Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2 : Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội với nam giới gây bạo lực trong việc giảm thiểu bạo lực gia đình Chương 3 : Thực trạng dịch vụ công tác xã hội với nam giới gây bạo lực trong việc giảm thiểu bạo lực gia đình tại Tỉnh Quảng Ninh Chương 4: Thực nghiệm mô hình câu lạc bộ nam giới tiên và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội với nam giới gây bạo lực 14 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Để góp phần tổng quan các nghiên cứu liên quan đến dịch vụ công tác xã hội với nam giới gây bạo lực trong việc giảm thiểu bạo lực gia đình một cách hệ thống và toàn diện, luận án đã tiến hành phân tích và tổng hợp kết quả của các nghiên cứu đã có, đồng thời tiếp tục làm rõ những nhiệm vụ đặt ra về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu liên quan đến dịch vụ CTXH với nam giới GBL. Tổng quan tài liệu cung cấp một cái nhìn phổ quát vấn đề nghiên cứu, từ mức độ phổ biến và nguyên nhân gây ra BLGĐ cho đến các dịch vụ CTXH đối với nạn nhân của BLGĐ và đặc biệt là các dịch vụ CTXH với nam giới – người gây ra bạo lực chính nhằm giảm thiểu BLGĐ. Dữ liệu được tìm kiếm trên các nguồn báo cáo, ấn phẩm, tài liệu liên quan đến lĩnh vực bạo lực gia đình và các biện pháp phòng ngừa giảm thiểu bạo lực gia đình dưới góc độ dịch vụ CTXH. Ưu tiên các tài liệu sách chuyên khảo, các đề tài khoa học, các bài báo khoa học, các luận án, luận văn đã được công bố, các báo cáo của địa phương mô tả đầy đủ các chỉ số của công cụ nghiên cứu như độ tin cậy, độ hiệu lực, số lượng mẫu đủ đại diện và những thông tin trên các trang wed được cập nhật liên tục.
Từ khóa tìm kiếm bao gồm “bạo lực gia đình‖, ―công tác xã hội với bạo lực gia đình”, “ dịch vụ công tác xã hội với nam giới gây bạo lực‖. Ngoài ra, để tăng thêm tài liệu, nghiên cứu đã lựa chọn tìm kiếm nâng cao trên Google scholar cũng không giới hạn về thời gian xuất bản và tác giả. Sau quá tổng hợp có gần 100 tài liệu, nghiên cứu được sàng lọc và đáp ứng tiêu chí. Các kết quả chính đạt được: 1.1 Tổng quan nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1.1 Thực trạng và các nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình 1.1 Thực trạng bạo lực gia đình Bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong gia đình không phải là vấn đề mới mẻ mà là hiện tượng có tính lịch sử tương đối phổ biến trên thế giới.
Điều đó đã và đang xảy ra ở mọi dân tộc, quốc gia và trong các gia đình thuộc mọi tầng lớp xã hội khác nhau. Trong quá khứ và thậm chí hiện đang ở một số quốc gia trên thế giới, hành vi đánh đập, mắng chửi và trừng phạt hà khắc về tinh thần hay thể xác đối với người phụ nữ trong gia đình như một cách thể hiện uy quyền của người đàn ông trong gia đình. BLGĐ với phụ nữ đều gây thiệt hại cho quốc gia về mọi mặt như gia 15 tăng các chi phí về mặt kinh tế, chăm sóc sức khoẻ và xã hội, từ đó làm giảm năng suất lao động và hiệu quả kinh tế: BLGĐ tại Canada gây thiệt hại ước tính khoảng 1.6 tỷ đô la hàng năm trong khi tại Mỹ, con số này lên tới 67 tỷ đô la; tại New Zealand, thiệt hại gây ra do BLGĐ vào năm 1993 ước tính khoảng 1.2 tỷ đô la cao hơn cả lợi nhuận từ việc xuất khẩu lông cừu của nước này ( UNESCO Bangkok,2004 ) [72]. Ngay ở những nước được coi là phát triển văn minh ở Châu Âu, Châu Mỹ vẫn có không ít người phải chịu đựng vấn nạn này.
Có nhiều số liệu đáng ngạc nhiên liên quan đến bạo lực gia đình, chẳng hạn, khảo sát bởi nhóm tác giả Wodarski & Thyer (1998) cho thấy có khoảng 95% nạn nhân của bạo lực gia đình là phụ nữ, có từ 3 đến 4 triệu phụ nữ Mỹ bị bạo lực mỗi năm bởi chồng và bạn tình, và khoảng 4/10 phụ nữ có khả năng bị một đối tác lạm dụng trong đời [70]. Những con số này chuyển đổi thành chi phí tài chính cho các doanh nghiệp Mỹ ở mức 3 tỷ đến 4 tỷ đô la một năm do mất thời gian, chi phí y tế tăng, doanh thu cao hơn và năng suất thấp (Glazer, 1993; Ủy ban Tư pháp Thượng viện Hoa Kỳ, 1992) [68]. Trong Khảo sát Bạo hành Gia đình Quốc gia (Gelles & Straus, 1988; Straus & Gelles, 1986), một số loại bạo lực vợ chồng đã được tìm thấy ở 16% số gia đình trong năm trước cuộc khảo sát và 28% các cặp vợ chồng đã báo cáo hôn nhân bạo lực tại một số điểm trong cuộc hôn nhân của họ [64]. Gelles và Straus (1990) ước tính tỷ lệ hàng năm của vụ tấn công thể chất trên vợ / chồng là 161 nạn nhân trên 1.000 cặp vợ chồng trong nghiên cứu của họ là 5.349 cặp vợ chồng.
Tỷ lệ vợ bị đánh đập, được định nghĩa là một hoặc nhiều hành vi bạo lực gây nguy cơ nghiêm trọng dẫn tới chấn thương là 34 nạn nhân trên 1.000 cặp vợ chồng hoặc một ước tính khoảng 1,8 triệu người vợ bị thiệt hại nghiêm trọng mỗi năm ở Hoa Kỳ [65]. Dựa trên tổng kết tư liệu của các nước trên thế giới cho thấy trong suốt cả cuộc đời, người phụ nữ luôn có nguy cơ bị các dạng bạo lực khác nhau ( như bạo lực gia đình, hiếp dâm, bị quấy rối tình dục, ép buộc vào con đường mại dâm…) trong đó nhiều nhất và phổ biến nhất là bị BLGĐ do chồng/ bạn tình gây ra [56]. Điều tra của 48 nước trên thế giới, đã có khoảng 10 đến 69% phụ nữ trong mẫu điều tra báo cáo họ đã từng bị bạo lực về thân thể do chồng/bạn tình gây ra [69]. Nghiên cứu đa quốc gia về sức khoẻ phụ nữ và BLGĐ đối với phụ nữ do Tổ chức Y tế thế giới tiến hành tại 10 nước trên mẫu 24.000 phụ nữ từ 15 tuổi trở lên 16 cho thấy có khoảng từ 15 đến 71 phụ nữ cho biết đã từng bị ít nhất một trong các dạng bạo lực về thể chất hoặc tình dục do chồng gây ra.
Cùng với đó nghiên cứu đã phát hiện được rằng mức độ phổ biến của các trường hợp phụ nữ từng bị bạo lực thân thể ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ chiếm từ 13 ở Nhật (số liệu thống kê của các thành phố) đến 61 ở Pêru (số liệu thống kê của các tỉnh). Cũng khảo sát trên cho thấy tại Thái Lan, 23 số phụ nữ từng có bạn tình ở Bangkok (số liệu thống kê của thành phố) đã báo cáo về việc họ có lúc đã bị bạn tình bạo hành về thân thể, còn ở Nakhonsavan, tỷ lệ này là 34 (số liệu thống kê của tỉnh). Tại Campuchia, cho thấy có 22 số phụ nữ từng kết hôn đã bị chồng họ hành hạ về thân thể, về tinh thần và/hoặc về tình dục. Mẫu đại diện toàn quốc về phụ nữ và nam giới ở Trung Quốc trong độ tuổi từ 20 đến 64, có vợ hoặc chồng hay có bạn tình thường xuyên, cũng cho thấy có 34 phụ nữ trong số này đã từng bị chồng hoặc bạn tình đánh đập [87].
Năm 2020 chứng kiến trẻ em và phụ nữ là đối tượng bị chịu ảnh hưởng nhiều nhất trong bối cảnh đại dịch Covit 19. Nhiều người phải đối mặt với bạo lực và môi trường sống không an toàn. Tỷ lệ bạo lực gia đình tăng từ 30 đến 300 ở khắp mọi nơi trên thế giới, trong đó trẻ em và phụ nữ vừa là người chứng kiến vừa là nạn nhân. Giống như nhiều quốc gia khác, bạo lực gia đình tại Nhật Bản gia tăng trong giai đoạn phong tỏa, cách ly tại nhà.
Tại Trung Quốc, số vụ bạo lực gia đình được trình báo ở một đồn cảnh sát tại thành phố Kinh Châu, tỉnh Hồ Bắc tăng gấp 3 lần vào tháng 2/2020 so cùng kỳ năm trước. Uỷ ban phụ nữ quốc gia Ấn Độ cho biết trong tuần đầu tiên hạn chế đi lại, nước này đã ghi nhận số vụ bạo lực gia đình tăng gấp đôi. Pháp cũng ghi nhận trường hợp gần tương tự với tỷ lệ tăng 30 tuần đầu phong toả. Ở Sydney (Úc), số vụ bạo lực tăng hơn 30 trong những tháng vừa qua so với cùng kỳ năm 2019 và số lượng tìm kiếm trên mạng internet liên quan đến nội dung hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình tăng đến 75.
Bạo lực gia đình gia tăng ở Singapore trong thời gian giãn cách xã hội. Số liệu tại các nước châu Âu bị ảnh hưởng do đại dịch cũng tương tự như vậy [94]. Tóm lại, những nghiên cứu đánh giá thực trạng về mức độ phổ biến của BLGD đối với phụ nữ được thực hiện ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới cho thấy tính phức tạp, đa dạng của các hình thức BLGĐ. Sự ảnh hưởng nghiêm trọng của nó không chỉ đối với riêng nạn nhân của BLGĐ mà còn là gia đình, cộng đồng và toàn 17 xã hội đến sự phát triển kinh tế chung của đất nước.
Từ đó đã chỉ ra sự cần thiết phải đấu tranh nhằm ngăn chặn và giảm thiểu tình trạng BLGĐ.2 Nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình Pryke và Thomas (1998) đã phân tích các nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình của nam giới: Những người đàn ông bạo lực cho rằng người phụ nữ là tài sản của họ và mối quan hệ gia đình là một vấn đề riêng tư, điều này nhấn mạnh sự hợp lý hóa rằng đàn ông có thể làm những gì họ sẽ làm. Đưa ra lỗi cho người phụ nữ cũng là một cách mà người đàn ông thường làm. Việc không có bữa ăn đã sẵn sàng, không có khả năng giữ trẻ yên lặng, không đảm bảo đáp ứng tình dục thường xuyên là nguyên nhân chính đáng để trừng phạt họ. Điều này cho thấy những mong đợi của người đàn ông về vai trò của người phụ nữ trong gia đình.
Ngoài ra, khó khăn trong công việc, thất nghiệp, nợ nần hoặc một số thất vọng cá nhân cũng là những lý do phổ biến cho việc bạo lực. Lạm dụng rượu được đề cập bởi nhiều người đàn ông như là một lời giải thích, toàn bộ hoặc một phần, cho một hành động quá mức hoặc bất thường của họ [71].