đặt vấn đề áp dụng BRT vào trong các bối cảnh khác nhau, đặc biệt là điều kiện đặc thù của các quốc gia đang phát triển ở mức trung bình thấp với tỷ lệ xe máy rất cao như Việt Nam. - Hướng nghiên cứu thứ hai trên thế giới là tập trung vào nhưng trường hop BRT cu thé. Các tác giả tập trung phân tích những khía cạnh ưu việt, nồi bật của các trường hợp thành công như TransMilenio ở Bogota, Colombia [37]. Quảng Châu, Trung Quốc [34].
Istabul, Thổ Nhĩ Kỳ [38], Lagos, Nigeria [54], Bên cạnh những trường hợp thành công, một số tác giả cũng tập trung phân tích những trường hợp được cho không thành công như Bangkok, Thái Lan [44], Ha Noi, Viet Nam [52]. Các nghiên cứu đã phân tích các trường hợp cụ thể với các kết qua thành công cũng như chưa thành công. Đồng thời một số nghiên cứu đã liệt kê rõ những giải pháp mà họ cho rằng là nguyên nhân dẫn tới thành công hoặc thất bại của từng trường hợp BRT cụ thé. Mặc dù một số nghiên cứu đã xác định các nhân tố có ảnh hưởng tới sự thành công hoặc thất bại của BRT, phần lớn nghiên cứu chưa chỉ rõ cơ chế ảnh hưởng của các nhân tố này, việc lượng hóa các mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới sự thành công/thất bại của BRT còn rất hạn chế.
Đồng thời cơ chế ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố này sẽ thay đổi ra sao trong các điều kiện kinh tế xã hội khác nhau hiện hoàn toàn chưa được xem xét phân tích. Đây cũng chính là một trong những khoảng trống mà nghiên cứu này sẽ tập trung giải quyết trong điều kiện của Đà Nẵng - Hướng nghiên cứu thứ ba là sự so sánh giữa nhiều hành lang BRT tại cùng một quốc gia như tại Úc [40], Án Độ [31], Mỹ [32], Trung Quốc [58], 7 hoặc thậm chí tại nhiều quốc gia tại Mỹ La Tinh và Châu Á như [36]. Các nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở dữ liệu tổng hợp của nhiều hệ thống (meta-data) nên thường rút ra được những kết luận mang tính chất tổng quan về hiện trạng và xu thế phát triển của BRT tại các quốc gia và trên thế giới. Mặc dù các nghiên cứu này có tác dụng cho thấy được các đặc điểm chung nhất về BRT đang diễn ra trên thế giới, các nghiên cứu này chưa đề cập nhiều tới vấn đề liệu các đô thị của các quốc gia đang phát triển có nên ap dung BRT, néu cé thi nén va can lam gi dé cé thể tối đa hóa của loại hình vận tai BRT.
- Hướng nghiên cứu thứ tư là tập trung phát triển các khung nghiên phân tích liên quan đến BRT. Ví dụ như [47] đề xuất khung phân tích các trở ngại, khó khăn khi thiết lập hệ thống BRT. Theo đó, các dự án BRT trên thế giới thường phải đối mặt với các vấn đề liên quan tới: Hệ thống và thể chế, sự tham gia của hệ thống chính trị, phương tiện cạnh tranh, sự tham gia cua cộng đồng, tài chính, thiết kế kỹ thuật, và xúc tiến hình ảnh. Trong khi đó, các tác giả của [48] đề xuất một phương pháp đánh giá dự án BRT dựa trên năm khoảng cách gồm: Mục tiêu của dự án BRT, công cụ đo lường và các điều kiện kèm theo, đo lường tương tác nội bộ, sự quan tâm về kỹ thuật và tài chính, các trở ngại và hiệu ứng không mong muốn.
Các nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở những phân tích chung liên quan tới các khía cạnh của BRT và khuyến cáo cụ thể cho những nhóm đối tượng cụ thê. Bởi vậy kết quả khuyến cáo cho một nhóm đối tượng (ví dụ một vài thành phó) có thể sẽ không có tác dụng với một số nhóm đối tượng có những đặc thù và điều kiện khác biệt. - Cần lưu ý ranh giới giữa các hướng nghiên cứu vẫn còn sự giao thoa. Mặc dù sự hình thành và phát triển của BRT đã được nêu và phân tích hết sức đa dạng và chỉ tiết trong tổng quan nghiên cứu trên thế giới, tuy nhiên vẫn có những khoảng trống nhất định.
Thứ nhất, sự phát triển BRT đang có xu hướng chững lại vì thế xem xét việc thực hiện các quy hoạch xây dựng BRT ở các nước đang phát triển vẫn là 8 mối quan tâm lớn để nhận diện những khó khăn, trở ngại mới đối với loại hình này. Thứ hai, các nhà khoa học và quy hoạch cũng rất quan tâm tới việc xây dựng các hành lang BRT tiếp theo trong bối cảnh sự xây dựng ban đầu đã không thành công ở một quốc gia đang phát triển. Thứ ba, BRT là sự kết hợp sáng tạo của xe buýt truyền thống và đường sắt đô thị. Trên thực tế, không có tiêu chí cứng hay khái niệm toàn cầu về BRT, do đó thế giới rất muốn có thêm những kinh nghiệm về sự thành công của BRT trên cơ sở những sáng kiến, đột phá mới liên quan tới BRT.
Tổng quan nghiên cứu thế giới đóng vai trò quan trọng trong việc định hình về sự phát triển cũng như những yếu tố cần thiết cho sự hình thành của BRT. Đồng thời nó cũng nhắn mạnh rằng do đặc thù riêng nên không thê áp dụng một cách máy móc các mô hình trên thế giới cho một đô thị tại Việt Nam, chang hạn như TP. Nghiên cứu sinh nhận thấy một số nội dung có thể trích dẫn, kế thừa một cách sáng tạo từ các công trình quốc tế gồm: khái niệm về hệ thống BRT, đặc điểm của hệ thống BRT, các yếu tố cầu thành hệ thống BRT với các nội dung như cơ sở hạ tầng, hệ thống dịch vụ bán và thu vé, địch quảng bá, phân luồng, tuyến, các chỉ tiêu khai thác kỹ thuật, đồng thời, cũng có được những thông tin quý báu về kinh nghiệm xây dựng và vận hành hệ thống BRT ở các quốc gia khác trên thế giới. Những nghiên cứu ở trong nước Có nhiều công trình nghiên cứu về VTHKCC, trong đó một số rất ít đề cập đến loại hình BRT, dưới nhiều góc độ khác nhau dựa trên nhiều cách thức tiếp cận nhằm giải quyết bài toán là làm sao vận hành hiệu quả các phương tiện giao thông công cộng, hướng đến phục vụ ngày càng tốt hon, đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người dân.
Một số công trình nghiên cứu có thé ké đến như: e Nhóm các công trình nghiên cứu về mô hình, tiêu chí đánh giá hoạt động VTHKCC Nhóm nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng VTHKCC bằng xe buýt nhanh (BRT) phù hợp với điều kiện Việt Nam, do Lê Quang Huy 9 làm chủ nhiệm đề tài thực hiện nghiên cứu cấp Bộ GTVT (mã số: DT 184069) [12] cũng hướng đến tìm kiếm giải pháp vận hành hiệu quả VTHKCC bằng xe buýt qua việc hoàn thiện mạng lưới tuyến. Nghiên cứu này phần lớn tập trung nghiên cứu BRT ở góc độ kỳ vọng, trong khi các điều kiện và giải pháp đề đạt được kỳ vọng này thì chưa được giải quyết một cách toàn diện. Các kỳ ấn phẩm thông tin nội bộ của Cục hạ tang kỹ thuật - Bộ Xây dựng nghiên cứu tiểu hợp phần III (D)- Dự án phát triển GTĐT Hà Nội, tháng 6/2014 đã nghiên cứu và giới thiệu một số nguyên tắc cơ bản trong quy hoạch hệ thống xe buýt nhanh BRT. Hệ thống BRT Lite của Lagos (Nigeria) chính là một ví dụ thực tiễn cho quan điểm quy hoạch.
Nhóm tài liệu này nhóm nghiên cứu I và nhóm nghiên cứu số 2, và có những ưu nhược điềm đã được phân tích ở trên. Nghiên cứu về tiêu chí đánh giá VTHKCC,[10] “Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu đánh giá VTHKCC bằng xe buýt” tại trường Đại học Giao thông vận tải đã thiết lập và xác định các chỉ tiêu, phương pháp đánh giá có thể tham khảo đề đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống VTHKCC trong các đô thị ở Việt Nam. Từ đó, giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước có cách nhìn nhận cụ thể hơn về đánh giá hệ thống VTHKCC bằng xe buýt ở các đô thị và Nhà nước có thê đưa ra những giải pháp nhằm tối đa hóa lợi ích mang lại từ loại hình vận tải này. Mặc dù vậy sự khác biệt khá lớn giữa xe buýt chung và loại hình vận tải BRT làm cho các nội dung trong nghiên cứu này chỉ có khả năng áp dụng ở mức độ nhất định với nghiên cứu BRT tại Việt Nam.
Nghiên cứu về mô hình quản lý VTHKCC ở Việt Nam, luận án tiến sỹ [24] với đề tài “Nghiên cứu mô hình quản lý VTHKCC trong các thành phố Việt Nam” tại trường Đại học Giao thông vận tải cứu đã chỉ ra được những bất cập của các mô hình quản lý VTHKCC ở các thành phố Việt Nam hiện nay, từ đó xây dựng các mô hình quản lý Nhà nước về VTHKCC trong các thành phố phù hợp với điều kiện và tiến trình phát triển của đô thị Việt Nam đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu của luận án hướng đến nâng cao hiệu quả công tác quản lý điều hành hoạt động buýt nói riêng và hoạt động hệ thống 10 buýt nói chung. Nhóm nghiên cứu này chỉ tập trung vào lĩnh vực là chủ thể quản lý, là một trong những nội dung liên quan tới phat trién BRT. Nghiên cứu về mô hình quản lý VTHKCC ở Việt Nam, luận án tiến sỹ [15] với đề tài “Xây dựng hệ thống tiêu chuân VTHKCC bằng xe buýt trong thành phố ứng dụng ở TP.
Hà Nội” đã làm rõ các nhóm tiêu chuẩn của hệ thống VTHKCC dựa trên các tiêu chí, chỉ tiêu và thực tiễn cũng như kinh nghiệm nghiên cứu trong và ngoài nước đề xuất một số tiêu chuân cho mạng lưới tuyến, kết cấu hạ tầng giao thông và phương tiện VTHKCC bằng xe buýt, đồng thời, đưa ra những tiêu chuẩn khung cho VTHKCC bằng xe buýt, áp dụng các tiêu chuẩn vào hoạt động VTHKCC tại một số đô thị điển hình, từ đó đúc rút ra các bài học để có được một hệ thống VTHKCC tốt hoạt động có hiệu quả. Đây là nhóm nghiên cứu thuộc nhóm [ được thực hiện trong điều kiện Việt Nam, dừng lại ở việc xem xét hệ thống VTHKCC bằng xe buýt nói chung. e Nhóm các công trình nghiên cứu về chất lượng hoạt động VTHKCC Luận án Tiến sĩ [21] với đề tài “Những biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô” đã phân tích các yếu tổ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ VTHK và đề xuất những biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô.