Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ THUẾ 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI Hợp tác quốc tế về thuế không chỉ là một thành tố của hội nhập quốc tế mà còn là một thành tố quan trọng hàng đầu trong tiến trình hội nhập quốc tế của các nước trên thế giới. Bởi vậy, nội dung này được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau. Theo đó, các công trình nghiên cứu quốc tế bao gồm hai nhóm chính.
Nhóm thứ nhất nghiên cứu tổng quát và nhiều mặt về hợp tác quốc tế về thuế. Nhóm thứ hai nghiên cứu chuyên sâu một hoặc một vài vấn đề trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về thuế. ♦ Nhóm công trình nghiên cứu tổng quát và nhiều mặt của hợp tác quốc tế về thuế Valpy Fitzgerald (2002) với công trình khoa học có tiêu đề “International tax cooperation and capital mobility” [19], tức là “Hợp tác quốc tế về thuế và huy động vốn”. Công trình tổng kết quá trình hợp tác quốc tế về thuế giữa các nước Trung Mỹ và Caribe trong mối quan hệ với hoạt động huy động và sử dụng vốn nhằm phát triển kinh tế ở các quốc gia này.
Kết luận quan trọng của công trình khoa học này là: Việc đánh thuế đối với thu nhập từ đầu tư là công bằng và hệ thống thuế đánh với thu nhập từ đầu tư tốt nhất là hệ thống thuế dựa trên cơ sở cư trú với điều kiện có sự hợp tác giữa các quốc gia về áp dụng thuế suất và tổ chức quản lý thuế. Trong trường hợp không có sự hợp tác như vậy đối với các nước đang phát triển thì lựa chọn tốt nhất là đánh thuế đối với thu nhập từ đầu tư dựa trên cơ sở nguồn phát sinh thu nhập và trong trường hợp này tác động méo mó đầu tư do đánh thuế thu 14 nhập sẽ được làm giảm bớt bằng một hệ thống thuế hợp lý với quy định về khấu trừ thuế đã nộp ở nước ngoài và tín dụng thuế đầu tư. Léonce Ndikumana (2014), “International Tax Cooperation and Implications of Globalization” [2], tức là “Hợp tác thuế quốc tế và những tác động của toàn cầu hoá”. Bài viết phân tích những ảnh hưởng của toàn cầu hoá đến chính sách thuế của các quốc gia được thể hiện qua xu hướng gia tăng của thuế thu nhập làm tăng sự cạnh tranh trong việc đánh thuế dẫn đến nguy cơ thất thu thuế do việc chuyển lợi nhuận giữa các công ty đa quốc gia, trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp cải thiện điều này.
♦ Nhóm công trình nghiên cứu chuyên sâu một hoặc một vài vấn đề trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về thuế Tsilly Dagan (2003) với bài báo khoa học có tên “The cost of international tax cooporation”[17], tức là “Chi phí của hợp tác quốc tế về thuế”. Công trình này giới thiệu một cách có hệ thống về các vấn đề của hợp tác quốc tế về thuế và phân tích chi phí của hợp tác quốc tế về thuế trên các phương diện: Các biện pháp đơn phương về thuế và tính trung lập; các hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai lần; các hiệp định đa phương về thuế và bảo vệ lợi ích quốc gia với các khía cạnh cụ thể như: cạnh tranh về thuế và tính hiệu quả, tác động phân phối không mong muốn của cạnh tranh về thuế và tác động không mong muốn của các thỏa thuận đa phương về thuế. Avi-Yonah (2009) với bài báo khoa học có tiêu đề “Closing the International Tax Gap via cooperation, not competition”[10], nghĩa là: “Thu hẹp khoảng cách thuế quốc tế thông qua hợp tác chứ không phải thông qua cạnh tranh”. Tác giả phân tích các vấn đề trốn thuế, tránh thuế dưới góc độ quốc tế.
Từ đó, chỉ ra rằng, cạnh tranh thuế giữa các quốc gia sẽ tạo ra tiền đề để gia tăng tránh thuế và trốn thuế. Hoạt động hợp tác giữa các quốc gia giúp ngăn ngừa trốn thuế và tránh thuế. 15 Norbert Seeger và Rechtsanwalt (2011) với công trình khoa học mang tên “International tax cooperation: Information Exchange and Double Taxation Agreements”[6], tức là “Hợp tác quốc tế về thuế: Trao đổi thông tin và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần”. Bài báo giới thiệu trường hợp cụ thể của Liechtenstein trong hoạt động trao đổi thông tin và tiến hành ký kết các hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 3 nước là Mỹ, Đức và Anh.
Bài báo đặc biệt giới thiệu kỹ lưỡng những nội dung hợp tác, trao đổi thông tin trong quản lý thuế, trong hỗ trợ hoàn thiện pháp luật thuế giữa Liechtenstein với các nước nói trên. Từ đó, chỉ ra những lợi ích mà các bên đạt được thông qua ký kết và thực hiện những thỏa thuận hợp tác trao đổi thông tin và tránh đánh thuế hai lần. Kumar và Dennis P. Quinn (2012) với công trình nghiên cứu có tiêu đề “Globalization and corporate taxation”[3], tức là “Toàn cầu hóa và đánh thuế công ty”.
Công trình này nghiên cứu dưới sự bảo trợ và xuất bản của IMF. Công trình này phân tích các khía cạnh về thuế suất thuế thu nhập công ty đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cả trên phương diện tài chính và thương mại. Những vấn đề này được các quốc gia xác định trên cơ sở các yếu tố quốc tế và trong nước có liên quan. Số liệu về thuế suất thuế TNDN được sử dụng để phân tích là hệ thống số liệu về thuế suất của các nước đang phát triển trong 50 năm.
Công trình này có một số kết luận quan trọng sau: (1) Không có mối quan hệ tiêu cực giữa toàn cầu hóa tài chính với thuế suất thuế thu nhập công ty và số thu thuế; (2) Nghiên cứu mối quan hệ giữa thuế thu nhập công ty của các nước với thuế thu nhập công ty của Mỹ cho thấy, đối với các nước OECD, số thu từ thuế tăng khi thuế suất tăng cho đến khi thuế suất đạt mức thuế suất thuế thu nhập công ty của Mỹ thì khi tăng thuế suất số thu từ thuế giảm; (3) Các yếu tố kinh tế - chính trị trong nước có vai trò then chốt trong quyết định chính sách thuế thu nhập công ty; 16 (4) Có mối quan hệ tích cực giữa chi tiêu của chính phủ với thuế suất và số thu thuế thu nhập công ty: Chi tiêu chính phủ giảm dẫn đến thúc đẩy tăng trưởng, tạo điều kiện giảm thuế suất thuế thu nhập công ty, và ngược lại. de Bont, đại học Erasmus University và E. van der Hel – van Dijk RA (2013), Đại học kinh doanh Nyenrode với công trình nghiên cứu có tiêu đề “Exchange of Information and Cross Border Cooperation between Tax Authorities”[2], tức là “Trao đổi thông tin và hợp tác xuyên biên giới giữa các cơ quan thuế”. Công trình này nghiên cứu cụ thể những quy định của luật pháp.
Cũng như thực tiễn của cơ quan thuế Hà Lan trong việc trao đổi thông tin và hợp tác xuyên biên giới với cơ quan thuế các nước EU. Các tác giả Paul Vandenberg và Alan Myrold (2015) với bài viết “Exchanging Information to Combat Tax Evasion” [7], tức là “Trao đổi thông tin chống trốn thuế”. Bài viết chỉ ra những thực trạng của hoạt động trốn thuế xuyên biên giới, từ đó chỉ rõ những cách thức và cơ chế trao đổi thông tin giữa các cơ quan thuế các quốc gia nhằm mục đích ngăn chặn việc trốn thuế. Kudrle (2016), “The Limited Prospects for International Tax Cooperation” [15], tức là “Những hạn chế trong triển vọng hợp tác quốc tế về thuế”.
Công trình nghiên cứu chỉ ra rằng để chống lại việc trốn thuế và tránh thuế cần tăng cường việc trao đổi thông tin về thuế giữa các quốc gia. Tuy nhiên, sự khác biệt về hệ thống thuế thể hiện qua các quy định, thuế suất cũng như vấn đề về bí mật, lợi ích quốc gia đang hạn chế những triển vọng hợp tác quốc tế về thuế được minh hoạ trong trường hợp của Mỹ. OECD (2018), MLI Explanatory Statement, tức là, “Báo cáo giải thích Hiệp định thuế đa phương”. Báo cáo này của OECD đã giải thích chi tiết các nội dung của Hiệp định thuế đa phương, bao gồm: mục tiêu của Hiệp định thuế đa phương, các nguyên tắc của Hiệp định thuế đa phương, giải thích các 17 điều khoản cụ thể của Hiệp định thuế đa phương… Báo cáo này giúp giải quyết một nội dung cụ thể rất quan trọng của hợp tác quốc tế về thuế là xử lý những vấn đề mà các Hiệp định thuế song phương không giải quyết được trong bối cảnh nền kinh tế số hiện nay và hướng đến mục tiêu xác lập hành động chung nhằm chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận theo 15 chương trình hành động của OECD.
Nhận xét về các công trình nghiên cứu nước ngoài: Các công trình khoa học quốc tế đã công bố đã nghiên cứu hợp tác quốc tế về thuế trên nhiều phạm vi và phương diện khác nhau. Có công trình nghiên cứu ở phạm vi rộng toàn cầu, có công trình nghiên cứu ở phạm vi các thể chế khu vực, có công trình nghiên cứu riêng hội nhập và hợp tác quốc tế về thuế đối với thuế thu nhập công ty… Các công trình này đã chỉ rõ bản chất và nội dung của các cấp độ và các hình thức hợp tác quốc tế về thuế, chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của hợp tác quốc tế về thuế. Đây là những kết quả có thể tham khảo để hoàn thiện công tác hợp tác quốc tế về thuế của Việt Nam. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM Trong thời gian qua, đã có một số công trình khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài luận án hoặc liên quan đến các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án được công bố trên các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo khoa học trình bày tại hội thảo khoa học, các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, sách tham khảo, chuyên khảo hay các bài báo khoa học được công bố bởi các nhà xuất bản, các cơ sở giáo dục đại học, được đăng tải trên các tạp chí khoa học phương tiện thông tin đại chúng.
Các công trình khoa học đã công bố đề cập đến các khía cạnh khác nhau về hợp tác quốc tế về thuế. Đây chính là nguồn tài liệu tham khảo giúp tác giả có cơ sở 18 để kế thừa và phát triển nghiên cứu sâu sắc thêm về hợp tác quốc tế về thuế và đánh giá việc hợp tác quốc tế về thuế của Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án có thể chia thành 3 nhóm. Nhóm thứ nhất nghiên cứu tổng quát và nhiều mặt về hợp tác quốc tế về thuế.