CHƯƠNG 1.74 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM. QUỐC HỘI VIỆT NAM VÀ CHỨC NĂNG GIÁM SÁT ĐTC. Quốc hội Việt Nam. Chức năng giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam.
TỔNG QUAN VỀ ĐTC CỦA VIỆT NAM. Quy mô ĐTC. Phân bổ, quản lý và sử dụng vốn ĐTC. Đánh giá ĐTC của Việt Nam.
THỰC TRẠNG GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM. Giám sát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ĐTC. Giám sát quá trình thực hiện ĐTC. Giám sát thực hiện kết luận, kiến nghị sau khi giám sát ĐTC.
Sử dụng các tiêu chí đánh giá giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM. Những kết quả đạt được. Những hạn chế và nguyên nhân.
118 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2.126 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM. BỐI CẢNH KTXH VÀ QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021-2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030. Bối cảnh KTXH mới ảnh hưởng đến giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Quan điểm về hoàn thiện giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030.
Định hướng hoàn thiện giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN GIÁM SÁT ĐTC CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM. Nhóm giải pháp về giám sát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ĐTC của Quốc hội. Nhóm giải pháp về giám sát quá trình thực hiện hoạt động ĐTC của Quốc hội.
Nhóm giải pháp về giám sát thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát về ĐTC của Quốc hội. 155 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3.159 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN CỦA NCS.161 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.162 PHỤ LỤC 1: CƠ CẤU GDP THEO NGÀNH KINH TẾ.169 PHỤ LỤC 2: PHIẾU ĐIỀU TRA.170 vii DANH MỤC CÁC BẢNG, CÁC HÌNH Danh mục bảng Bảng 1.1: Thang đánh giá Likert.1: Vốn đầu tư toàn xã hội 2015-2019.2: Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP giai đoạn 2015-2019.3: ĐTC thực hiện theo ngành kinh tế (2015-2019).4: Cơ cấu vốn ĐTC phân theo cấp quản lý.5: ĐTC và tăng trưởng kinh tế.6: Ý kiến của ĐBQH về kế hoạch ĐTC trung hạn 2016 - 2020.7: Tổng quan về các dự án.8: Giám sát của Quốc hội với quản lý vốn ĐTC.9: Kết luận giám sát của Quốc hội về ĐTC.108 Danh mục hình Hình 1.1: Mô tả hoạt động và kết quả thu được của hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội. Các tiểu ban trực thuộc Ủy ban Tài chính - Ngân sách.2: Hệ số ICOR Việt Nam giai đoạn 2015-2019.3: Kế hoạch vốn ĐTC trung hạn 2016-2020.4: Đánh giá sự phù hợp của giám sát của Quốc hội về chính sách, pháp luật liên quan đến ĐTC.5: Đánh giá về tính phù hợp, khả thi của các kiến nghị sau giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực ĐTC.6: Đánh giá việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát ĐTC (hiệu lực giám sát ĐTC) của Quốc hội.7: Đánh giá nội dung giám sát ĐTC của Quốc hội nên tập trung vào xem xét hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến ĐTC.8: Đánh giá nội dung giám sát ĐTC của Quốc hội nên tập trung vào việc xem xét quản lý vốn ĐTC.9: Đánh giá nội dung giám sát ĐTC của Quốc hội nên tập trung vào việc xem xét hiệu quả ĐTC.10: Đánh giá về tính kịp thời trong hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội.11: Đánh giá về mục tiêu của giám sát ĐTC của Quốc hội.12: Đánh giá về hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến ĐTC của Quốc hội sau giám sát.13: Những ảnh hưởng từ hoạt động giám sát sau khi Quốc hội tiến hành giám sát ĐTC.1: Nguyên tắc SMART trong xây dựng tiêu chí đánh giá giám sát ĐTC của Quốc hội.1: Giám sát quá trình nghiên cứu tiền khả thi dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành.2: Giám sát quá trình tiến hành thực hiện dự án tuyến đường sắt đô thị số 1 Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành - Suối Tiên. Tính cấp thiết của đề tài Luận án Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của Việt Nam đang được thúc đẩy mạnh mẽ.
ĐTC chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của toàn xã hội, có vai trò quan trọng quyết định quá trình đồng bộ và hiện đại hoá hạ tầng KTXH làm nền móng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đồng thời, tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi và hiệu quả hơn cho đầu tư của khu vực tư nhân, khơi thông và thu hút hiệu quả nguồn lực của toàn xã hội cho đầu tư phát triển KTXH. ĐTC là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển KTXH. ĐTC có vai trò quan trọng hình thành, tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế; đồng thời, có vai trò quan trọng định hướng, hỗ trợ và thu hút đầu tư của khu vực tư nhân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từ đó, góp phần quan trọng hình thành và điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Tuy vậy, vai trò tích cực của ĐTC chỉ được phát huy với những quyết sách đầu tư đúng đắn, bảo đảm hiệu lực và hiệu quả.
Chính vì vậy, không ngừng hoàn thiện thể chế, hiệu lực và hiệu quả quản lý ĐTC; đặc biệt là hiệu lực và hiệu quả giám sát ĐTC của cơ quan quyền lực nhà nước luôn là vấn đề thời sự ở các quốc gia. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã đạt được những tiến bộ toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Cải cách thể chế tiếp tục được triển khai để làm cơ sở cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, đảm bảo một xã hội công bằng và dân chủ, người dân ngày càng có vai trò thực chất hơn theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hoạt động của cơ quan dân cử đối với những vấn đề quan trọng của đất nước. Những cải cách trong Hiến pháp, luật NSNN, luật Tổ chức Quốc hội,… được thực hiện những năm gần đây đã tạo ra nền tảng pháp lý quan trọng nhằm đổi mới hoạt động của Quốc hội, tăng cường vai trò của Quốc hội trong việc thực hiện các chức năng 2 lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng và giám sát hoạt động của các cơ quan.
Trong chức năng giám sát của Quốc hội thì giám sát ĐTC là một trong những hoạt động quan trọng nhất thể hiện qua nội dung, chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội. Việc giám sát của Quốc hội trong ĐTC đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn nền kinh tế đang có những bước chuyển đổi nhằm đảm bảo sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, ĐTC chuyển mạnh sang đầu tư cho phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, cho sự nghiệp giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo và nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có một vai trò rất lớn trong ĐTC để tạo những bước đột phá phát triển đất nước. Đồng thời ĐTC còn là đòn bẩy, là “mối” thu hút các nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác, thu hút các loại hình dịch vụ tư nhân tham ra, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Hoạt động giám sát ĐTC được coi là một nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan lập pháp. Thời gian gần đây, hoạt động giám sát của Quốc hội trong lĩnh vưc ĐTC đã có một số đổi mới, tác động tích cực đối với việc ban hành chính sách và điều hành của Chính phủ, đưa lại nhiều lợi ích hơn cho cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, hoạt động này còn hạn chế về thể chế chính sách cũng như trong tổ chức triển khai thực hiện, từ đó cho thấy hoạt động giám sát ĐTC của Quốc hội cần được nghiên cứu hoàn thiện xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ những lý do trên đây, NCS quyết định chọn đề tài: “Giám sát ĐTC của Quốc hội Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án Tiến sỹ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 2. Một số lý thuyết về lĩnh vực ĐTC 2. Quan điểm về ĐTC ĐTC là một trong những lĩnh vực được quan tâm không chỉ của các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế thực tiễn mà nó còn nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới với những cách tiếp cận và giải quyết 3 các vấn đề khác nhau với những phương pháp nghiên cứu khác nhau được áp dụng cho mỗi nghiên cứu, cụ thể: Trong nghiên cứu “The role of public investment in social and economic development” của UNCTAD (2009) [88] chi giới hạn ĐTC trong phạm vi các khoản chi tiêu xây dựng cơ bản, tuy nhiên sẽ là thiếu sót nếu chỉ định nghĩa ĐTC như vậy. Bởi chi ĐTC còn bao gồm các khoản về duy tu sửa chữa, tái định cư, hỗ trợ đời sống của người dân tái định cư.
Khái niệm về ĐTC này được nhận định là thiếu sự toàn diện. ĐTC còn được định nghĩa trong nghiên cứu của IMF năm 2012, “Public Investment, Growth, and Debt Sustainability: Putting Together the Pieces”, quan điểm rằng ĐTC là các khoản chi tiêu của khu vực công, nhưng loại trừ các khoản chi hình thành tài sản cố định tại các doanh nghiệp nhà nước [76]. Cách định nghĩa này chưa thể hiện được một cách toàn diện ý nghĩa và vai trò mà ĐTC mang lại cho xã hội. Tiếp cận khái niệm ĐTC trên quan điểm về chủ sở hữu vốn, Luận án Tiến sỹ “Hiệu quả ĐTC tại Việt Nam” của Phạm Minh Hóa năm 2017 có định nghĩa rằng: “ĐTC là hoạt động đầu tư do Nhà nước chủ trì để thực hiện các chương trình, dự án phát triển KTXH trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và các nguồn lực khác” [21].
Vai trò của ĐTC ĐTC có vai trò rất quan trọng trong ổn định, tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Vì vậy, nhiều nghiên cứu về ĐTC của một số quốc gia đã tìm kiếm các giải pháp quản lý ĐTC một cách tốt nhất.