Tổng quan luận án

Vấn đề xây dựng và hoàn thiện quy trình vận hành hệ thống liên hồ chứa nhằm phòng chống lũ lụt cho hạ du là một nhiệm vụ có tính cấp thiết cao trong công tác quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam. Ngày 13 tháng 10 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1879/QĐ-TTg phê duyệt danh mục các hồ thủy lợi, thủy điện trên các lưu vực sông phải xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa, trong đó có lưu vực sông Ba. Trên cơ sở đó, các quy định pháp lý liên tiếp được ban hành gồm Quyết định số 1757/QĐ-TTg ngày 23 tháng 9 năm 2010 (Quy trình 1757), Quyết định số 1077/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2014 (Quy trình 1077), và Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy trình 1077.

Mặc dù hệ thống văn bản pháp lý đã từng bước được hoàn thiện, thực tế vận hành hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Ba theo Quy trình 1077 vẫn bộc lộ các bất cập lớn:

  • Khi xuất hiện mưa lớn sinh lũ cục bộ ở phần hạ lưu sông Ba hoặc chỉ mưa tập trung tại tiểu lưu vực hồ Krông H'Năng, việc quy định các hồ thượng lưu như Ka Nak và Ayun Hạ phải đồng loạt xả nước đón lũ gây lãng phí nguồn nước, không mang lại hiệu quả cắt lũ thực tế và làm suy giảm sản lượng phát điện.
  • Quy định tại khoản 3 Điều 5 của Quy trình 1077 yêu cầu trong mùa lũ khi chưa tham gia giảm lũ cho hạ du, mực nước các hồ không được vượt mực nước cao nhất trước lũ (MNCNTL). Điều này làm giảm cột nước phát điện trong thời gian dài và tiềm ẩn nguy cơ không tích đủ nước phục vụ mùa khô năm sau.
  • Công tác dự báo khí tượng thủy văn đối với các sông lớn khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên hiện nay chỉ đạt mức đảm bảo 75% đến 80% với thời gian dự kiến 24 giờ; sai số tăng cao khi dự báo trước 48 đến 72 giờ, và chưa thể đạt độ tin cậy đối với dự báo từ 3 đến 5 ngày.
  • Mâu thuẫn giữa nhiệm vụ an toàn phát điện và nhiệm vụ phòng lũ hạ du ngày càng gia tăng dưới tác động của biến đổi khí hậu. Trong khi đó, phương pháp Logic mờ (Fuzzy Logic) vốn có ưu thế trong việc xử lý các yếu tố đầu vào mang tính ngẫu nhiên và bất định nhưng chưa được nghiên cứu áp dụng sâu trong lĩnh vực vận hành hồ chứa tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:

  1. Nghiên cứu ứng dụng Logic mờ xây dựng mô hình toán phục vụ vận hành hệ thống liên hồ chứa chống lũ.
  2. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất một số nội dung điều chỉnh quy trình vận hành hệ thống liên hồ chứa chống lũ hạ du lưu vực sông Ba.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là bài toán vận hành hệ thống liên hồ chứa chống lũ cho hạ du. Phạm vi nghiên cứu bao gồm hệ thống 5 hồ chứa lớn có nhiệm vụ điều tiết giảm lũ trên lưu vực sông Ba: Ka Nak - An Khê, Ayun Hạ, Krông H'Năng, Sông Ba Hạ và Sông Hinh. Phạm vi thời gian tập trung vào mùa lũ hàng năm (từ ngày 01 tháng 9 đến ngày 15 tháng 12).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu vận hành hệ thống liên hồ chứa trên thế giới và tại Việt Nam được tác giả hệ thống hóa qua các hướng tiếp cận:

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Về nguyên tắc phối hợp vận hành: Hệ thống hồ bậc thang áp dụng quy tắc tích nước vào hồ phía trên trước rồi đến hồ phía dưới; khi xả tạo dung tích đón đợt lũ tiếp theo thì xả hồ phía dưới trước. Đối với hệ thống hồ song song, nguyên tắc điều hành dựa trên việc cân bằng dung tích cắt lũ và lượng dòng chảy đến, ưu tiên giữ dung tích phòng lũ cho hồ có dự báo lượng lũ lớn hơn.

Về phương pháp tối ưu hóa: Young (1967) đề xuất phương pháp quy hoạch động Monte-Carlo; Karamouz và Houck (1987) phát triển quy hoạch động tất định kết hợp hồi quy (DPR); Bhaskar và Whitlatch (1980) kết hợp quy hoạch tuyến tính nhiều biến; phương pháp quy hoạch động ngẫu nhiên (SDP) được phát triển bởi Butcher, Loucks. Mô hình kết hợp quy hoạch phi tuyến với mô hình mô phỏng dòng chảy DWOPER đã được áp dụng cho hồ Travis (Texas) [74]. Phương pháp Folded Dynamic Programming (FDP) được áp dụng cho hồ Hirakud thuộc lưu vực sông Mahanadi, Ấn Độ [56]. Các thuật toán tiến hóa cũng được ứng dụng rộng rãi: East và Hall (1994), Fahmy, Oliveira và Loucks (1997), Sharif và Wardlaw (2000) áp dụng thuật toán di truyền (GA) cho hệ thống hồ sông Bratas (Indonesia); Juran Ali Ahmed và Arup Kumar Sarma (2005) áp dụng GA cho hồ sông Pagladia; Janga Reddy và D. Nagesh Kumar (2006) áp dụng thuật toán tiến hóa đa mục tiêu (MOEA) cho hồ Hirakud; Jothiprakash và Ganesan Shanthi (2007) áp dụng GA cho hồ Pechiparai. Tuy nhiên, W. Labadie [62], Yeh (1985) và Wurbs (1993) đã chỉ ra 7 trở ngại chính của mô hình tối ưu hóa trong quản lý hồ chứa thực tế, bao gồm sự phức tạp về toán học, khó tiếp nhận đối với nhà điều hành và sự thiếu linh hoạt khi xử lý các yếu tố bất định.

Về phương pháp mô phỏng và kết hợp mô phỏng - tối ưu: Các mô hình mô phỏng phổ biến gồm HEC-5, HEC-RESSIM (Klipsch và cộng sự, 2002), POWERSIM (Varvel và Lansey, 2002), VENSIM (Caballero và cộng sự, 2001), MIKE BASIN, MITSIM, MIKE 11. Hướng kết hợp mô phỏng với tối ưu hóa được Loucks [58], Wurbs (1993), Labadie (2004) đề xuất nhằm sàng lọc sơ bộ các giải pháp. Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2007 đã kết hợp mô hình mô phỏng MIKE 11 với thuật toán tối ưu SCE (Shuffled Complex Evolution) để tối ưu hóa vận hành hồ Hòa Bình.

Về ứng dụng Logic mờ: Zadeh (1965) đặt nền móng cho lý thuyết tập mờ. Trong lĩnh vực hồ chứa, Savic và Simonovic (1991) ứng dụng tập mờ để đánh giá rủi ro; Shrestha và cộng sự (1996) mô tả quan hệ vào - ra của hồ chứa bằng tương quan mờ; Cheng Chuntian (1999) xây dựng mô hình tối ưu mờ điều hành lũ thời gian thực; Panigrahi, Russell và Campbell (1996) xây dựng luật mờ cho hồ đơn cấp nước; Dubrovin và cộng sự (2002) áp dụng mô hình quy tắc mờ cho hồ Päijänne (Phần Lan); các nghiên cứu tại Ấn Độ và Iran kết hợp Logic mờ với quy hoạch tuyến tính hoặc thuật toán MOPSO cho hồ Jayakwadi [77], hồ Ukai [81], và hồ Zohre [60].

Các nghiên cứu tại Việt Nam và trên lưu vực sông Ba

Tại Việt Nam, các nghiên cứu vận hành hồ chứa phòng lũ được thực hiện bởi Công ty Tư vấn Điện I (1991), Viện Quy hoạch và Quản lý nước (1991), Nguyễn Văn Tường (1996), Hoàng Minh Tuyển (2002), Lâm Hùng Sơn (2005), Viện Khoa học Thủy lợi (2006), Trần Hồng Thái (2005), Ngô Lê Long (2006), Hà Văn Khối (2010), Nguyễn Hữu Khải và Lê Thị Huệ (2007), Nguyễn Thế Hùng và Lê Hùng (2009). Việc ứng dụng Logic mờ trong vận hành hồ chứa mùa kiệt bước đầu được Nguyễn Mai Đăng và Trịnh Xuân Mạnh (2014) thực hiện cho hồ Cửa Đạt.

Riêng trên lưu vực sông Ba: Đề tài cấp nhà nước KC.30/06-10 do Nguyễn Hữu Khải (2011) chủ nhiệm đã sử dụng mô hình HEC-RESSIM kết hợp MIKE 11 và MIKE-NAM để mô phỏng điều tiết hệ thống liên hồ [18]; Lương Hữu Dũng nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ vận hành kiểm soát lũ hệ thống liên hồ sông Ba; Đặng Thanh Mai và cộng sự (2015, 2017) nghiên cứu hệ thống dự báo, cảnh báo lũ, ngập lụt bằng mô hình NAM, HEC-HMS và Mike 11-GIS.

Khoảng trống nghiên cứu: Các nghiên cứu trước đây tại lưu vực sông Ba chủ yếu dựa trên phương pháp mô phỏng kịch bản tất định hoặc tối ưu hóa truyền thống, vốn phụ thuộc chặt chẽ vào độ chính xác của dự báo thủy văn. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về phương pháp luận điều hành hệ thống liên hồ chứa chống lũ trong điều kiện thông tin đầu vào mang tính ngẫu nhiên, không chắc chắn bằng cách ứng dụng lý thuyết Logic mờ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết Logic mờ và Bộ điều khiển mờ (FLC)

Lý thuyết tập mờ được khởi xướng bởi L.A. Zadeh (1965). Tập mờ $A$ xác định trên không gian tham chiếu $X$ là tập hợp các cặp giá trị:

$$A = \left{ (x, \mu_A(x)) \mid x \in X, \mu_A(x) \in [0, 1] \right}$$

Trong đó $\mu_A(x)$ là hàm liên thuộc (Membership Function - MF). Các dạng hàm liên thuộc chuẩn được sử dụng là dạng hình tam giác và hình thang. Tập mờ hình thang được xác định bởi bộ 4 giá trị $(a, b, c, d)$. Giá của tập mờ được định nghĩa là $\text{Support}(A) = {x \in X \mid \mu_A(x) > 0}$, và độ cao của tập mờ là $\text{height}(A) = \sup_{x \in X} \mu_A(x)$.

Các toán tử cơ bản gồm:

  • Giao của hai tập mờ: $\mu_{A \cap B}(x) = \min{\mu_A(x), \mu_B(x)}$
  • Hợp của hai tập mờ: $\mu_{A \cup B}(x) = \max{\mu_A(x), \mu_B(x)}$

Cấu trúc Bộ điều khiển mờ (Fuzzy Logic Controller - FLC) bao gồm 4 khối chức năng:

  1. Mờ hóa (Fuzzification): Chuyển đổi các giá trị đầu vào rõ (lưu lượng đến hồ $Q_{\text{đến}}$, mực nước hồ $H_{\text{hồ}}$, mực nước khống chế hạ du $H_{\text{hạ du}}$) thành các giá trị mờ thông qua các hàm liên thuộc.
  2. Cơ sở luật mờ (Fuzzy Rule Base): Thiết lập tập hợp các mệnh đề điều khiển dạng "IF-THEN" dựa trên kiến thức chuyên gia và quy luật thủy lực. Liên kết các điều kiện trong quy tắc sử dụng toán tử AND ($\min$) và OR ($\max$).
  3. Hệ suy diễn mờ (Fuzzy Inference System - FIS): Áp dụng quy tắc suy luận hợp thành (generalized modus ponens) thông qua phép hợp thành max-min hoặc max-prod.
  4. Giải mờ (Defuzzification): Chuyển đổi tập đầu ra mờ thành giá trị rõ (lưu lượng xả qua công trình $Q_{\text{xả}}$). Các phương pháp giải mờ chính gồm: Phương pháp trọng tâm (Center of Gravity - COG), phương pháp trọng tâm của tổng (Center of Sums - COS), và phương pháp trung bình có trọng số (Weighted Average).

Phương pháp diễn toán dòng chảy Muskingum - Cunge

Để mô phỏng quá trình truyền sóng lũ trong các đoạn sông giữa các hồ chứa và từ hồ chứa về hạ du, phương pháp Muskingum được áp dụng dựa trên quan hệ giữa dung tích trữ $S$ với lưu lượng vào $I$ và lưu lượng ra $O$:

$$S = K[X \cdot I + (1 - X) \cdot O]$$

Trong đó $K$ là thời gian truyền lũ qua đoạn sông; $X$ là trọng số không thứ nguyên ($0 \le X \le 0{,}5$). Kết hợp với phương trình liên tục dạng sai phân, lưu lượng xả tại thời điểm $t$ được xác định theo công thức:

$$O_t = C_1 I_t + C_2 I_{t-1} + C_3 O_{t-1}$$

Các hệ số $C_1, C_2, C_3$ thỏa mãn điều kiện $C_1 + C_2 + C_3 = 1$. Việc xác định và ràng buộc các tham số $K$, $X$, bước không gian $\Delta x$ và bước thời gian $\Delta t$ được thực hiện theo tiêu chuẩn của sơ đồ Muskingum-Cunge.

Phương pháp và công cụ nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp:

  • Phương pháp tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống.
  • Phương pháp mô hình hóa toán học: Tích hợp bộ điều khiển mờ và mô hình diễn toán dòng chảy lòng dẫn.
  • Công cụ phần mềm: Sử dụng môi trường tính toán kỹ thuật MATLAB và hộp công cụ Fuzzy Logic Toolbox (bao gồm các module: Fuzzy Logic Designer, Membership Function Editor, Rule Editor, Rule Viewer, Surface Viewer) kết hợp Simulink.
  • Dữ liệu sử dụng: Tài liệu địa hình lòng dẫn, thông số kỹ thuật công trình 5 hồ chứa, chuỗi số liệu thủy văn lịch sử và số liệu quan trắc thực tế các trận lũ lớn (1981, 1988, 1993, 2013) tại các trạm thủy văn An Khê, Ayun Pa, Củng Sơn, Phú Lâm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành hệ thống liên hồ chứa

Chương 1 trình bày tổng quan các cơ sở lý luận, phương pháp tính toán vận hành hồ chứa trên thế giới và ở Việt Nam. Tác giả phân tích chi tiết quá trình hình thành các quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba qua các giai đoạn: Quy trình 1757 (năm 2010), Quy trình 1077 (năm 2014) và Quyết định số 282/QĐ-TTg (năm 2017).

Bảng so sánh thông số vận hành giữa hai quy trình chính trên lưu vực sông Ba:

Tên hồ chứa Mực nước đón lũ theo Quy trình 1757 (m) Mực nước cao nhất trước lũ theo Quy trình 1077 (m) Mực nước đón lũ theo Quy trình 1077 (m)
Sông Ba Hạ 103,0 103,0 102,0
Sông Hinh 207,0 207,0 204,5
Krông H’Năng 252,5 252,5 251,5
Ka Nak 513,0 513,0 506,0
Ayun Hạ 203,0 203,0 202,0

So với Quy trình 1757, Quy trình 1077 đã hạ thấp cao trình mực nước đón lũ của cả 5 hồ chứa, làm tăng tổng dung tích đón lũ của toàn hệ thống thêm khoảng 269,7 triệu m³. Tuy nhiên, việc duy trì mực nước hồ không vượt quá MNCNTL trong suốt mùa lũ đã gây suy giảm hiệu quả phát điện và tạo ra sự bất hợp lý khi phải xả đón lũ đồng loạt trong các tình huống mưa cục bộ.

Chương 2. Cơ sở thiết lập bài toán vận hành hệ thống liên hồ chứa chống lũ hạ du theo Logic mờ

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở toán học cho bài toán điều hành liên hồ chứa bằng cách ứng dụng Logic mờ:

  • Xác lập cấu trúc bộ điều khiển mờ cho từng hồ chứa và toàn bộ hệ thống liên hồ.
  • Định nghĩa các biến ngôn ngữ đầu vào gồm: Lưu lượng lũ đến hồ ($Q_{\text{đến}}$), Mực nước hồ hiện tại ($H_{\text{hồ}}$), Mực nước tại các trạm thủy văn kiểm soát ở hạ du ($H_{\text{hạ du}}$).
  • Định nghĩa biến ngôn ngữ đầu ra: Lưu lượng xả qua công trình ($Q_{\text{xả}}$).
  • Xây dựng các dạng hàm liên thuộc hình tam giác và hình thang biểu diễn mức độ thuộc của các đại lượng thủy văn.
  • Thiết lập hệ thống luật mờ điều khiển theo cấu trúc IF-THEN, mô phỏng các quyết định vận hành xả/trữ theo thời gian thực tương ứng với từng trạng thái của hồ và hạ du.
  • Tích hợp phương pháp diễn toán dòng chảy lũ Muskingum-Cunge vào mô hình nhằm mô phỏng sự lan truyền sóng lũ dọc theo mạng lưới sông Ba từ sau các hồ chứa đến các trạm thủy văn hạ du (An Khê, Ayun Pa, Củng Sơn, Phú Lâm). Toàn bộ thuật toán được thiết kế và lập trình trong môi trường MATLAB.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu vận hành hệ thống liên hồ chứa chống lũ lưu vực sông Ba

Chương 3 trình bày các kết quả tính toán thực nghiệm của mô hình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba:

  • Phân tích đặc điểm phân bố mưa lũ trên lưu vực sông Ba: Lưu vực có sự phân hóa khí hậu rõ rệt giữa cụm hồ phía Tây Trường Sơn (Ka Nak - An Khê, Ayun Hạ) và cụm hồ phía Đông Trường Sơn (Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông H'Năng).
  • Thiết lập hệ thống các hàm liên thuộc và bảng quy tắc luật mờ cụ thể cho 5 hồ chứa dựa trên các cấp báo động thủy văn (BĐ I, BĐ II, BĐ III) tại các trạm kiểm soát hạ du.
  • Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình mô phỏng điều tiết và truyền lũ bằng chuỗi số liệu thực tế của các trận lũ lịch sử (tháng XI/1981, tháng XI/1988, tháng X/1993, tháng XI/2013).
  • Đánh giá kết quả tính toán mô phỏng qua 3 giai đoạn vận hành:
    1. Giai đoạn vận hành hạ mực nước hồ để đón lũ.
    2. Giai đoạn vận hành giảm lũ cho hạ du.
    3. Giai đoạn vận hành đưa mực nước hồ về mực nước cao nhất trước lũ (MNCNTL).
  • Kết quả tính toán cho thấy mô hình Logic mờ giúp điều phối lưu lượng xả linh hoạt giữa các cụm hồ, hạn chế tình trạng xả thừa khi mưa không xuất hiện trên toàn lưu vực, cắt giảm đỉnh lũ hiệu quả tại các trạm khống chế (An Khê, Củng Sơn, Phú Lâm) và duy trì được dung tích trữ phục vụ phát điện vào cuối mùa lũ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  • Luận án đã ứng dụng Logic mờ vào bài toán vận hành hệ thống liên hồ chứa chống lũ cho lưu vực sông Ba, bổ sung cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu điều hành hệ thống liên hồ chứa theo thời gian thực trong điều kiện số liệu dự báo thủy văn có độ bất định cao.
  • Thiết lập thành công mô hình toán kết hợp giữa bộ điều khiển mờ (FLC) và mô hình diễn toán truyền lũ Muskingum-Cunge, cho phép mô phỏng đồng thời quá trình điều tiết tại hồ chứa và diễn biến mực nước dọc theo hệ thống sông hạ du.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Bằng mô hình toán vận hành theo Logic mờ, luận án đã chứng minh khả năng nâng cao hiệu quả cắt giảm lũ cho hạ du đồng thời gia tăng hiệu quả phát điện của các nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Ba so với việc thực hiện cứng nhắc theo Quy trình 1077.
  • Đề xuất các căn cứ khoa học phục vụ việc điều chỉnh nội dung Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba: Thay vì bắt buộc toàn bộ 5 hồ xả đón lũ đồng loạt, cho phép phân tách vận hành theo cụm hồ (cụm Tây Trường Sơn và cụm Đông Trường Sơn) tùy thuộc vào phạm vi và diễn biến thực tế của mưa lũ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh Quy trình 1077 theo hướng linh hoạt hóa quy định về mực nước đón lũ và quy định khống chế MNCNTL trong mùa lũ.
  • Đề xuất áp dụng công cụ điều hành dựa trên Logic mờ hỗ trợ các cơ quan quản lý và các chủ hồ ra quyết định vận hành xả/trữ nước theo thời gian thực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Mô hình phụ thuộc vào mức độ tin cậy và mật độ của chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn; các quy tắc mờ và hàm liên thuộc được xây dựng dựa trên dữ liệu các trận lũ lịch sử và kiến thức chuyên gia, do đó cần tiếp tục cập nhật khi có các trận lũ cực đoan mới xuất hiện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng tích hợp mô hình Logic mờ với các hệ thống đo đạc tự động truyền số liệu thời gian thực và mô hình dự báo mưa số trị phân giải cao; nghiên cứu ứng dụng thử nghiệm mô hình cho các hệ thống liên hồ chứa đa mục tiêu khác tại khu vực miền Trung và trên toàn quốc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và lĩnh vực sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Thủy văn học, Kỹ thuật tài nguyên nước, Quản lý thiên tai và Thủy điện; có thể tham khảo phương pháp luận thiết lập bộ điều khiển mờ (FLC), kỹ thuật xây dựng hàm liên thuộc, hệ luật mờ và cách tích hợp với phương pháp diễn toán Muskingum-Cunge trong môi trường MATLAB.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng chống thiên tai, Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Yên; có thể sử dụng các kết quả phân tích bất cập và số liệu tính toán kịch bản làm cơ sở rà soát, sửa đổi quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Ba.
  • Đơn vị quản lý, vận hành công trình: Các nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông H'Năng, An Khê - Ka Nak và Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ayun Hạ trong việc xây dựng phương án phối hợp vận hành xả lũ an toàn và tối ưu hóa nguồn nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao quy định xả đón lũ đồng loạt theo Quy trình 1077 lại bộc lộ sự bất hợp lý trên lưu vực sông Ba?

Lưu vực sông Ba có sự phân hóa khí hậu rõ rệt giữa vùng Tây Trường Sơn và Đông Trường Sơn. Khi mưa lớn chỉ xuất hiện cục bộ ở phần hạ lưu hoặc tại tiểu lưu vực hồ Krông H'Năng, các hồ thượng lưu như Ka Nak hay Ayun Hạ không có dòng chảy lũ lớn về hồ. Quy định buộc các hồ thượng lưu phải xả nước đón lũ đồng loạt không mang lại hiệu quả cắt lũ cho hạ du, đồng thời làm thất thoát lượng nước trữ, giảm cột nước phát điện và tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước vào cuối mùa lũ.

2. Cấu trúc bộ điều khiển mờ (FLC) áp dụng cho bài toán điều hành hồ chứa trong luận án gồm những thành phần nào?

Bộ điều khiển mờ gồm 4 thành phần chính:

  1. Khối mờ hóa (Fuzzification) biến đổi các giá trị đầu vào rõ ($Q_{\text{đến}}$, $H_{\text{hồ}}$, $H_{\text{hạ du}}$) thành các biến mờ.
  2. Cơ sở hệ luật mờ (Fuzzy rule base) tập hợp các quy tắc điều khiển dạng IF-THEN.
  3. Hệ suy diễn mờ (FIS) thực hiện lập luận theo nguyên tắc modus ponens.
  4. Khối giải mờ (Defuzzification) chuyển đổi kết quả mờ thành giá trị lưu lượng xả rõ ($Q_{\text{xả}}$) qua các phương pháp như trọng tâm (COG) hoặc trọng tâm của tổng (COS).

3. Phương pháp diễn toán thủy lực nào được tác giả tích hợp cùng Logic mờ để tính truyền lũ dọc sông?

Tác giả sử dụng phương pháp diễn toán Muskingum và Muskingum-Cunge. Phương pháp này mô phỏng mối quan hệ giữa dung tích trữ với lưu lượng vào - ra của đoạn sông qua công thức $S = K[X \cdot I + (1 - X) \cdot O]$ và phương trình sai phân liên tục $O_t = C_1 I_t + C_2 I_{t-1} + C_3 O_{t-1}$.

4. Tổng dung tích đón lũ của 5 hồ chứa trên lưu vực sông Ba thay đổi như thế nào giữa Quy trình 1077 và Quy trình 1757?

Theo Quy trình 1077 ban hành năm 2014, cao trình mực nước đón lũ của cả 5 hồ chứa (Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông H'Năng, Ka Nak, Ayun Hạ) đều được hạ thấp hơn so với Quy trình 1757 ban hành năm 2010. Việc điều chỉnh này làm tổng dung tích đón lũ của 5 hồ tăng thêm khoảng 269,7 triệu m³.

5. Luận án đã kiểm định mô hình toán trên những trận lũ lịch sử nào của lưu vực sông Ba?

Mô hình toán điều tiết và truyền lũ xây dựng bằng Logic mờ và Muskingum-Cunge được kiểm định, đối chứng thông qua các chuỗi số liệu thực đo của các trận lũ lớn lịch sử trên sông Ba gồm: trận lũ tháng XI năm 1981, tháng XI năm 1988, tháng X năm 1993 và tháng XI năm 2013 tại các trạm thủy văn An Khê, Ayun Pa, Củng Sơn và Phú Lâm.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Việt đã nghiên cứu ứng dụng lý thuyết Logic mờ kết hợp với phương pháp diễn toán Muskingum-Cunge để giải quyết bài toán vận hành hệ thống liên hồ chứa chống lũ trên lưu vực sông Ba trong điều kiện thông tin thủy văn mang tính ngẫu nhiên và bất định. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những điểm chưa hợp lý trong các quy định vận hành hiện hành theo Quy trình 1077, đồng thời cung cấp mô hình tính toán hỗ trợ ra quyết định điều hành xả lũ linh hoạt theo thời gian thực cho 5 hồ chứa lớn. Công trình đóng góp cơ sở phương pháp luận cho chuyên ngành Thủy văn học và cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác điều chỉnh, hoàn thiện quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba.