vấn đề này có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa hoc, học giả trong nước, có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: Đoàn Văn Khái, Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam [68].
Tác giả đã làm rõ một số vấn đề chung về CNH, HĐH như: Tóm lược quá trình công nghiệp hóa trên thế giới; nội dung, bản chất, tính tất yếu và đặc điểm 9 của CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay; đồng thời làm rõ vai trò của nguồn lực con người đó là yếu tố quyết định sự nghiệp CNH, HĐH; thực trạng nguồn lực con người Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu CNH, HĐH. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra những phương hướng, quan điểm chỉ đạo và những giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt nam. Cuốn sách có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo trong việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người, trong đó có nguồn nhân lực chất lượng cao. Phạm Thành Nghị, Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [87].
Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản, những nhận thức mới như vấn đề vốn con người và phát triển vốn con người, các mô hình quản lý NNL. Các tác giả trình bày những kinh nghiệm quản lý NNL của các nước phát triển, kinh nghiệm của các nước Đông Á và các nước có nền kinh tế chuyển đổi; phân tích hiệu quả quản lý nguồn nhân lực và những yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Cá tác giả đã kiến nghị áp dụng những mô hình quản lý NNL phù hợp thay thế cho các mô hình đã lạc hậu. Cuốn sách đã đề xuất hệ thống những quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NNL. Hồ Sĩ Quý, Con người và phát triển con người [97].
Giáo trình trình bày những vấn đề cơ bản và có hệ thống về con người và phát triển con người, như phương pháp luận nghiên cứu con người, định nghĩa, khái niệm về con người, sự phát triển con người, nguồn lực con người, nhân cách, tiềm năng, tài năng, cộng đồng và cá nhân. Trình bày những vấn đề cơ bản về con người Việt Nam, vai trò nhân tố con người, chỉ ra những khả năng phát triển con ngừoi; xác định phương hướng, giải pháp xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung, Tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành phố Việt Nam [46]. Trong cuốn sách, các tác giả đã phân tích tác động của vốn con người đến quá trình tăng trưởng kinh tế thông qua 10 việc xem xét các nền kinh tế cấp tỉnh, thành phố của Việt Nam.
Mặc dù vốn con người bao gồm cả giáo dục, sức khỏe cũng như nhiều khía cạnh khác của vốn xã hội nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung vào giáo dục coi nó như là nhân tố cơ bản nhất của vốn con người. Cuốn sách cũng cho thấy vốn con người là nhân tố quan trọng khi giải thích sự tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố ở Việt Nam cũng như giải thích khoảng cách chênh lệch giữa các vùng kinh tế ở Việt Nam. Các tác giả cũng đưa ra những kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong đó nhấn mạnh sự gia tăng đầu tư vào giáo dục, đồng thời chú ý tới tác động khác nhau của vốn con người ở những vùng kinh tế khác nhau. Nguyễn Hữu Tiệp, Giáo trình nguồn nhân lực [108].
Giáo trình trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, như khái niệm, tiêu chí, phân loại, những yếu tố chi phối đến nguồn nhân lực; trình bày vấn đề giáo dục đào tạo nguồn nhân lực, quản lý, bố trí, sử dụng, trọng dụng, các chính sách, cơ chế đối với nguồn nhân lực đất nước. Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế [47]. Cuốn sách gồm các bài viết được sắp xếp thành hai phần: phần thứ nhất: CNH, HĐH ở Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa; phần thứ hai: giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn đề lý luận về CNH, HĐH.
Đặc biệt là vấn đề CNH, HĐH rút ngắn trong giai đoạn hiện nay; phân tích sâu sắc thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, qua đó đưa ra các giải pháp xây dựng giai cấp công nhân trong điều kiện mới theo quan điểm của Đảng. Mạc Văn Tiến, Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam thực trạng và giải pháp tại [109]. Bài viết đã có những phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân Việt Nam: Chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cẩu phát triển và hội nhập. Chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn thấp và còn khoảng cách khá lớn so với các nước phát triển trong khu vưc.
Trong lĩnh vực GDNN, tác giải đưa ra những giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 11 * Bên cạnh những công trình nghiên cứu cứu trong nước, vấn đề con người, nguồn nhân lực, nguồn nhân lực ngành công nghiệp và vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế- xã hội đã được nhiều nhà khoa học quốc tế quan tâm nghiên cứu với các góc độ nghiên cứu khác nhau, đáng chú ý là một số công trình tiêu biểu như: Vương Huy Diệu, Chiến lược quốc gia nhân tài biến đổi thế giới [29], đã trình bày chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (nhân tài) của Trung Quốc, phân tích những vấn đề cơ bản về nhân tài, đánh giá tình hình nhân tài Trung Quốc hiện nay, đề xuất những chủ trương, nội dung, chính sách đặc biệt là giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong thời kỳ phát triển mới. Lưu Tiểu Bình, Lý luận và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực [9], cho rằng trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng; việc khơi nguồn, phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lương cao có tầm quan trọng đặc biệt. Vì thế, để khai thác và phát huy nguồn nhân lực các quốc gia cần phải có lý luận và phương pháp đánh giá đúng đắn; đồng thời nêu lên một số vấn đề lý luận và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực.
Vương Xung, Chất lượng tăng trưởng kinh tế khu vực phía Tây Trung Quốc với việc khai thác nguồn nhân lực nông thôn [126], đã trình bày sự tăng trưởng kinh tế khu vực phía Tây Trung Quốc hiện nay, nêu lên những yếu tố của chất lượng tăng trưởng, trong đó chú trọng phân tích yếu tố nguồn nhân lực; từ đó chỉ ra một số vấn đề khai thác và phát huy nguồn nhân lực nông thôn, trong đó nhấn mạnh cần chú trọng đến giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực để đảm bảo và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế khu vực phía Tây Trung Quốc trong bối cảnh mới. Edgar Morin, Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai [52], tác giả đã nhấn mạnh tới vai trò trung tâm của giáo dục đối với con người trong xã hội ngày nay, tác giả đã luận giải về bảy tri thức cần phải trở thành nền tảng trong nền giáo dục tương lai để "những bộ óc được đào tạo tốt". Có thể kể đến những ấn phẩm đáng chú ý về chủ đề nguồn nhân lực của tổ chức quốc tế như Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), với những 12 báo cáo hàng năm về tình hình phát triển con người (Human development report), cung cấp một cách khá đầy đủ và cập nhật chỉ số phát triển con người của hầu hết các quốc gia trên thế giới được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp. Đặc biệt, UNDP đã đề ra 5 nhân tố của sự phát triển nguồn nhân lực, đó là giáo dục và đào tạo; sức khỏe và dinh dưỡng; môi trường; việc làm và sự giải phóng con người; trong đó giáo dục và đào tạo là bộ phận cơ bản nhất, quan trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực.