Chương 1 cũng đề cập một cách khái quát các nội dung về định danh, từ và cấu tạo từ và đối chiếu ngôn ngữ. 7 Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ marketing Anh – Việt, là một trong hai chương ch nh của luận án, chương 2 tập trung phân t ch làm rõ các điểm tương đồng và dị biệt giữa thuật ngữ marketing tiếng Anh và tiếng Việt về đặc điểm cấu tạo xét trên phương diện yếu tố cấu tạo, cũng như mô hình và quan hệ ngữ pháp giữa chúng. Chương 3: Đối chiếu con đường hình thành và đặc điểm định danh của thuật ngữ marketing Anh –Việt miêu tả, so sánh và đối chiếu cách thức tạo thành hệ thuật ngữ marketing trong hai ngôn ngữ Anh và Việt với giả thuyết rằng do ra đời sau và với những khác biệt về trình độ phát triển kinh tế cũng như thể chế ch nh trị và mô hình phát triển, hệ thuật ngữ marketing tiếng Việt chắc chắn sẽ tồn tại những khác biệt về con đường hình thành cũng như hướng phát triển so với thuật ngữ marketing tiếng Anh; đồng thời một lần nữa khảo sát các thuật ngữ marketing Anh, Việt về cách thức và mô hình định danh cũng như những đặc trưng ngữ nghĩa được lựa chọn để định danh để từ đó tìm ra các nét tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống thuật ngữ này. Phần Kết luận, ngoài việc tóm tắt kết quả nghiên cứu và nhận xét về việc thực hiện nhiệm vụ của luận án còn đặt ra vấn đề cần chỉnh lý và thống nhất thuật ngữ marketing ở Việt Nam để đảm bảo t nh khoa học và quốc tế của lớp từ vựng chuyên ngành này.
8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Trên thế giới, trải qua quá trình phát triển vài trăm năm, bắt đầu từ thế kỷ 18 [118] thuật ngữ chủ yếu được nghiên cứu theo ba hướng: cấu tạo thuật ngữ; chuẩn hóa thuật ngữ; và lý luận về thuật ngữ trong phát thanh, thuật ngữ trong doanh nghiệp, về từ vựng và hiện tượng ngữ pháp trong văn bản chuyên môn v.
Ở thế kỷ 18, nghiên cứu về thuật ngữ “bắt đầu manh nha với điểm chung cùng tạo lập, xây dựng và sơ khai xác định các nguyên tắc cho một số hệ thuật ngữ đặc biệt” [14]. Tuy nhiên, các nhà khoa học trong giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở việc chú ý đến sự đa dạng của hình thức (forms) và mối quan hệ giữa hình thức và nội dung (concepts) chứ chưa đề cập đến bản chất của nội dung hay nền tảng của việc tạo ra thuật ngữ mới. Các nghiên cứu tiêu biểu trong thời kỳ này bao gồm các công trình trong lĩnh vực hóa học của Lavoisier và Berthollet hay trong lĩnh vực thực vật và sinh học của Linne. Vì vậy, ý tưởng về một khoa học thuật ngữ phải đến đầu thế kỷ 20 mới hình thành.
Ở thế kỷ này, cùng với sự phát triển như vũ bão và các thành tựu đạt được về công nghệ là nhu cầu không ngừng tăng lên về việc đặt tên cho các khái niệm mới cũng như sự thống nhất các thuật ngữ. Kết quả là đã xuất hiện các công trình nghiên cứu thực tiễn về thuật ngữ trong một số lĩnh vực chuyên môn với sự tham gia của các kỹ sư và kỹ thuật gia.Việc nghiên cứu thuật ngữ nhờ vậy có được định hướng khoa học và được công nhận là một hoạt động quan trọng về mặt xã hội. Tuy nhiên trong suốt những năm đầu thế kỷ 20, thuật ngữ chưa nhận được sự quan tâm đặc biệt nào của cả các nhà ngôn ngữ học và các nhà khoa học xã hội. Từ những năm 1930, việc nghiên cứu thuật ngữ mới thực sự diễn ra một cách đồng thời, với những công trình nghiên cứu thuật ngữ của các học giả Liên Xô cũ, Cộng hòa Séc 9 và Áo.
Những công trình này được coi là nền tảng cho sự khởi đầu của ngành khoa học thuật ngữ trên thế giới. Toàn bộ quá trình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới trong vòng một thế kỷ qua đã được Cabré tiếp thu từ Auger [84] tổng kết thành ba xu hướng nghiên cứu chính: thuật ngữ được nghiên cứu theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ; thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng dịch và thuật ngữ được nghiên cứu theo định hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ. Dưới đây, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ bởi vì chúng liên quan trực tiếp đến đề tài luận án. Khi nói tới hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ, người ta không thể không nhắc tới ba trường phái cổ điển (classical schools) và cũng là ba cái nôi nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu và lớn nhất trên thế giới đó là Áo (Viên), Xô Viết và Cộng hòa Séc (Praha).
Theo Cabré [82;7], các trường phái này đã tiếp cận thuật ngữ theo ba hướng chính: Coi thuật ngữ là một môn học liên ngành nhưng độc lập nhằm phục vụ các ngành khoa học và kỹ thuật; Tiếp cận thuật ngữ theo triết học, chủ yếu quan tâm đến việc phân loại mang t nh logic của các hệ thống khái niệm và cách tổ chức các đơn vị tri thức; Tiếp cận thuật ngữ theo ngôn ngữ học, coi thuật ngữ là một thành phần phụ của các hệ thống con của ngôn ngữ nói chung là từ vựng ngôn ngữ và ngôn ngữ đặc biệt. Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo gắn liền với tên tuổi của E. Ông không chỉ được coi là người đầu tiên tạo nên diện mạo của công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ hiện đại ở thế kỉ 20 mà còn là người có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu thuật ngữ của nhiều học giả sau này. Ch nh ông là người đầu tiên đưa ra quan điểm về hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, xây dựng các nguyên tắc làm việc với thuật ngữ và trình bày sơ lược một số luận điểm về phương pháp luận trong việc xử lý dữ liệu thuật ngữ.
Những tư tưởng và quan điểm mới về thuật ngữ này của Wüster chịu sự ảnh hưởng 10 của bốn nhà khoa học mà Wüster gọi là “người cha tinh thần” (intellectual fathers) của lý thuyết về thuật ngữ: Đó là Ferdinand de Saussure - người đầu tiên chú ý đến bản chất hệ thống của ngôn ngữ nói chung cũng là người góp phần vào xây dựng tính hệ thống của thuật ngữ; là Alfred Schlomann - người đầu tiên xem xét bản chất mang tính hệ thống của các từ ngữ đặc biệt; là E. Dressen - người tiên phong trong việc nhấn mạnh tầm quan trọng của sự chuẩn hóa ngôn ngữ trong đó có chuẩn hóa thuật ngữ; và thứ tư là J. Holmstrom - học giả giúp phổ biến các thuyết về thuật ngữ trên phạm vi toàn thế giới [117]. Dưới ảnh hưởng của Wüster, xuất phát từ nhu cầu truyền tải kiến thức và giao tiếp hiệu quả trong lĩnh vực chuyên môn của các nhà kĩ thuật và khoa học, trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo đã phát triển được một kho tàng lý luận gồm các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu về thuật ngữ tập trung vào các khái niệm và hướng việc nghiên cứu thuật ngữ vào chuẩn hoá các thuật ngữ và các khái niệm.
Trường phái thuật ngữ học của Cộng hòa Séc (1930s) tiếp cận thuật ngữ theo quan điểm của ngôn ngữ học chức năng với đại diện tiêu biểu là Lubomir Drodzvà Ferdinand de Saussure. Cơ sở lý luận của trường phái này được dựa trên lý thuyết về ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ văn hoá nhằm miêu tả ngôn ngữ chuyên ngành theo đặc điểm cấu trúc và chức năng, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng. Các nghiên cứu cả lý thuyết và ứng dụng của các nhà khoa học và ngôn ngữ học thuộc trường phái thuật ngữ học của Cộng hoà Séc tuy vậy vẫn tập trung vào chuẩn hoá ngôn ngữ và thuật ngữ. Trường phái nghiên cứu thuật ngữ Xô Viết được hình thành năm 1933 bởi Lotte và Caplygil với những tư tưởng được trình bày trong cuốn “Những nguyên lý cơ bản về cấu trúc của thuật ngữ khoa học và kỹ thuật” của Lotte xuất bản năm 1961 và sau này là “Hướng dẫn biên soạn và chỉnh lý thuật ngữ khoa học và kỹ thuật”.
Ngay từ thời kì đầu, trường phái này chịu ảnh hưởng bởi công trình nghiên cứu về thuật ngữ của của Wüster.Vì vậy cũng như trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo, trường phái thuật ngữ Xô Viết chủ yếu nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa các khái niệm và các thuật ngữ trên tinh thần của những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa 11 đa ngôn ngữ của Liên bang Xô Viết trước đây. Như vậy, cả ba trường phái nói trên đều có chung quan điểm là nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học, họ đều xem thuật ngữ như là một phương tiện để diễn đạt và giao tiếp. Cũng từ ba trường phái này, hai học thuyết ban đầu về thuật ngữ đã được hình thành và định hướng cách tiếp cận cho toàn bộ các nghiên cứu kể từ 1930 đến thập niên 90. Đến nay, có thể tóm lược 8 học thuyết và hướng tiếp cận chính khi nghiên cứu về thuật ngữ như sau.
a) Học thuyết chung về thuật ngữ (còn gọi là học thuyết truyền thống hay cổ điển) do Wüster khởi xướng trên cơ sở năm nguyên lý và hướng tới sự chuẩn hóa thuật ngữ, coi trọng tính chính xác của khái niệm mà nó biểu hiện và không chấp nhận sự đồng nghĩa. Theo giải thích của Temmerman [124], năm nguyên lý này bao gồm: Sử dụng hướng tiếp cận định danh – onomasiological approach khi nghiên cứu thuật ngữ, tức là chú ý trước tiên đến khái niệm, chứ không phải ngôn ngữ; Coi các khái niệm là tường minh và cần được đặt trong hệ thống được cấu trúc một cách logic; Khái niệm được giải thích bằng định nghĩa mang t nh nội hàm (phản ánh bản chất của khái niệm); Mỗi khái niệm được thể hiện bằng một thuật ngữ và mỗi thuật ngữ chỉ đề cập tới một khái niệm (t nh đơn nghĩa của thuật ngữ); Thuật ngữ học không nghiên cứu lịch sử phát triển của ngôn ngữ hay cách mạng ngôn ngữ, vì vậy phương pháp nghiên cứu thuật ngữ là phương pháp đồng đại chứ không phải lịch đại.