Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015.

  • Tác giả: Phạm Ngọc Đại.
  • Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Mã số: 62 22 03 15).
  • Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Thu Hương và PGS.TS. Nguyễn Thắng Lợi.
  • Cơ sở đào tạo: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2017.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tỉnh Đắk Lắk giữ vị trí chiến lược trọng yếu về kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh và môi trường sinh thái của vùng Tây Nguyên cũng như cả nước. Địa bàn tỉnh có sự đa dạng về thành phần dân cư với trên 40 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 30% dân số. Sau khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX, năm 2003) về công tác dân tộc được ban hành và sự kiện chia tách tỉnh Đắk Lắk vào cuối năm 2003, việc triển khai chính sách dân tộc bước vào một giai đoạn lịch sử mới.

Mặc dù các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã làm thay đổi diện mạo nông thôn miền núi, song đến năm 2015, vùng dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk vẫn đối mặt với nhiều khó khăn: khoảng cách phát triển giữa người Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ có xu hướng nới rộng, tình trạng di cư tự do tạo áp lực lớn lên tài nguyên rừng, mâu thuẫn sở hữu và tranh chấp đất đai diễn biến phức tạp, an ninh chính trị tiềm ẩn nguy cơ bất ổn. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào tổng kết có hệ thống và toàn diện quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk từ sau khi chia tách tỉnh (2003) đến năm 2015. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là yêu cầu cấp thiết về mặt lịch sử và thực tiễn quản lý.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn 2003 - 2015; qua đó đánh giá ưu điểm, hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân, đúc kết các kinh nghiệm lịch sử phục vụ việc nâng cao hiệu quả thực thi chính sách dân tộc tại địa phương và khu vực Tây Nguyên.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về chính sách dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015.
  2. Đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm trong quá trình chỉ đạo thực hiện các chính sách dân tộc, làm rõ nguyên nhân của những kết quả và hạn chế.
  3. Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk trong thực hiện chính sách dân tộc sau hơn 10 năm chia tách tỉnh (2003 - 2015).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm, chủ trương của Đảng về chính sách dân tộc và quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2003 đến năm 2015. Mốc bắt đầu (2003) gắn liền với việc Tỉnh ủy Đắk Lắk ban hành Chương trình số 18/TU ngày 14-05-2003 nhằm triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc, đồng thời là thời điểm Quốc hội khóa XI thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26-11-2003 về việc chia tách tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông (chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01-01-2004). Mốc kết thúc (2015) là thời điểm tổng kết hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX và kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XV.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên địa bàn hành chính tỉnh Đắk Lắk sau chia tách (năm 2004 có 13 đơn vị hành chính cấp huyện; đến năm 2015 có 15 đơn vị hành chính cấp huyện sau khi thành lập huyện Cư Kuin năm 2007 và thị xã Buôn Hồ năm 2008, gồm 165 đơn vị hành chính cấp xã).
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào 5 nhóm chính sách chủ yếu:
    1. Phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số;
    2. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số;
    3. Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở;
    4. Chính sách quốc phòng - an ninh vùng đồng bào dân tộc;
    5. Một số chính sách đặc thù khác (hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã khảo cứu và phân loại tài liệu nghiên cứu liên quan thành ba nhóm chính:

Các công trình nghiên cứu chung về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam

Nhóm này làm rõ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng qua các thời kỳ:

  • Bế Viết Đẳng với 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945-1995) và Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi khẳng định phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng thực hiện chính sách dân tộc.
  • Phan Hữu Dật với Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay và Đặng Nghiêm Vạn với Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam phân tích các quy luật tộc người và quan hệ dân tộc tại Tây Nguyên.
  • Báo cáo của Viện Nghiên cứu Chính sách Dân tộc và Miền núi (Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá) và công trình của Trần Văn Thuật cùng các cộng sự (Miền núi Việt Nam thành tựu và phát triển những năm đổi mới) tập trung vào giải pháp xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái.
  • Phan Xuân Sơn và Lưu Văn Quảng trong Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay tổng kết nhận thức của Đảng từ 1930 đến 2006, chỉ rõ các thách thức tranh chấp nguồn lợi và nghèo đói.
  • Hoàng Chí Bảo với Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay đề xuất 4 nhóm giải pháp thực hiện công bằng xã hội vùng dân tộc.
  • Các tài liệu tổng kết thực tiễn của Ủy ban Dân tộc - Viện Dân tộc (2008), Hoàng Hữu Bình và Phan Văn Hùng (2007), Phan Văn Hùng (đề tài KX 04.18/2011-2015) phân tích sâu khoảng cách giàu nghèo và tranh chấp đất đai.
  • Các công trình nghiên cứu cấp tỉnh của Lưu Văn Sùng (xử lý điểm nóng chính trị - xã hội), Trần Thị Mỹ Hường (vùng Tây Bắc 1996 - 2006), Hoàng Thu Thủy (vùng Đông Bắc 1996 - 2010), Nguyễn Thanh Thủy (đồng bào Khơ-me Tây Nam Bộ).

Các công trình nghiên cứu về khu vực Tây Nguyên

  • Tác giả nước ngoài: Các khảo cứu nhân học và dân tộc học thực dân và phương Tây như H. Bernard (Les populations Moi du Darlac), Henri Maitre (Les jungles Moi - Rừng người Mọi), Mus P. (Monographie de province du Darlac, Extrême-Orient), Sabatier L. (sưu tầm Bài ca Đam San năm 1934), M. Ner (L’habitation Rhade). Đặc biệt là Jacques Dournes (bút danh Dam Bo) với Miền đất huyền ảo, Georges Condominas với Chúng tôi ăn rừng (nghiên cứu về người Mnông Gar), Anne de Hautecloque Howe với Người Ê Đê, một xã hội mẫu quyền, và G. Hickey với Tự do trong rừng thẳm (nghiên cứu biến động sắc tộc và sự hình thành tổ chức FULRO giai đoạn 1954 - 1976).
  • Tác giả trong nước: Các nghiên cứu thời kỳ trước 1975 của Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi (Mọi Kon Tum), Bùi Đình (Đường lên xứ Thượng), Bộ Phát triển sắc tộc Việt Nam Cộng hòa (Tìm hiểu phong trào tranh đấu FULRO (1958-1969)), Nguyễn Trắc Dĩ, Cửu Long Giang và Toan Ánh. Các chỉ đạo của lãnh đạo Đảng như bài viết của Lê Duẩn (Tây Nguyên đoàn kết tiến lên), Trường Chinh (Đưa đồng bào các dân tộc Đắk Lắk lên chủ nghĩa xã hội).
  • Các chương trình trọng điểm quốc gia: Chương trình Tây Nguyên 1 (1978 - 1983) và Tây Nguyên 2 (1984 - 1988) được tập hợp trong Một số vấn đề phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên và Tây Nguyên trên đường phát triển. Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước TN3/11-15 (Tây Nguyên 3), tiêu biểu là đề tài của Phạm Quang Hoan về quan hệ tộc người và đại đoàn kết dân tộc.
  • Các nghiên cứu chuyên sâu: Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo và Vũ Thị Hồng (Sở hữu và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên); Bùi Minh Đạo về xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững; Lê Hữu Nghĩa về đội ngũ cán bộ cấp huyện; Phạm Hảo và Trương Minh Dục về hệ thống chính trị; Nguyễn Quốc Phẩm về dân tộc, tôn giáo và nhân quyền; Trương Minh Dục với các sách chuyên khảo về khối đại đoàn kết và chính sách dân tộc ở miền Trung, Tây Nguyên; Nguyễn Văn Tiệp về chính sách Thượng vụ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 - 1975); Lê Nhị Hòa về kinh tế kết hợp quốc phòng; Phạm Văn Hồ về chính sách xã hội; Nguyễn Duy Thụy về di cư dân tộc thiểu số (1975 - 2015); Phan Sỹ Thanh về hệ thống chính trị cơ sở.

Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến tỉnh Đắk Lắk

  • Bế Viết Đẳng và cộng sự: Đại cương về các dân tộc Ê-đê, Mnông ở Đắk Lắk (1976 - 1979).
  • Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp Tỉnh ủy Đắk Lắk: Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk (1987 - 1988).
  • Nguyễn Văn Tiệp và cộng sự: Một số vấn đề về kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk.
  • Các luận án tiến sĩ: Nguyễn Bá Thủy (nghiên cứu di dân tự do các dân tộc phía Bắc vào Đắk Lắk 1986 - 2000), Nguyễn Duy Thụy (chuyển biến kinh tế - xã hội Đắk Lắk 1975 - 2003), Lương Thy Cân (chuyển biến kinh tế - xã hội Buôn Ma Thuột 1975 - 2010), Nguyễn Khắc Trinh (Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo kinh tế nông nghiệp 2004 - 2013).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các tài liệu trên đã phản ánh đa chiều về tự nhiên, xã hội, lịch sử và dân tộc học Tây Nguyên, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong toàn bộ khung thời gian từ 2003 đến 2015. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách hệ thống hóa quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX và Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị trong điều kiện địa giới hành chính mới của tỉnh Đắk Lắk sau năm 2003.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khái niệm công cụ

  • Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đoàn kết toàn dân tộc và chính sách dân tộc thời kỳ đổi mới, cụ thể hóa tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX và Kết luận số 57-KL/TW của Bộ Chính trị.
  • Khái niệm công cụ:
    • Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước: Tổng hợp các quan điểm, nguyên tắc, chủ trương và giải pháp tác động vào đời sống các dân tộc thiểu số nhằm thay đổi tình trạng chênh lệch, bảo đảm bình đẳng, tương trợ và phát triển thống nhất trong cộng đồng quốc gia.
    • Thực hiện chính sách dân tộc: Quá trình chuyển hóa các nghị quyết, quyết định hành chính thành lợi ích vật chất, tinh thần cho cộng đồng dân cư thông qua sự tham gia của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và chính người thụ hưởng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp logic:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, liên tục tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk theo trình tự thời gian, gắn liền với các mốc nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII, XIV, XV và các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • Phương pháp logic: Khái quát bản chất, mối quan hệ nhân quả giữa các chủ trương chỉ đạo và kết quả đạt được, phân loại các nhóm chính sách và đúc rút bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp liên ngành và bổ trợ: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, phương pháp thống kê xã hội học, phương pháp chuyên gia và điều tra điền dã thực tế. Tác giả thực hiện khảo sát, phỏng vấn sâu các nhà quản lý, cán bộ làm công tác dân tộc tại cơ sở và người dân thuộc đối tượng thụ hưởng chính sách tại các buôn làng.

Nguồn tư liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (khóa IX, X, XI), các nghị quyết Trung ương, kết luận của Bộ Chính trị, các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
  • Báo cáo tổng kết công tác dân tộc của Ủy ban Dân tộc, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên.
  • Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk, các chỉ thị, nghị quyết, chương trình hành động của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Đắk Lắk từ năm 2003 đến năm 2015.
  • Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk, báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk và kết quả điều tra mức sống dân cư trên địa bàn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 3 nhóm: các công trình chung về chính sách dân tộc tại Việt Nam; các công trình nghiên cứu về vùng đất, con người và sắc tộc Tây Nguyên; các công trình gắn với địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chương này phân tích những kết quả khoa học mà các tác giả đi trước đã đạt được về mặt tư liệu lịch sử, dân tộc học và quản trị xã hội; đồng thời khẳng định việc chưa có công trình nào tổng kết toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn 2003 - 2015, từ đó xác định các nội dung khoa học trọng tâm mà luận án trực tiếp giải quyết.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk từ năm 2003 đến năm 2010

1. Các yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách dân tộc

  • Điều kiện tự nhiên: Sau khi chia tách tỉnh vào cuối năm 2003, diện tích tự nhiên của Đắk Lắk là hơn 1,3 triệu ha (trong đó đất đỏ bazan chiếm 324.679 ha, tương đương 24,81%), có đường biên giới dài 73 km giáp tỉnh Mondulkiri (Campuchia). Đến năm 2005, diện tích đất lâm nghiệp đạt khoảng 618,2 nghìn ha với trữ lượng gỗ khoảng 59 - 60 triệu m3. Tuy nhiên, trong 9 năm (1995 - 2004), diện tích rừng suy giảm 77,9 nghìn ha (bình quân giảm 8,7 nghìn ha/năm) do áp lực di dân và mở rộng đất sản xuất.
  • Đặc điểm dân cư và xã hội: Tỉnh có 42 đến 44 dân tộc sinh sống. Năm 2005, dân số toàn tỉnh gồm ba khối chính: dân tộc Kinh chiếm 72%; các dân tộc thiểu số di cư từ phía Bắc chiếm 11,2% (180.644 người); các dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm 16,6% (đến năm 2004 có 47.646 hộ với hơn 322 nghìn khẩu, chiếm 19% dân số).
  • Tác động của di cư tự do: Giai đoạn 1976 - 2014, Đắk Lắk tiếp nhận 59.915 hộ di cư ngoài kế hoạch từ 63 tỉnh thành. Riêng giai đoạn 2004 - 2014, có thêm 1.685 hộ di cư đến địa bàn, trong đó dân tộc thiểu số chiếm đa số (riêng người Hmông chiếm 81%). Di cư tự do tạo thêm lực lượng lao động nhưng làm đảo lộn quy hoạch phát triển, gây mất rừng, tranh chấp đất đai và gia tăng áp lực đầu tư hạ tầng cơ sở.
  • Phân hóa xã hội và đói nghèo: Năm 2004, toàn tỉnh có 24.161 hộ dân tộc thiểu số tại chỗ thiếu đất ở, đất sản xuất (chiếm 55,3%); 17% số hộ chưa có nhà ở kiên cố; 365 buôn thuộc 72 xã chưa có điện lưới. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2005 - 2010, Đắk Lắk có 90.247 hộ nghèo (tỷ lệ 27,5%), trong đó hộ nghèo dân tộc thiểu số là 47.300 hộ (chiếm 53% tổng số hộ nghèo toàn tỉnh và 56% tổng số hộ dân tộc thiểu số tại chỗ).

Bảng: Tỷ lệ nghèo và mức thu nhập - chi tiêu giữa các nhóm dân tộc tại Đắk Lắk (Tổng hợp từ các điều tra khoa học được trích dẫn trong Chương 2 của luận án)

Nhóm dân tộc Thu nhập bình quân đầu người (nghìn đồng/tháng, 2010) Chi tiêu bình quân (nghìn đồng/người/tháng, 2010) Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo 2010 (%) Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo 2011 - 2015 (%) Độ sâu nghèo đói (năm 2010)
Dân tộc Kinh 1.324,98 1.193,40 7,51 11,50 0,015
Dân tộc thiểu số mới đến 794,17 721,90 24,58 32,44 0,060
Dân tộc thiểu số tại chỗ 635,99 (bằng 48% người Kinh) 425,50 37,02 52,08 0,078

2. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh giai đoạn 2003 - 2010

  • Đảng bộ tỉnh đã cụ thể hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) bằng Chương trình số 18/TU ngày 14-05-2003 và quán triệt Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển vùng Tây Nguyên.
  • Tỉnh ủy chỉ đạo tổ chức triển khai các chính sách lớn của Chính phủ:
    • Quyết định số 132/2002/QĐ-TTg và Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg về giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo;
    • Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về khám, chữa bệnh cho người nghèo;
    • Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên;
    • Chương trình 135 giai đoạn II tại các xã đặc biệt khó khăn;
    • Quyết định số 1637/QĐ-TTg về cấp phát báo chí miễn phí cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Về xây dựng hệ thống chính trị và quốc phòng - an ninh: Đảng bộ tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng tại các thôn, buôn; xóa buôn "trắng" đảng viên; củng cố lực lượng cốt cán, già làng, trưởng buôn; đấu tranh ngăn chặn các hoạt động kích động của tổ chức phản động FULRO và âm mưu gây rối trật tự an toàn xã hội sau các biến động năm 2001 và 2004.

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện chính sách dân tộc từ năm 2011 đến năm 2015

1. Yêu cầu mới và chủ trương của Tỉnh ủy

  • Bước vào giai đoạn 2011 - 2015, tình hình kinh tế - xã hội Đắk Lắk chịu tác động từ sự suy thoái kinh tế chung, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp (hạn hán kéo dài, suy giảm nguồn nước ngầm), biến động giá cả nông sản chủ lực (cà phê, cao su) và tình trạng khiếu kiện đất đai giữa người dân với các nông - lâm trường quốc doanh.
  • Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV xác định tiếp tục thực hiện Kết luận số 57-KL/TW ngày 03-11-2009 của Bộ Chính trị; gắn việc thực hiện chính sách dân tộc với Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng nông thôn mới và Chương trình Giảm nghèo bền vững.

2. Chỉ đạo thực hiện trên các lĩnh vực cụ thể

  • Kinh tế và đời sống: Chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; hỗ trợ vốn vay tín dụng ưu đãi qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh; rà soát, thu hồi đất từ các công ty nông, lâm nghiệp kém hiệu quả để giao lại cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất; kiên cố hóa hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu cây công nghiệp.
  • Văn hóa - xã hội: Triển khai các đề án bảo tồn và phát huy Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; đầu tư hệ thống thiết chế văn hóa buôn làng, hỗ trợ trang bị cồng chiêng cho các buôn đồng bào Ê-đê, Mnông; tổ chức dạy tiếng Ê-đê trong trường tiểu học và trung học cơ sở; duy trì hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú tại các huyện.
  • Y tế và giáo dục: Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số; đưa bác sĩ về công tác tại các trạm y tế xã vùng sâu, vùng xa; kiểm soát các loại bệnh truyền nhiễm, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân.
  • Xây dựng hệ thống chính trị và an ninh: Tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ trong các cơ quan đảng, chính quyền từ cấp tỉnh đến cơ sở (thể hiện qua Biểu số 4.1 trong luận án); phát triển đảng viên người dân tộc thiểu số; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tại các địa bàn trọng điểm.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

1. Một số nhận xét

  • Ưu điểm:
    • Đảng bộ tỉnh đã quán triệt và vận dụng kịp thời các nghị quyết của Trung ương, ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo sát với tình hình thực tế sau khi chia tách địa giới hành chính.
    • Cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước phát triển rõ rệt (hệ thống đường giao thông đến trung tâm xã, mạng lưới điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế buôn).
    • Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm; mức hưởng thụ văn hóa, giáo dục và điều kiện chăm sóc sức khỏe của đồng bào được nâng lên; bản sắc văn hóa truyền thống được tôn trọng và bảo tồn.
    • Hệ thống chính trị cơ sở từng bước được kiện toàn; khối đại đoàn kết các dân tộc được giữ vững, trật tự an toàn xã hội và chủ quyền biên giới được bảo đảm.
  • Hạn chế:
    • Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vẫn ở mức cao và tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo; chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân cư chưa được thu hẹp đáng kể.
    • Tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số chưa được giải quyết dứt điểm; việc xử lý tranh chấp đất đai giữa người dân với nông lâm trường còn chậm và lúng túng.
    • Một số chính sách hỗ trợ trực tiếp mang tính bao cấp, chưa phát huy tối đa tinh thần chủ động vươn lên của người dân; công tác phối hợp giữa các ban, ngành và địa phương có lúc thiếu chặt chẽ.
  • Nguyên nhân:
    • Khách quan: Địa bàn rộng lớn, hiểm trở; điểm xuất phát kinh tế - xã hội của vùng dân tộc thiểu số tại chỗ rất thấp; biến đổi khí hậu gây hạn hán nghiêm trọng; dân số tăng cơ học nhanh do di cư tự do; các thế lực phản động bên ngoài tiếp tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động.
    • Chủ quan: Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về công tác dân tộc chưa thật sâu sắc; tác phong làm việc của một bộ phận cán bộ còn hành chính hóa, xa dân; cơ chế phân bổ nguồn lực chưa đáp ứng đủ nhu cầu; công tác thanh tra, kiểm tra và sơ kết thực hiện chính sách chưa diễn ra thường xuyên.

2. Năm bài học kinh nghiệm

  1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng và toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí chiến lược của công tác dân tộc và chính sách dân tộc trong tình hình mới.
  2. Xuất phát từ thực tiễn khách quan, tôn trọng đặc điểm tâm lý, văn hóa, tập quán canh tác của từng dân tộc để đề ra các chủ trương, giải pháp phù hợp, tập trung giải quyết dứt điểm vấn đề đất đai và quản lý di cư tự do.
  3. Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ.
  4. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, chủ động xây dựng thế trận an ninh nhân dân nhằm phòng ngừa và xử lý kịp thời các nguy cơ mất ổn định từ sớm, từ xa.
  5. Phát huy mạnh mẽ nội lực và ý chí tự vươn lên của đồng bào các dân tộc, xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại, kết hợp hiệu quả với nguồn lực đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  • Luận án phân tích một cách hệ thống những đặc thù tự nhiên, kinh tế, xã hội, cấu trúc tộc người và những nhân tố mới tác động trực tiếp đến việc hoạch định và thực thi chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk sau thời điểm chia tách tỉnh (năm 2004).
  • Làm sáng rõ quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk trong việc vận dụng các nghị quyết chiến lược của Trung ương Đảng (Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị) vào hoàn cảnh cụ thể của một tỉnh trung tâm vùng Tây Nguyên.

Đóng góp mới về thực tiễn

  • Tái hiện toàn diện bức tranh lịch sử lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk trên các lĩnh vực: giải quyết đất ở, đất sản xuất, xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, bảo tồn di sản văn hóa, phát triển giáo dục - y tế, củng cố hệ thống chính trị và bảo đảm an ninh biên giới từ năm 2003 đến năm 2015.
  • Cung cấp nguồn số liệu khảo sát tin cậy về biến động nhân khẩu học, thực trạng di cư tự do, khoảng cách giàu nghèo giữa các tộc người và kết quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia tại Đắk Lắk.
  • Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác lãnh đạo, quản lý phát triển vùng dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk và các địa phương vùng Tây Nguyên trong giai đoạn tiếp theo.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án

  • Đề nghị Trung ương tích hợp, lồng ghép các chính sách dân tộc đang nằm rải rác ở nhiều bộ, ngành thành một chương trình tổng thể để tránh phân tán nguồn lực và chồng chéo đầu mối quản lý.
  • Tỉnh ủy và UBND tỉnh Đắk Lắk cần kiên quyết thu hồi đất từ các nông - lâm trường làm ăn kém hiệu quả để bàn giao lại cho chính quyền địa phương giao cho đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất canh tác.
  • Chuyển đổi phương thức hỗ trợ từ "cho không" sang hỗ trợ có điều kiện, cho vay vốn ưu đãi gắn với tập huấn kỹ thuật chuyển giao khuyến nông, khuyến lâm nhằm nâng cao năng lực tự chủ kinh tế của hộ gia đình dân tộc thiểu số.
  • Tiếp tục thực hiện chính sách cử tuyển, tuyển dụng và bố trí cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp cơ sở và cấp huyện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Do nguồn tài liệu lưu trữ ở cấp cơ sở (xã, buôn) qua nhiều thời kỳ chia tách, sáp nhập đơn vị hành chính chưa thật đồng bộ, một số chỉ tiêu thống kê về đất đai và di cư tự do ở các vùng sâu, vùng xa chưa được phản ánh liên tục qua từng năm đơn lẻ mà phải sử dụng số liệu của các đợt tổng điều tra định kỳ.
  • Luận án tập trung phản ánh quá trình lãnh đạo ở tầm vĩ mô và cấp tỉnh; mức độ đi sâu vào từng trường hợp buôn làng cụ thể của các nhóm dân tộc thiểu số mới di cư đến (như Tày, Nùng, Hmông, Dao) còn ở mức độ nhất định so với nhóm dân tộc thiểu số tại chỗ (Ê-đê, Mnông).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn sau năm 2015 gắn với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới nâng cao và Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội về Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
  • Đi sâu nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu và chuyển đổi mô hình kinh tế thị trường đối với sự biến đổi cơ cấu xã hội, quan hệ dòng họ và thiết chế tự quản buôn làng truyền thống của người Ê-đê và người Mnông tại Đắk Lắk.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lãnh đạo, quản lý: Luận án cung cấp các cứ liệu thực chứng và tổng kết thực tiễn cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Đắk Lắk, Ban Dân tộc tỉnh cũng như Ban Chỉ đạo Tây Nguyên trong việc xây dựng, điều chỉnh các nghị quyết chuyên đề về chính sách dân tộc, chính sách di cư tự do và quy hoạch sử dụng đất nông - lâm nghiệp.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Công trình là tài liệu tham khảo trong các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Dân tộc học, Xã hội học và Khoa học chính trị khi nghiên cứu về vùng Tây Nguyên.
  • Đối với giảng viên và cơ sở giáo dục: Các phân tích và tư liệu trong luận án có thể sử dụng làm dẫn chứng giảng dạy các học phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Công tác dân tộc và tôn giáo tại các trường chính trị tỉnh và các học viện, trường đại học khối khoa học xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu bắt đầu từ năm 2003 và kết thúc vào năm 2015?

Mốc bắt đầu năm 2003 được xác định bởi hai căn cứ lịch sử: Tỉnh ủy Đắk Lắk ban hành Chương trình số 18/TU (ngày 14-05-2003) nhằm triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc; đồng thời ngày 26-11-2003, Quốc hội khóa XI ban hành Nghị quyết số 22/2003/QH11 chia tách tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông (chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01-01-2004). Mốc kết thúc năm 2015 là thời điểm tổng kết hơn 10 năm Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX và là năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, tạo khung thời gian trọn vẹn để đánh giá tiến trình lãnh đạo trong điều kiện lịch sử mới.

2. Luận án chỉ ra những tác động hai mặt nào của hiện tượng di cư tự do đối với tỉnh Đắk