Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Trong quá trình khảo sát tư liệu, tác giả luận án nhận thấy vấn đề “Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015” được đề cập đến nhiều trong các công trình, bài viết, có thể chia theo 3 nhóm như sau: 1. Những công trình nghiên cứu chung về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam Cuốn sách 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945-1995) của Bế Viết Đẳng [38] đã tập trung nghiên cứu khá đầy đủ về các DTTS Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới trên các lĩnh vực: xây dựng và phát triển kinh tế; thực hiện định canh, định cư; xây dựng quan hệ xã hội mới; xây dựng văn hóa và phát triển y tế. Cuốn sách cung cấp những luận cứ thực tiễn nhằm đổi mới CSDT phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng, nhất là khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Cuốn sách Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi của Bế Viết Đẳng [39] đã đánh giá vấn đề dân tộc và việc thực hiện CSDT ở Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội và những vấn đề cấp bách đối với CSDT, tác giả đã đưa ra những nhận định và nêu một số nhận xét về CSDT trong thời kỳ mới. Trong đó khẳng định: Phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở để thực hiện CSDT. Công trình Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay của Phan Hữu Dật [23] và Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn [192] đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về quan hệ tộc người ở Việt Nam, trong đó dành một phần đáng kể đề cập đến quan hệ tộc người ở Tây Nguyên.
Viện nghiên cứu Chính sách Dân tộc và Miền núi có báo cáo Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá [193]. Công trình nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về CSDT của Đảng và những 8 định hướng cơ bản trong quy hoạch dân cư, đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Kiến nghị những giải pháp nhằm sớm ổn định và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc. Cuốn Miền núi Việt Nam thành tựu và phát triển những năm đổi mới của Trần Văn Thuật và các cộng sự [100], trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát về sự đa dạng của điều kiện tự nhiên - môi trường, văn hóa và kinh tế miền núi Việt Nam, các tác giả đã nêu định hướng và nguyên tắc phát triển miền núi và vùng DTTS của Đảng.
Đánh giá thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội và đặt ra những vấn đề về phát triển miền núi trong giai đoạn mới. Nhóm tác giả đã dành một chương bàn về xóa đói, giảm nghèo (XĐGN), đề ra những giải pháp thực hiện mục tiêu XĐGN. Về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc, vấn đề môi trường tự nhiên - quá trình khai thác, bảo vệ và biến đổi cũng được nghiên cứu khá đầy đủ. Cuốn Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay của Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng [90] đã nêu rõ những vấn đề cơ bản về dân tộc và CSDT của Đảng qua các thời kỳ cách mạng; phân tích những vấn đề đang đặt ra trong việc thực hiện CSDT và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt CSDT ở Việt Nam hiện nay.
Cuốn sách trình bày những nhận thức cơ bản về dân tộc và CSDT của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ từ 1930 đến 2006. Cuốn sách có những đánh giá tổng kết và phân tích sâu sắc đối với những vấn đề đang đặt ra cho việc thực hiện CSDT ở Việt Nam, như sự tranh chấp nguồn lợi và sự xung đột dân tộc, vấn đề nghèo đói, hoạt động của các thế lực thù địch. Đồng thời tác giả bước đầu đưa ra những quan điểm, giải pháp góp phần thực hiện tốt CSDT hiện nay ở Việt Nam. Cuốn sách Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay của Hoàng Chí Bảo [12] đã đánh giá thực trạng công bằng bình đẳng và hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội tại vùng đa dân tộc, cũng như quá trình thực hiện CSDT hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Tác giả đã đưa ra 4 giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm công bằng, bình đẳng trong phát triển kinh tế, xã hội giữa các dân tộc ở miền núi. Cùng 9 với đổi mới nhận thức về dân tộc, xây dựng HTCT và đào tạo nguồn nhân lực thì thực hiện tốt CSDT trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội được xem là giải pháp cơ bản để thực hiện công bằng, bình đẳng trong phát triển vùng đa tộc người ở Việt Nam hiện nay. Cuốn sách Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Ủy ban Dân tộc - Viện Dân tộc [140] đã cung cấp những thông tin đa chiều nhằm làm rõ kết quả, hạn chế, yếu kém, đề xuất các giải pháp, góp phần đổi mới và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa IX) về công tác dân tộc của Đảng. Cuốn sách Một số vấn đề về đổi mới xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc của Hoàng Hữu Bình, Phan Văn Hùng [14] đã tổng kết, đánh giá về công tác dân tộc và xây dựng, thực hiện CSDT, nhất là vấn đề đổi mới xây dựng và thực hiện CSDT.
Cuốn sách Một số vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay của Phan Văn Hùng [75] đã làm rõ những vấn đề về CSDT ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài "Những vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc ở nước ta", mã số KX 04.18/2011-2015 do Ủy ban Dân tộc chủ trì. Đó là những vấn đề cơ bản về quan hệ dân tộc, các yếu tố chủ yếu tác động đến quan hệ dân tộc, nguồn gốc bất bình đẳng và xung đột dân tộc; chủ trương, CSDT của Đảng và Nhà nước Việt Nam và một số định hướng CSDT trong thời gian tới; vấn đề nghèo, khoảng cách giàu nghèo giữa các dân tộc, các vùng dân tộc; vấn đề thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất đai trong vùng đồng bào DTTS. Cuốn sách có những đánh giá, luận chứng có giá trị tham khảo tốt cho đề tài luận án. Bên cạnh đó, còn có những công trình nghiên cứu về thực hiện CSDT ở các địa phương trong cả nước: Cuốn sách Một số điểm nóng chính trị - xã hội điển hình tại các vùng đa dân tộc ở các tỉnh miền núi trong những năm gần đây.
Hiện trạng, vấn đề các bài học kinh nghiệm trong xử lý tình huống của Lưu Văn Sùng [91] đã khảo sát đánh giá về điểm nóng chính trị - xã hội và xử lý điểm nóng trên địa bàn Tây Bắc, Tây 10 Nguyên, Tây Nam Bộ từ đó đề ra một số giải pháp và bài học kinh nghiệm trong xử lý điểm nóng nhằm giải quyết quan hệ dân tộc trong một quốc gia đa tộc người. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc từ năm 1996 đến năm 2006 của Trần Thị Mỹ Hường [77] đã đánh giá thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới, lãnh đạo của Đảng thực hiện CSDT ở Tây Bắc từ năm 1996 đến 2006, đúc kết 4 kinh nghiệm lãnh đạo của các đảng bộ tỉnh khu vực Tây Bắc: Một là, phát triển toàn diện, đồng bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng; Hai là, lựa chọn đầu tư có trọng điểm. Đồng thời, phát huy nội lực, tiềm năng, thế mạnh cũng như tính chủ động sáng tạo của địa phương; Ba là, thực hiện tốt định canh, định cư, bảo đảm ổn định đời sống Nhân dân; Bốn là, chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ người DTTS. Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010 của Hoàng Thu Thủy [101] đã làm sáng tỏ nhận thức khoa học về chính sách dân tộc của Đảng và quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc của Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010; đánh giá những thành tựu, hạn chế của quá trình tổ chức thực hiện CSDT của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010; tổng kết 5 kinh nghiệm chủ yếu về tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh vùng Đông Bắc từ năm 1996 đến năm 2010: Một là, bám sát đặc điểm cấu trúc xã hội tộc người ở vùng miền núi Đông Bắc để cụ thể hoá, vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng cho phù hợp với thực tiễn; Hai là, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để đầu tư các nguồn lực, tạo ra các bước phát triển đột phá; Ba là, gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bào DTTS là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện CSDT; Bốn là, coi trọng nâng cao vai trò của HTCT địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện CSDT; Năm là, phải tạo mọi điều kiện để thu hút sự tham gia của đồng bào DTTS tại chỗ trong quá trình hoạch định và thực thi CSDT.
Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khơ-me ở đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Thanh Thủy [103], đã 11 tập trung nghiên cứu CSDT của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khơ- me cũng như quá trình thực hiện chính sách.