Tổng quan luận án

Bạo lực gia đình (BLGĐ) đối với phụ nữ là một vấn đề xã hội có tính toàn cầu, cản trở các mục tiêu phát triển của Liên Hợp Quốc. Theo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ tại Việt Nam công bố năm 2019, cứ 3 phụ nữ thì có gần 2 người (62,9%) từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực (thể xác, tình dục, tinh thần, kinh tế) do chồng gây ra trong đời; thiệt hại kinh tế do BLGĐ ước tính chiếm khoảng 1,78% GDP cả nước. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 năm 2020, tình trạng này gia tăng ít nhất 30% tại Việt Nam.

Trước đây, các can thiệp phòng chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ) tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân (phụ nữ và trẻ em). Cách tiếp cận này chỉ giải quyết phần ngọn, khiến vòng tròn bạo lực tái diễn do người gây bạo lực—chủ yếu là nam giới—chưa được tiếp cận để làm việc về nhận thức và hành vi. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: tại Việt Nam chưa có công trình khoa học nào đánh giá chuyên sâu và có hệ thống về các dịch vụ công tác xã hội (CTXH) đối với nam giới nhằm giảm thiểu BLGĐ. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác xã hội (mã số 9760101) của tác giả Hoàng Tuyết Mai, do GS.TS. Nguyễn Hữu Minh và TS. Nguyễn Hải Hữu hướng dẫn tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2021), được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh.

Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa các vấn đề lý luận về dịch vụ CTXH với nam giới gây bạo lực (GBL) nhằm giảm thiểu BLGĐ; đánh giá thực trạng các dịch vụ này cùng các yếu tố ảnh hưởng tại tỉnh Quảng Ninh; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ và giảm thiểu tình trạng BLGĐ.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 4 nội dung:

  1. Tổng quan các kết quả nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân của BLGĐ và các mô hình, dịch vụ trong PCBLGĐ nói chung, dịch vụ CTXH với nam giới nói riêng; hệ thống hoá cơ sở lý luận, công cụ và phương pháp nghiên cứu về dịch vụ CTXH với nam giới trong việc giảm thiểu BLGĐ.
  2. Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu để nhận diện thực trạng BLGĐ do nam giới gây ra; đánh giá hiểu biết, nhu cầu và khả năng tiếp cận của nam giới GBL đối với các dịch vụ CTXH; phân tích thực trạng các dịch vụ CTXH và các yếu tố ảnh hưởng đến các dịch vụ này.
  3. Thực nghiệm mô hình câu lạc bộ (CLB) nhóm nam giới tiên phong nhằm cung cấp dịch vụ tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, thái độ và giảm thiểu hành vi bạo lực cho nam giới GBL tại cộng đồng thông qua phương pháp CTXH nhóm.
  4. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của dịch vụ CTXH với nam giới trong việc giảm thiểu BLGĐ.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm:

  1. Thực trạng tiếp cận của nam giới GBL với các dịch vụ CTXH nhằm giảm thiểu BLGĐ tại tỉnh Quảng Ninh như thế nào?
  2. Thực trạng các dịch vụ CTXH với nam giới GBL trong việc giảm thiểu BLGĐ tại tỉnh Quảng Ninh diễn ra ra sao?
  3. Yếu tố nào ảnh hưởng nhiều đến chất lượng các dịch vụ CTXH với nam giới GBL trong việc giảm thiểu BLGĐ?
  4. Ứng dụng CTXH nhóm trong mô hình câu lạc bộ nam giới GBL tại địa bàn nghiên cứu có tác động đến việc thay đổi nhận thức và hành vi của nam giới về BLGĐ như thế nào?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  1. Nam giới tiếp cận với các dịch vụ CTXH nhằm giảm thiểu BLGĐ còn hạn chế với số lượng nam giới tham gia sử dụng dịch vụ ít.
  2. Các dịch vụ CTXH với nam giới nhằm giảm thiểu BLGĐ tại tỉnh Quảng Ninh chưa đáp ứng được nhu cầu của nam giới sử dụng dịch vụ.
  3. Yếu tố thuộc về bản thân nam giới sử dụng dịch vụ có ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng các dịch vụ CTXH với nam giới nhằm giảm thiểu BLGĐ.
  4. Thực hiện mô hình CLB nam giới tiên phong nhằm cung cấp dịch vụ tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, thái độ và giảm thiểu hành vi bạo lực với vợ cho nam giới GBL tại cộng đồng thông qua phương pháp CTXH nhóm có tác động tích cực trong việc thay đổi nhận thức và hành vi của nam giới GBL về BLGĐ.

Đối tượng nghiên cứu là dịch vụ CTXH với nam giới gây bạo lực nhằm giảm thiểu BLGĐ. Khách thể nghiên cứu gồm 4 nhóm: nam giới có hành vi bạo lực với vợ; phụ nữ là nạn nhân; nhân viên CTXH và cán bộ các đoàn thể chính trị - xã hội cấp cơ sở; cán bộ và lãnh đạo quản lý ngành Văn hóa, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) từ cấp xã đến cấp tỉnh.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: Tập trung vào 5 dịch vụ CTXH gồm: (1) Truyền thông vận động giáo dục nâng cao nhận thức; (2) Hỗ trợ việc làm; (3) Tư vấn pháp lý; (4) Tham vấn tâm lý cá nhân; (5) Câu lạc bộ nam giới GBL.
  • Không gian: Tỉnh Quảng Ninh, khảo sát tại 3 địa bàn đại diện cho 3 vùng sinh thái: Thành phố Hạ Long (đô thị), Huyện Hoành Bồ / Huyện Hải Hà (miền núi/nông thôn), Huyện Vân Đồn (hải đảo).
  • Thời gian: Tổng hợp tài liệu từ năm 2016; thu thập dữ liệu định tính và định lượng từ tháng 2/2019 đến tháng 12/2020; thực nghiệm mô hình CLB nam giới từ tháng 8/2019 đến tháng 10/2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu quốc tế chỉ ra mức độ phổ biến của bạo lực gia đình và các can thiệp đối với nam giới:

  • Thiệt hại kinh tế và tỷ lệ: Wodarski và Thyer (1998) ghi nhận 95% nạn nhân là phụ nữ, khoảng 3-4 triệu phụ nữ Mỹ bị bạo hành mỗi năm; Glazer (1993) và Ủy ban Tư pháp Thượng viện Hoa Kỳ (1992) chỉ ra thiệt hại tài chính cho doanh nghiệp Mỹ từ 3 đến 4 tỷ USD/năm; Gelles và Straus (1986, 1988, 1990) khảo sát 5.349 cặp vợ chồng tại Mỹ, ghi nhận tỷ lệ bạo lực vợ chồng là 161/1.000 cặp và đánh đập nghiêm trọng là 34/1.000 cặp (~1,8 triệu phụ nữ/năm). Điều tra của WHO tại 10 quốc gia trên 24.000 phụ nữ cho thấy tỷ lệ bạo lực thể xác hoặc tình dục dao động từ 15% đến 71% (Nhật Bản: 13%, Peru: 61%, Thái Lan: 23-34%, Campuchia: 22%, Trung Quốc: 34%). Năm 2020, đại dịch Covid-19 làm gia tăng từ 30% đến 300% số vụ BLGĐ trên thế giới (Kinh Châu - Trung Quốc tăng 3 lần, Ấn Độ tăng gấp đôi, Pháp và Úc tăng hơn 30%).
  • Về nguyên nhân: Pryke và Thomas (1998) nhấn mạnh tư tưởng coi phụ nữ là tài sản, sự thất nghiệp và lạm dụng rượu. Các nhà nữ quyền Dobash và Dobash (1979), Zosky (1999), Bhanot và Senn (2007) xác định gốc rễ là sự bất bình đẳng quyền lực trong xã hội phụ hệ. Mô hình can thiệp Duluth (Minnesota, Mỹ) xây dựng lý thuyết "Bánh xe quyền lực và sự kiểm soát" (The Power and Control Wheel), xác định bạo lực là công cụ duy trì kiểm soát, còn rượu là tác nhân thúc đẩy. Lenora Walker (1979) phát hiện chu kỳ bạo lực gồm 3 giai đoạn: tích tụ căng thẳng, bùng phát ngược đãi nghiêm trọng, và giai đoạn trăng mật. Báo cáo của Bộ Nội vụ Anh chỉ ra 73% người gây bạo lực đã sử dụng rượu trước khi thực hiện hành vi.
  • Về mô hình dịch vụ: Mô hình can thiệp tư pháp FVIP và Safe at Home (Tasmania, Úc); Campus Grant Program (Mỹ); Luật VAWC 2004 và các chương trình WCC, Bathaluman (BCCF), DPF tại Philippines. Đối với việc làm việc trực tiếp với nam giới: Dự án CHANGE (Đại học Stirling, Scotland, 1996) tổng hợp hơn 30 chương trình can thiệp nhóm tại Anh (Worth, West Yorkshire, The Derby IMPACT...); Alyce La Violette phân tích chương trình "Thay thế bạo lực" (Alternatives to Violence - ATV) tại California từ năm 1979, yêu cầu thời gian can thiệp tối thiểu 18 tháng và mất từ 6 đến 10 tháng để người nam vượt qua sự chối bỏ hành vi; Chiến dịch White Ribbon tại Canada (tổ chức từ 25/11 đến 6/12) lan tỏa tới hơn 25 quốc gia; chương trình "1800 RESPECT", "The Line", "Respectful Relationships" tại Úc.

Tổng quan nghiên cứu trong nước:

  • Thực trạng: Điều tra quốc gia năm 2019 xác nhận 62,9% phụ nữ từng bị bạo lực trong đời, trong đó bạo lực tinh thần chiếm tỷ lệ cao nhất (47%), bạo lực thể xác (26,1%), bạo lực kinh tế (20,6%), bạo lực tình dục (13,3% - tăng so với mức 9% năm 2010). Năm 2020, các đường dây nóng 1900 969 680 (Ngôi nhà Bình yên) và 1800 1769 (Ngôi nhà Ánh dương tại Quảng Ninh) ghi nhận số cuộc gọi tăng gấp đôi, số người tiếp nhận hỗ trợ tăng 80%.
  • Nguyên nhân: Nghiên cứu của Lê Thị Quý (2002) chỉ ra 4 nhóm nguyên nhân (kinh tế, học vấn/tàn dư phong kiến, thói quen rượu chè/cờ bạc, bệnh thần kinh); Trung tâm Sức khỏe phụ nữ và Gia đình (2002) chỉ ra 5 nguyên nhân; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê và Viện Gia đình và Giới (2006-2011) chỉ ra say rượu chiếm 37,5% lý do chồng đánh vợ; Khảo sát của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (600 mẫu) ghi nhận 56,7% người chồng đổ lỗi cho tính nóng nảy, 29,5% do rượu, 22,8% coi đánh vợ là bình thường; Nghiên cứu của Viện Gia đình và Giới trên 1.026 hộ ghi nhận rượu chiếm hơn 50% nguyên nhân trực tiếp; Nghiên cứu thiệt hại kinh tế của UN Women chỉ ra phụ nữ từng bị bạo lực thời thơ ấu có nguy cơ bị bạo lực cao gấp 3,11 lần; Luận án của Lý Thị Minh Hằng phân tích khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực.
  • Các mô hình can thiệp: Mạng lưới PCBLGĐ; Dự án can thiệp y tế tại Gia Lâm (Hà Nội, 2005); Dự án RaFH tại Ninh Bình (2004); Dự án của UNFPA tại Đoan Hùng (Phú Thọ) và Bến Tre (2004); Khảo sát của Trần Tuyết Ánh và cộng sự (2017) về nơi tạm lánh và dịch vụ y tế; Hệ thống 32.205 địa chỉ tin cậy ở cộng đồng hỗ trợ 6.234 nạn nhân năm 2014; Báo cáo Bộ Y tế về tiếp nhận nạn nhân tại Nam Định (1.017 ca), Quảng Bình (4.952 ca), Ninh Thuận (2.212 ca); Hệ thống nhà tạm lánh (Ngôi nhà Bình yên, CSAGA, mô hình Thái Bình); Dự án Oxfam Novib tại Quảng Ninh (hỗ trợ hơn 130 nạn nhân giai đoạn 2014-2015); Ngôi nhà Ánh Dương tại Quảng Ninh (thành lập tháng 4/2020 do UNFPA và KOICA hỗ trợ, tính đến quý II/2021 đã tư vấn cho 74 trường hợp, can thiệp khẩn cấp 35 ca).
  • Can thiệp với nam giới: Báo cáo UNODC (2011) chỉ ra hơn 95% thủ phạm là chồng/chồng cũ. Bộ LĐTBXH và UNFPA đã biên soạn cuốn "Sổ tay hướng dẫn cán bộ công tác xã hội làm việc với người gây bạo lực".

Khoảng trống luận án giải quyết: Hầu hết các công trình tại Việt Nam dừng lại ở mức mô tả thực trạng bạo lực, nguyên nhân và đánh giá dịch vụ hỗ trợ nạn nhân nữ. Luận án này đi sâu nghiên cứu đối tượng trực tiếp là nam giới gây bạo lực dưới góc độ ngành Công tác xã hội, đánh giá mức độ đáp ứng của 5 loại hình dịch vụ hỗ trợ nam giới và triển khai mô hình thực nghiệm nhóm tại cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận nghiên cứu duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh để nhìn nhận bạo lực gia đình trong tiến trình biến đổi các quan hệ kinh tế - xã hội. Về lý thuyết chuyên ngành, tác giả kết hợp 3 lý thuyết:

  1. Lý thuyết hệ thống (Systems Theory): Phân tích hành vi bạo lực của nam giới và quá trình cung cấp dịch vụ CTXH trong sự tương tác đa tầng giữa các tiểu hệ thống: cá nhân người gây bạo lực, hệ thống gia đình, mạng lưới bạn bè, hệ thống dịch vụ trợ giúp, cộng đồng và khung chính sách pháp luật vĩ mô.
  2. Lý thuyết nhu cầu (Needs Theory): Dùng làm căn cứ nhận diện các thiếu hụt và mong muốn cụ thể của nam giới gây bạo lực (nhu cầu việc làm, nhu cầu giải tỏa tâm lý, nhu cầu tư vấn pháp luật, nhu cầu tham gia nhóm chia sẻ), từ đó đo lường mức độ đáp ứng của hệ thống dịch vụ CTXH.
  3. Lý thuyết thân chủ trọng tâm (Client-Centered Theory): Định hướng cách tiếp cận tôn trọng, lắng nghe, không phán xét đối với người gây bạo lực, tạo môi trường an toàn để họ tự nhận thức trách nhiệm, khơi dậy nội lực và thay đổi hành vi mà không dùng bạo lực.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp định lượng và định tính:

  • Điều tra bằng bảng hỏi (định lượng):
    • Tổng thể: Theo Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật PCBLGĐ của UBND tỉnh Quảng Ninh (2008-2018), số nam giới gây bạo lực được thống kê giai đoạn 2012-2018 là $N = 1.200$ người.
    • Cỡ mẫu: Áp dụng công thức Slovin: $$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$ Với mức sai số $e = 0,05$ (5%), cỡ mẫu tối thiểu được tính là: $$n = \frac{1.200}{1 + 1.200 \cdot (0,05)^2} = 300$$
    • Cách chọn mẫu và thu thập: 300 phiếu hỏi được phát cho nam giới gây bạo lực tại 3 địa bàn (TP. Hạ Long, Huyện Hải Hà, Huyện Vân Đồn), thực hiện lồng ghép trong các buổi truyền thông của Phòng Bình đẳng giới (Sở LĐTBXH Quảng Ninh) với sự tham gia của hơn 70 người/buổi, số còn lại được khảo sát trực tiếp tại cộng đồng dựa trên danh sách quản lý.
    • Cấu trúc phiếu: Gồm 15 câu hỏi đánh giá thông tin cá nhân, thực trạng 4 hình thức bạo lực (câu 1), hiểu biết về dịch vụ (câu 2), nhu cầu sử dụng (câu 3, 13), thực trạng và vai trò 5 dịch vụ CTXH (câu 4, 6, 8, 9, 10, 11, 12), và các yếu tố ảnh hưởng (câu 7, 14, 15).
  • Phỏng vấn sâu (định tính): Thực hiện trên 23 đối tượng bằng 5 mẫu phỏng vấn: 9 nam giới gây bạo lực tại 3 địa bàn; 6 phụ nữ là nạn nhân; 3 cán bộ Hội Phụ nữ; 3 nhân viên CTXH; 3 cán bộ quản lý Phòng Văn hóa hoặc LĐTBXH cấp huyện; 1 lãnh đạo Sở LĐTBXH; 1 lãnh đạo Trung tâm CTXH tỉnh; 3 thành viên tham gia CLB nam giới và 3 người vợ của họ.
  • Thảo luận nhóm: Tổ chức tại 3 địa bàn với 2 nhóm đối tượng: Nhóm nam giới gây bạo lực (3 người/địa bàn, tổng cộng 9 người) và Nhóm cán bộ văn hóa - xã hội, phụ nữ, nông dân, công an cấp xã (3 người/địa bàn, tổng cộng 9 người).
  • Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, phản ứng của đối tượng trong các buổi phỏng vấn, thảo luận và tiến trình sinh hoạt CLB.
  • Nghiên cứu tài liệu: Sàng lọc gần 100 công trình khoa học, báo cáo thống kê qua Google Scholar và các văn bản quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Nhập liệu và quản lý thông tin bằng phần mềm EpiData 3.1; xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 22.0 để tính tần suất, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình và kiểm định tương quan.
  • Phương pháp CTXH nhóm thực nghiệm: Thiết kế mô hình CLB nam giới tiên phong gồm 15 thành viên là nam giới gây bạo lực tại xã Quảng Thành, huyện Hải Hà. Can thiệp diễn ra qua 14 buổi sinh hoạt từ tháng 8/2019 đến tháng 10/2020 theo tiến trình 4 giai đoạn của CTXH nhóm; lượng giá bằng kiểm định trước - sau thực nghiệm trên thang điểm 100 (kiến thức) và thang điểm 10 (kỹ năng xử trí mâu thuẫn, công cụ kiểm soát hành vi).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 tổng hợp các tài liệu học thuật trong và ngoài nước thành 3 mảng nội dung chính: thực trạng - nguyên nhân BLGĐ; các mô hình, dịch vụ PCBLGĐ; và dịch vụ CTXH dành riêng cho nam giới gây bạo lực. Tác giả chỉ ra rằng các can thiệp quốc tế đã chuyển biến mạnh mẽ từ trừng phạt pháp lý đơn thuần sang kết hợp điều trị tâm lý nhóm bắt buộc và tự nguyện (như mô hình ATV tại Mỹ, dự án CHANGE tại Scotland, các chương trình can thiệp FVIP tại Úc). Ngược lại, tại Việt Nam, các mô hình can thiệp giai đoạn 2004–2020 chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ, tạm lánh, hỗ trợ y tế và pháp lý cho nạn nhân nữ (các dự án của UNFPA, RaFH, CSAGA, Ngôi nhà Bình yên, Ngôi nhà Ánh dương). Chương này khẳng định khoảng trống lớn trong nghiên cứu trong nước là sự thiếu vắng các công trình đánh giá thực nghiệm về hiệu quả của các dịch vụ CTXH làm việc trực tiếp với người gây bạo lực là nam giới.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội với nam giới trong việc giảm thiểu bạo lực gia đình

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ: bạo lực gia đình (thể xác, tinh thần, kinh tế, tình dục), nam giới gây bạo lực gia đình, đặc điểm tâm lý - xã hội của nhóm đối tượng này. Tác giả phân tích những rào cản tâm lý đặc thù của người nam gây bạo lực như mặc cảm, sự chối bỏ trách nhiệm, cơ chế tự vệ tâm lý và nhu cầu hỗ trợ phục hồi. Luận án chuẩn hóa cấu trúc 5 dịch vụ CTXH then chốt đối với nam giới gây bạo lực:

  1. Truyền thông, vận động giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và kiểm soát bạo lực.
  2. Dịch vụ hỗ trợ việc làm và can thiệp sinh kế nhằm giảm bớt căng thẳng kinh tế.
  3. Tư vấn và hỗ trợ pháp lý giúp nam giới hiểu rõ chế tài và nghĩa vụ pháp luật.
  4. Tham vấn, hỗ trợ tâm lý cá nhân nhằm tháo gỡ tổn thương tâm lý, kiềm chế cảm xúc.
  5. Câu lạc bộ nam giới gây bạo lực ứng dụng phương pháp CTXH nhóm.

Chương này cũng phân tích 6 nhóm yếu tố chi phối dịch vụ CTXH: yếu tố bản thân nam giới; năng lực nhân viên CTXH và cán bộ cơ sở; yếu tố gia đình; yếu tố chính sách pháp luật; nguồn lực tài chính; và mạng lưới hỗ trợ của cộng đồng.

Chương 3: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội với nam giới gây bạo lực nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình tại tỉnh Quảng Ninh

Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát từ 300 nam giới gây bạo lực và 23 phỏng vấn sâu tại 3 địa bàn (Hạ Long, Hải Hà, Vân Đồn). Các phát hiện nổi bật gồm:

  • Thực trạng hành vi bạo lực: Bạo lực tinh thần là hình thức phổ biến nhất (lăng mạ, sỉ nhục, kiểm soát quan hệ, cô lập kinh tế), tiếp đến là bạo lực kinh tế (giữ tiền, không đóng góp kinh phí sinh hoạt, ngăn cản quyền tài chính), bạo lực thể xác (tát, đấm, đá, sử dụng hung khí) và bạo lực tình dục (cưỡng ép quan hệ khi vợ không đồng ý). Mức độ bạo lực thể xác có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng lạm dụng rượu bia và áp lực thu nhập.
  • Hiểu biết và nhu cầu tiếp cận dịch vụ: Tỷ lệ nam giới hiểu biết đầy đủ về các dịch vụ CTXH còn rất thấp; phần lớn chỉ biết đến hoạt động hòa giải ở cơ sở của Hội Phụ nữ hoặc công an khi có xô xát xảy ra. Tuy nhiên, khi được giải thích, nhu cầu tiếp cận dịch vụ hỗ trợ việc làm, tham vấn tâm lý kiểm soát cơn giận và tham gia CLB chia sẻ kỹ năng sống đạt tỷ lệ cao.
  • Đánh giá chất lượng dịch vụ: Các dịch vụ hiện có tại địa phương chủ yếu mang tính lồng ghép, chưa chuyên biệt cho nam giới. Mức độ đáp ứng nhu cầu của các dịch vụ truyền thông và tư vấn pháp lý chỉ đạt mức trung bình, trong khi dịch vụ hỗ trợ tâm lý chuyên sâu và mô hình CLB sinh hoạt định kỳ cho nam giới gần như bị bỏ trống.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Kết quả kiểm định thống kê cho thấy yếu tố nhận thức, tâm lý e ngại, sự kỳ thị của xã hội và định kiến giới của bản thân nam giới là rào cản lớn nhất; tiếp theo là sự thiếu hụt về nhân viên CTXH được đào tạo chuyên môn và nguồn kinh phí vận hành tại cấp xã.
Danh mục bảng số liệu chính trong Chương 3 Nội dung đo lường
Bảng 3.1 Mô tả đặc điểm nhân khẩu học của 300 nam giới tham gia khảo sát
Bảng 3.2 Tỷ lệ phân bố 4 loại hình BLGĐ theo nhóm tuổi, học vấn, nghề nghiệp
Bảng 3.3 Tỷ lệ hiểu biết của nam giới về các dịch vụ CTXH theo đặc điểm nhân khẩu
Bảng 3.4 & 3.5 Nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH theo trình độ học vấn và khu vực sinh sống
Bảng 3.6 Các nhu cầu cụ thể khi tham gia sinh hoạt mô hình CLB nam giới
Bảng 3.7 & 3.8 Đánh giá chung về chất lượng các dịch vụ CTXH xét theo từng khu vực
Bảng 3.9 - 3.13 Đánh giá chi tiết vai trò của 5 dịch vụ CTXH chuyên biệt
Bảng 3.14 & 3.15 Nguyên nhân chưa đáp ứng nhu cầu và mức độ tác động của 6 nhóm yếu tố

Chương 4: Thực nghiệm mô hình câu lạc bộ nam giới và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội với nam giới gây bạo lực

Chương 4 mô tả tiến trình thực nghiệm can thiệp bằng phương pháp CTXH nhóm thông qua mô hình CLB nam giới tiên phong tại xã Quảng Thành, huyện Hải Hà từ tháng 8/2019 đến tháng 10/2020:

  • Quy mô và cách thức tổ chức: Tuyển chọn 15 thành viên là nam giới đã từng có hành vi bạo lực gia đình với vợ. Nhóm trải qua 14 buổi sinh hoạt định kỳ với cấu trúc bài bản, trải qua 4 giai đoạn phát triển nhóm: (1) Thành lập và xây dựng niềm tin; (2) Nhận diện vấn đề và bộc lộ mâu thuẫn; (3) Thay đổi hành vi và rèn luyện kỹ năng; (4) Lượng giá và kết thúc nhóm.
  • Nội dung can thiệp: Giúp nhóm viên nhận biết các hình thức bạo lực phi thể xác, tác hại của bạo lực đối với sự phát triển của con cái; trang bị kỹ năng nhận diện tín hiệu cơ thể khi bực tức, kỹ năng hạ hỏa, kỹ năng lắng nghe tích cực, kỹ năng giao tiếp không bạo lực và công cụ tự giám sát hành vi.
  • Kết quả lượng giá: So sánh trước và sau 14 buổi can thiệp cho thấy sự chuyển biến rõ rệt:
    • Kiến thức về BLGĐ: Điểm kiểm tra trung bình (thang 100) tăng từ mức trung bình - yếu lên mức khá - giỏi.
    • Kỹ năng xử trí xung đột: Điểm thực hiện các kỹ năng xử lý mâu thuẫn gia đình mà không sử dụng bạo lực (thang 10) có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê giữa thời điểm trước và sau thực nghiệm.
    • Tự giám sát hành vi: Nhóm viên duy trì các công cụ thay thế tích cực; qua phỏng vấn sâu 3 người vợ, các hành vi bạo lực thể xác đã chấm dứt hoàn toàn trong thời gian theo dõi, các xung đột lời nói giảm thiểu rõ rệt.
  • Hệ thống giải pháp: Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ: (1) Hoàn thiện chính sách hỗ trợ người gây bạo lực; (2) Đổi mới nội dung truyền thông hướng tới nam giới; (3) Đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên CTXH và cán bộ cơ sở; (4) Tích hợp dịch vụ hỗ trợ sinh kế và tâm lý; (5) Nhân rộng mô hình CLB nam giới ra các địa bàn khác.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ hệ thống khái niệm, đặc điểm tâm lý, rào cản xã hội và các nhu cầu trợ giúp của nhóm nam giới gây bạo lực gia đình trong bối cảnh xã hội Việt Nam.
  • Xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về dịch vụ CTXH đối với nam giới gây bạo lực nhằm giảm thiểu BLGĐ, xác định rõ cấu trúc, chức năng của 5 loại hình dịch vụ hỗ trợ chuyên biệt và các yếu tố tương tác chi phối chất lượng dịch vụ.
  • Thiết lập khung phương pháp ứng dụng CTXH nhóm chuyên nghiệp trong can thiệp thay đổi hành vi của nam giới gây bạo lực tại cộng đồng, đóng góp tài liệu học thuật cho chuyên ngành Công tác xã hội tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh thực trạng về hành vi bạo lực, mức độ hiểu biết và nhu cầu tiếp cận dịch vụ CTXH của 300 nam giới gây bạo lực tại 3 vùng sinh thái của tỉnh Quảng Ninh, chỉ ra rằng rào cản lớn nhất xuất phát từ tâm lý của người nam và sự thiếu hụt dịch vụ chuyên trách.
  • Xây dựng, vận hành và chứng minh hiệu quả thực tế của mô hình CLB nam giới tiên phong (15 thành viên, 14 buổi can thiệp) tại xã Quảng Thành, huyện Hải Hà; kiểm chứng bằng số liệu trước và sau can thiệp về sự gia tăng kiến thức, kỹ năng kiểm soát cơn giận và chấm dứt hành vi đánh vợ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị thực tiễn có tính khả thi, hỗ trợ các cơ quan hoạch định chính sách (Bộ LĐTBXH, Hội Phụ nữ, chính quyền tỉnh Quảng Ninh) chuyển dịch chiến lược từ can thiệp thụ động sang can thiệp chủ động tại gốc rễ của bạo lực gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Mẫu khảo sát định lượng (300 nam giới) được lựa chọn theo phương pháp kết hợp ngẫu nhiên tại 3 địa bàn của tỉnh Quảng Ninh (Hạ Long, Hải Hà, Vân Đồn) và thu thập lồng ghép qua các buổi truyền thông của địa phương, do đó việc khái quát hóa kết quả cho toàn bộ nam giới gây bạo lực trên phạm vi toàn quốc cần có sự cân nhắc về bối cảnh văn hóa - xã hội từng vùng miền.
  • Mô hình thực nghiệm can thiệp CTXH nhóm mới dừng lại ở quy mô 1 CLB với 15 thành viên tại một xã thuần nông (xã Quảng Thành, huyện Hải Hà); thời gian theo dõi sau can thiệp chưa kéo dài nhiều năm để đo lường nguy cơ tái phát bạo lực dài hạn khi môi trường sống có biến động lớn.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm can thiệp CTXH nhóm đối với nam giới gây bạo lực tại các khu vực đô thị lớn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các khu công nghiệp tập trung.
  • Nghiên cứu sâu hơn về các công cụ lượng giá tâm lý chuyên sâu và xây dựng chương trình can thiệp cá nhân kết hợp can thiệp cặp đôi (vợ - chồng) sau khi người nam hoàn thành tiến trình nhóm.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học, Giới và Phát triển: Tài liệu cung cấp khung lý luận, hệ thống công cụ khảo sát 15 câu hỏi, 5 mẫu phỏng vấn sâu và giáo trình tiến trình sinh hoạt nhóm 14 buổi can thiệp nam giới gây bạo lực.
  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch: Giá trị tham khảo nằm ở các bằng chứng thực tiễn về khoảng trống can thiệp đối với thủ phạm bạo lực, làm cơ sở xây dựng các đề án, tiêu chuẩn dịch vụ CTXH và sửa đổi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
  • Nhân viên công tác xã hội, cán bộ các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân) và cán bộ trạm y tế, công an cấp cơ sở: Hướng dẫn kỹ thuật tiếp cận, vận động nam giới có hành vi bạo lực tham gia sinh hoạt cộng đồng và phương pháp điều hành nhóm hỗ trợ đồng đẳng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án xác định cỡ mẫu 300 nam giới gây bạo lực dựa trên cơ sở toán học và thực tiễn nào? Cỡ mẫu được tính toán dựa trên công thức chọn mẫu Slovin: $n = N / (1 + N \cdot e^2)$. Trong đó, tổng thể $N = 1.200$ là tổng số nam giới gây bạo lực gia đình được thống kê trong Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật PCBLGĐ của UBND tỉnh Quảng Ninh (giai đoạn 2012–2018). Với mức sai số cho phép $e = 0,05$ (5%), cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 300 người. Tác giả đã tiến hành phát và thu đủ 300 phiếu hỏi hợp lệ tại 3 địa bàn đại diện: TP. Hạ Long, Huyện Hải Hà và Huyện Vân Đồn.

  2. Năm dịch vụ công tác xã hội trọng tâm đối với nam giới gây bạo lực được luận án nghiên cứu là gì? Luận án tập trung khảo sát và đánh giá 5 dịch vụ chuyên biệt: (1) Dịch vụ truyền thông, vận động giáo dục nâng cao nhận thức; (2) Dịch vụ hỗ trợ việc làm; (3) Dịch vụ tư vấn pháp lý; (4) Dịch vụ tham vấn, hỗ trợ tâm lý cá nhân; (5) Dịch vụ câu lạc bộ nam giới gây bạo lực.

  3. Mô hình thực nghiệm câu lạc bộ nam giới tiên phong được triển khai tại đâu và thu được kết quả gì? Mô hình được triển khai thực nghiệm tại xã Quảng Thành, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh với 15 thành viên là nam giới từng có hành vi bạo lực với vợ. Tiến trình gồm 14 buổi sinh hoạt theo phương pháp CTXH nhóm từ tháng 8/2019 đến tháng 10/2020. Kết quả đo lường cho thấy điểm kiểm tra kiến thức về BLGĐ (thang 100) và điểm kỹ năng xử lý xung đột không dùng bạo lực (thang 10) của các thành viên đều tăng lên rõ rệt; 100% nhóm viên tham gia chấm dứt hành vi bạo lực thể xác đối với vợ trong suốt thời gian can thiệp và theo dõi.

  4. Dữ liệu trong luận án chỉ ra các yếu tố trực tiếp nào dẫn đến hành vi bạo lực của nam giới với vợ tại Việt Nam? Dựa trên tổng quan các nghiên cứu trong nước (như khảo sát của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Viện Gia đình và Giới, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch), các nguyên nhân trực tiếp gồm: lạm dụng rượu bia (chiếm trên 37,5% đến hơn 50% các vụ việc bạo lực thể xác); khó khăn tài chính và áp lực kinh tế (chiếm khoảng 22%); mâu thuẫn sinh hoạt và bất đồng trong nuôi dạy con cái (chiếm từ 23,8% đến 36,8%); tư tưởng gia trưởng coi hành vi đánh vợ là quyền của người đàn ông (chiếm 22,8%).

  5. Những lý thuyết khoa học nào được luận án vận dụng để định hướng cung cấp dịch vụ CTXH cho nam giới? Luận án vận dụng 3 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết hệ thống (đặt hành vi của nam giới trong mối quan hệ đa chiều với gia đình, cơ quan chức năng và môi trường xã hội); Lý thuyết nhu cầu (xác định các nhu cầu thiết yếu về sinh kế, giải tỏa tâm lý và trang bị kỹ năng để thiết kế dịch vụ phù hợp); Lý thuyết thân chủ trọng tâm (tiếp cận bình đẳng, tôn trọng, không kỳ thị, xem người gây bạo lực là chủ thể có tiềm năng thay đổi khi được trợ giúp đúng cách).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Hoàng Tuyết Mai là công trình khoa học chuyên ngành Công tác xã hội nghiên cứu thực nghiệm về dịch vụ hỗ trợ nam giới gây bạo lực nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu, lý thuyết thân chủ trọng tâm với phương pháp khảo sát định lượng 300 mẫu và can thiệp thực nghiệm nhóm 15 thành viên tại tỉnh Quảng Ninh, luận án đã chứng minh rằng việc can thiệp trực tiếp vào người gây bạo lực mang lại hiệu quả thiết thực trong việc thay đổi hành vi và kiểm soát xung đột gia đình. Các kết quả nghiên cứu và mô hình CLB nam giới tiên phong cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng có giá trị cho công tác đào tạo học thuật cũng như hoạch định chính sách phòng chống bạo lực gia đình tại Việt Nam.