CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Trong chương này tập trung một số nội dung chính như đưa ra tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu và những câu hỏi và giả thuyết cần đặt ra cho nghiên cứu. Trên cơ sở đó, luận án xác định giới hạn nghiên cứu về đối tượng, nội dung, không gian và thời gian. Tiếp đến, mô tả cơ bản những nội dung của luận án tập trung nghiên cứu, đồng thời nêu ra một số ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trong phần này trình bày tổng quan các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu, cung cấp những thông tin cơ bản về lĩnh vực nghiên cứu cũng như những thông tin có liện quan đến nội dung nghiên cứu.
Một số bài báo về hệ thống nuôi tôm nước lợ cũng được trình bày tóm tắt. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9 Phần này trình bày một cách tổng thể cơ sở lý luận, các khái niệm, đánh giá lý thuyết và thực nghiệm về năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Từ đó, đề ra phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu, khung nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu và phương pháp phân tích trong nghiên cứu. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Trình bày tổng quan điều kiện kinh tế-xã hội tỉnh Sóc Trăng, tình hình phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu thủy sản nói chung và nuôi tôm nước lợ nói riêng.
Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển nuôi tôm nước lợ. phân tích thực trạng sản xuất, tiêu thụ, các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận, TE, EE, các yếu tố ảnh hưởng đến TE, EE của nông hộ nuôi TTCTTC, TSTC, TSQCCT. Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiện quả sản xuất của mô hình nuôi tôm nước lợ ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng. CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÔ HÌNH NUÔI TÔM NƯỚC LỢ CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO 10 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trong chương 2, một số nội dung chính được trình bày như: tổng quan các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu, nó cung cấp những thông tin cơ bản về lĩnh vực nghiên cứu cũng như những thông tin có liện quan đến nội dung nghiên cứu.
Một số bài báo viết về năng suất, hiệu quả sản xuất nói chung cũng như trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nói riêng, hệ thống nuôi tôm nước lợ cũng được trình bày khái quát.1 PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT Hiệu quả trong hoạt động sản xuất là sự đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế. Hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là sự đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng nền kinh tế nông nghiệp, tạo ra sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống con người. Việc đánh giá hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp là việc xem khả năng của nông hộ sản xuất ra một mức sản lượng từ một mức chi phí thấp nhất, trên cơ sở đó nông hộ được xem là đã sử dụng tốt nguồn lực sẵn có. Hiệu quả sản xuất được các nhà kinh tế như Farrell (1957), Aigner and Chu (1968), Aigner et al (1977), Meeusen et al (1971), Tim Coelli (2005) định nghĩa là tỷ lệ giữa năng suất, sản lượng và lợi nhuận đạt được của người sản xuất so với mức tiềm năng tối đa mà họ có thể đạt được.
TE là khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước từ một lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo ra một lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ nhất định. CE là khả năng lựa chọn được một lượng đầu vào tối ưu mà ở đó giá trị sản phẩm biên (marginal revenue product) của đơn vị đầu vào cuối cùng bằng với giá của đầu vào đó. Hiệu quả kinh tế hay hiệu quả tổng cộng là tích của TE và CE. Việc đo lượng hiệu quả trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nhiều nhà khoa học sử dụng phổ biến bằng hai phương pháp.
Một là, phương pháp biên ngẫu nhiên (SFA) dưới dạng hàm sản xuất, hàm lợi nhuận, hàm chi phí. Hai là phương pháp màng bao dữ liệu (DEA) hoặc kết hợp cả hai phương pháp trên. Một số nhà nghiên cứu sử dụng SFA tiêu biểu như: Timmer (1971), Bagi (1982), Bravo-Ureta et al (1986), Ali và Flinn (1989), Carter và Zlang (1994), Nguyễn Văn Song (2005), Poulomi Bhattacharya (2005), Phạm Lê Thông (2011), Phạm Lê Thông và cộng sự (2011), Phạm Lê Thông và Nguyễn Thị 11 Phượng (2015), Nguyễn Hữu Đặng (2011), Nguyễn Hữu Đặng (2012), Đỗ Thị Hương và Nguyễn Văn Ngọc (2013), Ghee-Thean et al (2016),… Một số nhà khoa học sử dụng phương pháp DEA tiêu biểu như: Nguyễn Khắc Minh (2008), Quan Minh Nhựt (2005), Quan Minh Nhựt (2009); Hoàng Văn Cường (2009), Đặng Hoàng Xuân Huy và cộng sự (2009), Đặng Hoàng Xuân Huy và Trần Văn Thắng (2013), Đặng Hoàng Xuân Huy và Phạm Hồng Mạnh (2013), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2015), … Và một số nghiên cứu được các nhà khoa học sử dụng kết hợp cả hai phương pháp như: Dawson (1985), Abdul Wadud và Ban White (2000), Lê Kim Long và Đặng Hoàng Xuân Huy (2015),… Mỗi phương pháp phân tích đều có thế mạnh và hạn chế riêng. Hạn chế lớn nhất của DEA là chỉ cho phép người nghiên cứu so sánh hiệu quả của những đơn vị sản xuất trong cùng một mẫu của tổng thể nghiên cứu.
Nghĩa là hiệu quả sản xuất của một đơn vị không thể so sánh với hiệu quả của những đơn vị trong mẫu của tổng thể khác (Quan Minh Nhựt, 2009). Đồng thời, DEA không thể kiểm định giả thuyết thống kê về mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra (Phạm Lê Thông và Đặng Thị Phương Mai, 2015). DEA không thể tách biệt tác động của những yếu tố không quan sát lên đầu ra và giả định mọi chênh lệch giữa đầu ra đạt được so với đầu ra tối đa có thể đạt được đây là phần phi hiệu quả. Hơn nữa DEA cũng rất nhạy với sai số ngẫu nhiên, cho nên nếu có sai số ngẫu nhiên tồn tại trong số liệu thì chúng sẽ ảnh hưởng đến các kết quả đo lường hiệu quả.
Do vậy, kết quả ước lượng DEA có thể rất nhạy cảm khi có những quan sát cực đoan (Coelli et al, 2005). Đới với việc tiếp cận theo phương pháp SFA có thể khắc phục một số nhược điểm của phương pháp DEA. Tuy nhiệu, SFA đòi hỏi phải chỉ định một dạng hàm cụ thể đối với mối quan hệ đầu vào và đầu ra. Tuy nhiên, việc lựa chọn dạng hàm sai sẽ dẫn đến kết quả phân tích sai lệch (Coelli et al, 2005).
Cách tiếp cận DEA không đòi hỏi các ràng buộc về dạng hàm cụ thể, cũng như không đòi hỏi các ràng buộc về các nhân tố ảnh hưởng đến không hiệu quả. Tóm lại, việc lựa chọn phương pháp trong những nghiên cứu đo lường hiệu quả sản xuất nông nghiệp là hàm biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA) hay phương pháp màng bao dữ liệu (Data Enveloping Analysis - DEA) hoặc kết hợp cả hai phương pháp là phụ thuộc vào nhiều vấn đề. Trong đó, quan trọng nhất là mục tiêu nghiên cứu và đặc điểm của dữ liệu nghiên cứu.2 HIỆU QUẢ KINH TẾ Những vấn đề liên quan đến phân tích hiệu quả trong sản xuất nói chung và trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản nói riêng, được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện. Một trong những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất đó là EE và hiệu 12 quả này được xem là mức lợi nhuận mà người sản xuất đạt được trong quá trình sản xuất.
EE là thước đo mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn các yếu tố đầu vào và đầu ra một cách tối đa hay nói cách khác là lợi nhuận của nhà sản xuất đạt được tối đa. EE là tích số giữa TE và CE. Vì vậy, nông hộ muốn đạt được EE trong sản xuất thủy sản thì cần phải đạt được cả TE và CE (Farrell, 1957; Theodore, 1964; Rizzo, 1979; Ellis, 1993, Chavas et al 2005; Quan Minh Nhựt, 2009; Phạm Lê Thông, 2011; Phạm Lê Thông và Đặng Thị Phương Mai, 2015; Nguyễn Hữu Đăng, 2012,…). Việc đo lường EE trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp trong và ngoài nước sử dụng phương pháp đo lường chủ yếu là phương pháp SFA và DEA hoặc kết hợp cả hai phương pháp.
Đối với những nghiên cứu sử dụng hàm biên ngẫu nhiên (SFA) dưới dạng hàm lợi nhuận và mô hình hiệu ứng phi hiệu quả để ước lượng EE cho lĩnh vực nông nghiệp, tiêu biểu như: Ali et al (1989) ước lượng EE của nông dân trồng lúa Pakistan; Abdulai et al (1998) phân tích EE thông qua việc đo lường tính kém hiệu quả lợi nhuận của nông hộ trồng lúa vùng Bắc Ghana. Kết quả phân tích đã chỉ ra nguồn vốn, nhân lực (trình độ học vấn), khả năng tiếp cận vốn tín dụng, khả năng chuyên môn hóa góp phần tích cực vào hiệu quả sản xuất; Rahman (2003) ước lượng EE mô hình sản xuất lúa của nông dân tại Bangladesh đã chi ra phần kém hiệu quả chủ yếu là do thổ nhưỡng, kinh nghiệm, hệ thống cơ sở hạ tầng và các hoạt động dịch vụ khuyến nông. Nguyễn Thanh Long và cộng sự (2010b) phân tích các khía cạnh kinh tế và kỹ thuật các mô hình nuôi thủy sản ven biển tỉnh Sóc Trăng, nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2008 đến tháng 12/2008. Kết quả cho thấy, mô hình nuôi thủy sản ven biển tỉnh Sóc Trăng đa dạng, ngày càng thâm canh hóa và có nhiều loài mới được đưa vào nuôi.
Mật độ thả nuôi của mô hình nuôi TSTC là 26,29 con/m2; bán thâm canh là 15,02 con/m2, quảng canh cải tiến (QCCT) là 7,56 con/m2 ; tôm – lúa là 7,74 con/m2 và có năng suất lần lượt là 4.504 và 919 kg/vụ/ha. Lợi nhuận của mô hình nuôi TSTC là 183,1 triệu đồng/ha; bán thâm canh là 102,2 triệu đồng/ha, quảng canh cải tiến là 50,4 triệu đồng/vụ/ha; tôm – lúa là 28,6 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại phân tích khía cạnh tài chính, kỹ thuật chưa phân tích EE. Phạm Lê Thông và cộng sự (2011) ước lượng EE từ hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb-Doaglas, dựa trên số liệu thu thập từ 479 nông hộ sản xuất lúa, năm 2010 ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, lợi nhuận trung bình của các nông hộ trong vụ Hè Thu và Thu Đông lần lượt là 7,8 và 6,3 triệu đồng/ha.