Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng (mã số 62.05) với đề tài "Đặc điểm trường ngữ nghĩa ẩm thực (trên tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt)" do nghiên cứu sinh Ngô Minh Nguyệt thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Hoàng Trọng Phiến, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2014.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ăn uống là nhu cầu sinh tồn cơ bản của con người, gắn liền với các quan niệm xã hội sâu sắc như "dân dĩ thực vi thiên" trong văn hóa Trung Hoa hay "có thực mới vực được đạo" trong văn hóa Việt Nam. Cùng với sự phát triển của xã hội, ẩm thực đã vượt lên nhu cầu sinh học đơn thuần để trở thành một loại hình nghệ thuật và bộ phận cấu thành văn hóa, phản ánh môi trường sống, diện mạo kinh tế và các giá trị đạo đức của mỗi dân tộc. Trong ngôn ngữ, các từ ngữ chứa yếu tố ăn và uống (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) chiếm số lượng lớn và giữ vai trò hạt nhân của trường từ vựng ẩm thực ở cả tiếng Hán và tiếng Việt.

Tại Việt Nam, phần lớn các công trình nghiên cứu về ẩm thực trước đây chỉ tiếp cận dưới góc độ văn hóa học thuần túy hoặc bình diện nghệ thuật văn chương; các nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học, đặc biệt là trường nghĩa ẩm thực, còn rất hạn chế. Tại Trung Quốc, các công trình chủ yếu khảo sát riêng lẻ về động từ ẩm thực hoặc tính từ mùi vị, miêu tả kết cấu tên gọi món ăn phục vụ dịch thực đơn mà chưa khảo sát toàn diện tiểu trường nguyên liệu và tên gọi món ăn. Do đó, việc nghiên cứu đối chiếu một cách hệ thống, toàn diện và độc lập về trường ngữ nghĩa ẩm thực giữa tiếng Hán và tiếng Việt vẫn là một khoảng trống cần được giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hai mục đích nghiên cứu chính:

  1. Nhận diện đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa thể hiện qua các từ ngữ ẩm thực tiếng Hán và tiếng Việt.
  2. Cung cấp dữ liệu cho việc biên soạn từ điển về ẩm thực Việt - Hán, Hán - Việt.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích trên, luận án đặt ra ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Khái quát lại những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như lý thuyết trường nghĩa, trường nghĩa ẩm thực và văn hóa ẩm thực.
  2. Thống kê các từ ngữ thuộc trường nghĩa ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt, lấy thức ăn, đồ uống, cách ăn, cách uống làm trung tâm (gồm nguyên liệu, thức ăn, đồ uống, phương thức chế biến, mùi vị, hoạt động thưởng thức và vật dụng), từ đó phân tích đặc điểm cấu trúc và đặc trưng ngữ nghĩa của chúng.
  3. Phân tích nghĩa biểu trưng, hàm ý văn hóa của các từ ngữ ẩm thực nêu trên, chỉ ra các đặc trưng tiêu biểu trong văn hóa ẩm thực Trung Quốc và Việt Nam thể hiện qua trường nghĩa ẩm thực.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các từ, ngữ liên quan đến ăn uống trong tiếng Hán và tiếng Việt, bao gồm: tên gọi nguyên liệu, tên gọi thức ăn, tên gọi đồ uống, từ ngữ chỉ phương thức chế biến, từ ngữ chỉ mùi vị, từ ngữ chỉ hoạt động thưởng thức và từ ngữ chỉ vật dụng ẩm thực.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về chủ thể văn hóa: Tập trung khảo sát tiếng Hán của người Hán (đại diện cho văn hóa ẩm thực Trung Quốc) và tiếng Việt của người Kinh (đại diện cho văn hóa ẩm thực Việt Nam).
    • Về phạm vi ngữ liệu: Tập trung vào các món ăn tiêu biểu trong bữa ăn chính và bữa ăn phụ (tiếng Việt gồm: cơm, xôi, bánh, rau, cá, thịt, cháo, bún, phở, miến, mì; tiếng Hán gồm: 饭 - phạn, 肉 - nhục, 鱼 - ngư, 蔬菜 - sơ thái, 面条 - diện điều, 粥 - chúc, 包子 - bao tử, 饺子 - giảo tử, 馄饨 - hồn đồn); đồ uống truyền thống tập trung vào trà (茶) và rượu (酒); hoạt động thưởng thức tập trung vào các kết cấu chứa động từ ăn, uống (tiếng Việt) và 吃 - ngật, 喝 - hát (tiếng Hán); vật dụng ẩm thực tập trung khảo sát từ đũa (tiếng Việt) và từ 碗 - oản / bát (tiếng Hán).
    • Luận án loại trừ các trường hợp tên nguyên liệu hoán dụ cho tên món ăn khi không đứng độc lập và tên các loại hoa quả ăn ngay không qua chế biến (do trùng với tên gọi thực vật trong tự nhiên).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tổng thuật tình hình nghiên cứu về từ ngữ ẩm thực theo ba mảng chính:

1. Nghiên cứu về từ ngữ ẩm thực trong tiếng Hán

Các công trình công bố tại Trung Quốc tập trung vào các hướng:

  • Nghiên cứu động từ ẩm thực (trọng tâm là từ 吃 - ngật):
    • Về nội hàm văn hóa: Trì Xương Hải [117] phân chia biểu nghĩa của từ 吃 thành 8 loại (năng lực, cách thức sinh hoạt, phương pháp xử thế, trải nghiệm cuộc sống, tâm lý tình cảm, đánh giá đặc tính, hành vi động tác, trạng thái của người và vật) và khẳng định từ này tự hoàn thiện hệ thống chức năng không có từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa trực tiếp; Lưu Đông Huệ [130] phân tích động từ ẩm thực trong tiếng Hán cổ qua cấu tạo chữ, văn biền ngẫu và phương ngữ.
    • Về ngữ nghĩa - cú pháp: Thường Kính Vũ [187], Ngụy Uy [168], Lục Khánh Hòa [118] phân tích nghĩa gốc và nghĩa mở rộng của các động từ như 尝试 (thường thí), 品味 (phẩm vị), 狼吞虎咽 (lang thôn hổ yên), 字斟句酌 (tự châm cú chước), nhấn mạnh hiện tượng chuyển nghĩa ẩn dụ; Đổng Vi Quang [116] khảo sát diễn biến ngữ nghĩa lịch đại từ thời Đường - Tống; Lư Tiểu Ninh [157] nghiên cứu mạng lưới thông tin nội bộ từ; Vương Chiếm Hoa [126] nghiên cứu kết cấu 吃食堂 (ngật thực đường) dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, xác định 食堂 là hoán dụ của bổ ngữ chỉ đối tượng bị tác động chứ không phải từ chỉ địa điểm.
  • Nghiên cứu từ chỉ mùi vị: Quách Cẩm Phù [114], Triệu Thủ Huy [129], Thường Kính Vũ [187], Vương Đông Mai [146] phân tích các từ ngữ chỉ mùi vị và ý nghĩa mở rộng thông qua liên tưởng, ví von (ví dụ từ 香 - hương biểu thị sự ưa thích, coi trọng).
  • Nghiên cứu từ chỉ phương thức chế biến và dụng cụ ẩm thực: Ngụy Uy [168], Triệu Thủ Huy [129], Quách Cẩm Phù [114] khảo sát ý nghĩa mở rộng của các từ nấu nướng (như 欠火候 - khiếm hỏa hầu) và đồ đựng (碗 - oản, 锅 - oa); Vương Quốc An và Vương Tiểu Mạn [107], Ngụy Uy [168] nghiên cứu dụng cụ ẩm thực thời cổ (鼎 - đỉnh, 爵 - tước) trong thành ngữ.
  • Nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ, yết hậu ngữ ẩm thực: Thẩm Tích Luân [143], Ngụy Uy [168], Thường Kính Vũ [187], Mạc Bành Linh [137] (phân tích các ngữ liệu như 尝鼎一脔 - thường đỉnh nhất loan); Vương Đông Mai [146] khảo sát đặc điểm tri nhận qua 8 phương diện ví von (吃干饭, 吃不开, 吃着碗里的看着锅里的, 炒冷饭, 铁饭碗, 吃大锅饭, 炒鱿鱼, 背黑锅, 吃醋, 饱汉不知饿汉饥, 吃生米, 油腔滑调, 喝墨水, 吃豆腐, 喝西北风, 吃饱了撑的).
  • Nghiên cứu văn hóa và tri nhận: Quách Cẩm Phù [114] nêu các giá trị xã hội của văn hóa ẩm thực (sinh tồn, lễ nghi, tế thần, hưởng thụ, điều tiết tâm lý, xã giao, kinh tế); Lục Khánh Hòa [118], Ôn Tỏa Lâm [141] làm rõ quan niệm "dĩ thực vi bản"; Vương Đông Mai [146] phân tích tư duy hình tượng, thuyết âm dương ngũ hành trong ngũ vị (酸甜苦辣 - toan điềm khổ lạt) và tư tưởng trung dung gắn với vị 和 (hòa).

2. Nghiên cứu về từ ngữ ẩm thực trong tiếng Việt

  • Hướng văn học: Lê Thanh Nga [65], Đặng Thị Huy Phương [72], Đặng Thị Hảo Tâm [75] khám phá ẩm thực qua lăng kính ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn chương.
  • Hướng ngôn ngữ học tri nhận: Luận văn thạc sĩ của Đinh Phương Thảo [82] và Hà Thị Bình Chi [11] thống kê, phân loại trường từ vựng "thức ăn" và "đồ uống", sử dụng phương pháp phân tích nghĩa tố và phân tích ý niệm để chỉ ra các tiểu trường cùng cơ chế ẩn dụ tri nhận, song chưa đi sâu phân tích toàn diện các đặc trưng văn hóa ẩm thực.

3. Nghiên cứu so sánh đối chiếu

Các nghiên cứu của Quý Tịnh [134], Dương Cầm [161], Lâm Tố Khanh [161] chủ yếu đối chiếu tiếng Hán với các ngôn ngữ châu Âu qua phân tích thành tố nghĩa của động từ. Các nghiên cứu đối chiếu Hán - Việt trước đó chỉ dừng lại ở một số luận văn cử nhân, thạc sĩ có quy mô hẹp.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Luận án chỉ ra các hạn chế của những công trình đi trước: (1) Bỏ ngỏ tiểu trường nguyên liệu ẩm thực và tiểu trường tên gọi thức ăn; (2) Thiếu thống kê định lượng cụ thể và chưa phân tích cấu trúc định danh bên trong tên gọi ẩm thực; (3) Tách rời việc miêu tả ngôn ngữ với việc làm rõ các đặc trưng văn hóa ẩm thực thực tế (cách ăn, cách uống); (4) Chưa có công trình đối chiếu trường nghĩa ẩm thực Hán - Việt một cách toàn diện và có hệ thống.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa:
    • Luận án kế thừa lý thuyết trường nghĩa bắt đầu từ Jost Trier (thập niên 1920-1930) dựa trên nền tảng ngôn ngữ học của F. de Saussure, cùng các thành tựu nghiên cứu tại Việt Nam của Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, và đặc biệt là Đỗ Hữu Châu (Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, 1981; Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, 1987).
    • Phân loại trường nghĩa gồm: trường tuyến tính (quan hệ ngang), trường biểu vật (quan hệ dọc theo sự vật), trường biểu niệm (quan hệ dọc theo cấu trúc ý niệm) và trường liên tưởng (mạng lưới liên tưởng tâm lý - xã hội).
    • Ba đặc điểm cơ bản của trường nghĩa: Tính tầng bậc (cấu trúc dọc từ khái niệm khái quát bậc trên đến cụ thể bậc dưới); Tính hệ thống (các từ vị tác động, phân biệt lẫn nhau, ví dụ: mặn - nhạt, sống - tái - chín; từ 锅 - oa trong tiếng Hán bao hàm cả nồi, niêu, xoong, chảo trong khi tiếng Việt là quan hệ đẳng lập); Tính tương đối (sự giao thoa giữa các trường nghĩa; phân định từ ngữ trung tâm và từ ngữ ngoại vi theo mô hình của Đỗ Việt Hùng và Đỗ Hữu Châu).
    • Cơ chế hành chức của từ ngữ: Sự chuyển trường từ vựng tạo hiệu quả tu từ (ví dụ: "nấu sử sôi kinh") và vai trò của nghĩa liên hội trong việc tri nhận cảm giác tiêu cực/tích cực qua mùi vị.
  2. Cơ sở lý thuyết về văn hóa ẩm thực:
    • Khái niệm ẩm thực: Là từ mượn gốc Hán (饮 - ẩm: uống, 食 - thực: ăn, thức ăn). Luận án xác định ẩm thực không chỉ là phản ứng sinh học đơn thuần đưa thức ăn vào miệng và nuốt, mà là toàn bộ quá trình thưởng thức bằng các giác quan (vị giác, khứu giác, thị giác, xúc giác), bao gồm các công đoạn chuẩn bị nguyên liệu, chế biến, bày biện, kết hợp món ăn, sử dụng dụng cụ và tương tác xã hội.
    • Luận án tiếp thu các luận điểm của F. Engels về vai trò của lửa trong tiến hóa nhân loại, quan điểm của Trần Quốc Vượng [103] về "chiến lược lương thực - thực phẩm" và Trần Ngọc Thêm [85] về ẩm thực như "văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên".

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả (chủ đạo): Sử dụng các thủ pháp phân loại tiểu trường, so sánh ngữ nghĩa theo ngữ cảnh xuất hiện, phân tích thành tố trực tiếp để mô tả cấu trúc và ý nghĩa của các thành tố cấu tạo tên gọi ẩm thực; luận giải các yếu tố văn hóa ngoài ngôn ngữ.
  • Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Tách các đặc trưng ngữ nghĩa khu biệt của từng từ và nhóm từ dựa trên nguyên tắc đối lập lưỡng phân các từ vị nhằm xác định cấu trúc ngữ nghĩa chung.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh đồng đại các đơn vị ngôn ngữ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt theo các thao tác của ngôn ngữ - văn hóa học để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt.
  • Thủ pháp thống kê và mô hình hóa: Thống kê số lượng đơn vị từ ngữ, lập bảng phân loại và xây dựng sơ đồ cấu trúc định danh.

Nguồn tư liệu và phân bố ngữ liệu

Ngữ liệu được thu thập từ từ điển, sách báo ẩm thực, sách dạy nấu ăn và các tác phẩm văn học, ca dao, tục ngữ, thành ngữ, yết hậu ngữ của Việt Nam và Trung Quốc. Tổng số ngữ liệu khảo sát gồm 1.869 đơn vị tiếng Việt và 2.705 đơn vị tiếng Hán, phân bố cụ thể như sau:

Tiểu trường ngữ nghĩa Số lượng đơn vị tiếng Việt Số lượng đơn vị tiếng Hán Tổng số đơn vị
Tên gọi nguyên liệu ẩm thực 492 505 997
Tên gọi thức ăn 968 1.493 2.461
Tên gọi đồ uống 207 472 679
Từ ngữ chỉ phương thức chế biến 57 113 170
Từ ngữ chỉ mùi vị ẩm thực 78 33 111
Từ ngữ chỉ hoạt động thưởng thức Khảo sát kết cấu chứa ăn, uống Khảo sát kết cấu chứa 吃, 喝 —
Từ ngữ chỉ vật dụng ẩm thực Khảo sát từ đũa Khảo sát từ 碗 —
Tổng cộng ngữ liệu định lượng 1.869 2.705 4.574

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa lý luận về trường nghĩa và văn hóa ẩm thực, đồng thời xác lập mô hình 6 tiểu trường ngữ nghĩa ẩm thực cơ bản:

  • Tiểu trường tên gọi nguyên liệu: Phân chia theo nguồn gốc thực vật (nhóm lương thực: gạo, ngô, sắn, khoai...; nhóm rau củ quả: rau muống, cà rốt...) và nguồn gốc động vật (động vật trên cạn: lợn, gà...; động vật dưới nước: cá, cua, tôm...).
  • Tiểu trường tên gọi thức ăn và đồ uống:
    • Tên gọi thức ăn: Phân loại theo nguồn nguyên liệu (món từ lương thực chứa chất bột vs món từ thực phẩm không chứa chất bột) và theo thời điểm sử dụng (món trong bữa chính, món trong bữa phụ, thức ăn vặt/quà bánh). Luận án nhấn mạnh sự đối lập chức năng giữa cơm cháo (thức ăn chính duy trì sự sống, tên gọi ổn định) và quà bánh (thức ăn thêm để thưởng thức, tên gọi biến động và đa dạng).
    • Tên gọi đồ uống: Phân loại thành 4 nhóm (đồ uống nấu từ nước đun sôi: chè, vối...; đồ uống lên men/chưng cất từ ngũ cốc: rượu, bia...; đồ uống pha từ bột hạt: cà phê, ca cao...; đồ uống chế từ hoa quả: sinh tố, nước cam...), trong đó tập trung vào trà và rượu.
  • Tiểu trường hoạt động thưởng thức thức ăn, đồ uống: Phân loại theo ba nhóm thao tác:
    • Hoạt động ăn uống nói chung (tiếng Hán: 吃, 尝, 服, 喝, 抽, 吸喝, 喂, 食, 餐, 饮, 品, 品尝, 咂; tiếng Việt: ăn, uống, nhâm nhi, lót dạ, nếm, nhắm, nốc, xơi, chén, đớp, hốc, bón, mớm, hút...).
    • Hoạt động của miệng (tiếng Hán: 含, 咽, 咬, 吞, 嚼, 啃, 衔, 噍, 咀, 嗑; tiếng Việt: cắn, gặm, nhá, nhai, ngậm, mút, liếm, nuốt...).
    • Hoạt động của tay (tiếng Hán: 夹, 盛, 捞, 抓, 舀; tiếng Việt: gắp, xới, đơm, múc, bốc, và, nhón, chạm, nâng...).
  • Tiểu trường mùi vị ẩm thực: Tiếp cận trên cơ sở thuyết "ngũ vị điều hòa" gồm ngũ vị (chua/酸, ngọt/甜, đắng/苦, cay/辣, mặn/咸) kết hợp với mùi thơm, phân tích sự phối hợp giữa vị giác và khứu giác.
  • Tiểu trường phương thức chế biến: Phân loại thành hoạt động sơ chế (làm sạch, tạo hình: nhặt, rửa, thái, băm, chặt, ướp...) và hoạt động làm chín. Hoạt động làm chín được phân chia theo tiêu chí tác động nhiệt lượng thành: chế biến qua lửa (trong nước, trong dầu mỡ, trong hơi nước, bằng nhiệt khô/than lửa), chế biến không qua lửa (muối, ướp...) và chế biến kết hợp (làm nộm, làm tái...).
  • Tiểu trường vật dụng ẩm thực: Phân loại theo chức năng chế biến (nồi, niêu, xoong, chảo, bếp...) và chức năng thưởng thức (bát, đũa, thìa, cốc...), tập trung vào đũa và bát (碗).

Chương 2: Đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa của từ ngữ ẩm thực (trên tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt)

Chương 2 phân biệt giữa thuật ngữ ẩm thực (mang tính khách quan, khoa học) và tên gọi ẩm thực (mang tính chủ quan, dân tộc), tập trung khảo sát mô hình cấu tạo của tên gọi ẩm thực:

  • Mô hình cấu trúc tên gọi ẩm thực: Được cấu thành từ hai thành tố cơ bản:
    • Yếu tố chỉ loại: Thường là danh từ chung, chỉ lớp sự vật, mang tính khái quát cao (ví dụ: cơm, bánh, rượu, trà, thịt).
    • Yếu tố khu biệt: Giữ vai trò hạn định, khu biệt đối tượng, có sự đa dạng về từ loại và nội dung biểu đạt (chỉ phương thức chế biến, nguyên liệu kèm theo, hình dáng, địa danh, mùi vị...).
    • Quy tắc cú pháp đối chiếu: Trong tiếng Việt, trật tự điển hình là [Yếu tố chỉ loại] + [Yếu tố khu biệt] (ví dụ: cơm rang, bánh rán). Ngược lại, trong tiếng Hán, trật tự điển hình là [Yếu tố khu biệt] + [Yếu tố chỉ loại] (ví dụ: 烤包子 - khảo bao tử / bánh bao nướng).
  • Phân tích cấu trúc theo từng tiểu trường:
    • Từ chỉ phương thức chế biến: Phân tích các từ đơn tiết chỉ hoạt động qua lửa (Bảng 2.1 tiếng Hán, Bảng 2.2 tiếng Việt) và từ đa tiết (Bảng 2.3 tiếng Hán: 113 đơn vị, Bảng 2.4 tiếng Việt: 57 đơn vị).
    • Từ chỉ mùi vị: Thống kê và miêu tả cấu trúc từ chỉ mùi vị trong tiếng Hán (Bảng 2.5: 33 đơn vị) và tiếng Việt (Bảng 2.6: 78 đơn vị).
    • Tên gọi thức ăn: Khảo sát theo các mô hình định danh bằng 1 đặc trưng (Bảng 2.7 tiếng Hán, Bảng 2.10 tiếng Việt), định danh bằng từ 2 đặc trưng trở lên (Bảng 2.8 tiếng Hán, Bảng 2.11 tiếng Việt) và tên gọi không có yếu tố chỉ loại (Bảng 2.9 tiếng Hán, Bảng 2.12 tiếng Việt).
    • Tên gọi đồ uống: Khảo sát tên gọi các loại trà (Bảng 2.13, 2.14 tiếng Hán; Bảng 2.15 tiếng Việt) và tên gọi các loại rượu (Bảng 2.16, 2.17 tiếng Hán; Bảng 2.18 tiếng Việt).
    • Tên gọi vật dụng: Khảo sát cấu trúc tên gọi các loại bát, đũa trong tiếng Hán (Bảng 2.19) và tiếng Việt (Bảng 2.20).
  • Đặc trưng ngữ nghĩa của từ ngữ ẩm thực: Phân tích nguồn gốc ngôn ngữ (từ thuần bản địa, từ mượn Hán, từ Hán Việt) và cơ chế lý giải nghĩa trực tiếp (dựa trên nghĩa của các yếu tố cấu tạo) hoặc gián tiếp (chuyển nghĩa qua ẩn dụ, hoán dụ; phạm vi phân bố nghĩa của tiểu trường tên gọi thức ăn được tổng hợp tại Bảng 2.21).

Chương 3: Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua trường ngữ nghĩa ẩm thực tiếng Hán và tiếng Việt

Chương 3 luận giải các nội dung văn hóa được phản ánh qua ngôn ngữ ẩm thực:

  • Từ ngữ ẩm thực thể hiện con người:
    • Vẻ bề ngoài: Sử dụng các từ ngữ ẩm thực để miêu tả vóc dáng, diện mạo con người.
    • Tính cách, phẩm chất: Thể hiện qua các thành ngữ, tục ngữ đánh giá đạo đức và lối sống (ví dụ: ăn ngay nói thật, ăn ốc nói mò, 油腔滑调 - du xoang hoạt điệu).
    • Tình cảm lứa đôi: Diễn đạt tình cảm, sự gắn bó và trạng thái ghen tuông (như ăn giấm - 吃醋).
    • Trạng thái tâm lý: Biểu thị các cảm xúc nội tâm qua cảm giác vị giác.
    • Thân phận, địa vị, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống: Phản ánh qua các biểu thức như bát cơm sắt (铁饭碗) chỉ công việc ổn định, ăn đại nồi cơm (吃大锅饭) chỉ chế độ bao cấp, cõng nồi đen (背黑锅) chỉ việc chịu oan, xào cá mực (炒鱿鱼) chỉ việc bị sa thải, hay thành ngữ chịu đấm ăn xôi trong tiếng Việt.
    • Ước vọng cao đẹp: Gửi gắm ước mơ ấm no, hạnh phúc, thành đạt qua tên gọi món ăn truyền thống và món ăn ngày lễ Tết.
    • Mối liên hệ với các hoạt động khác: Hoạt động ẩm thực liên hệ chặt chẽ với việc học tập (喝墨水 - uống mực), ứng xử xã hội và giao tiếp.
  • Từ ngữ ẩm thực thể hiện đặc trưng văn hóa ẩm thực Trung - Việt:
    • Đặc điểm khẩu vị: Phân tích sự khác biệt giữa khẩu vị ẩm thực Việt Nam (ưa chuộng sự thanh đạm, tự nhiên, sử dụng nước mắm làm gia vị cốt lõi) và khẩu vị Trung Quốc (phong phú theo từng vùng miền với đặc trưng bắc mặn, nam ngọt, đông chua, tây cay).
    • Triết lý âm dương ngũ hành: Làm rõ sự ứng dụng của thuyết ngũ hành tương sinh tương khắc trong việc phối hợp nguyên liệu, cân bằng tính hàn - nhiệt của món ăn và điều hòa ngũ vị (toan, điềm, khổ, lạt, hàm tương ứng với mộc, thổ, hỏa, kim, thủy) nhằm bảo vệ sức khỏe và thuận theo thời tiết bốn mùa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tại Việt Nam tiến hành nghiên cứu độc lập, có hệ thống và toàn diện về trường nghĩa ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt bằng phương pháp chuyên ngành và liên ngành ngôn ngữ - văn hóa học.
  2. Xác lập hệ thống 6 tiểu trường ngữ nghĩa ẩm thực với tiêu chí phân định tường minh, phân tích chi tiết mô hình cấu trúc phân tầng giữa yếu tố chỉ loại và yếu tố khu biệt.
  3. Làm sáng rõ cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ của các từ ngữ ẩm thực và mối liên hệ giữa ngôn ngữ với tư duy tri nhận của hai dân tộc Hán và Việt.
  4. Chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt trong bức tranh ngôn ngữ - văn hóa ẩm thực của hai quốc gia, góp phần khẳng định quy luật tiếp xúc ngôn ngữ và tiếp biến văn hóa Hán - Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp hệ thống ngữ liệu đối chiếu gồm 4.574 đơn vị từ ngữ ẩm thực (1.869 đơn vị tiếng Việt và 2.705 đơn vị tiếng Hán) được phân loại theo cấu trúc và ngữ nghĩa.
  2. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy tiếng Hán tại Việt Nam, cũng như hỗ trợ công tác giảng dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc.
  3. Cung cấp cơ sở lý luận và ngữ liệu thực tế phục vụ trực tiếp cho hoạt động dịch thuật đối chiếu Hán - Việt và công tác biên soạn từ điển song ngữ Việt - Hán, Hán - Việt nói chung, từ điển chuyên ngành ẩm thực Việt - Hán nói riêng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi khảo sát chủ yếu tập trung vào tiếng Hán tiêu chuẩn của người Hán và tiếng Việt chuẩn của người Kinh, chưa bao quát toàn diện các biến thể phương ngữ sâu rộng cũng như tiếng nói của các dân tộc thiểu số khác tại Trung Quốc và Việt Nam.
  • Đối với tiểu trường tên gọi nguyên liệu và hoạt động sơ chế, do có sự giao thoa rộng lớn với các trường từ vựng thực vật, động vật và hoạt động lao động nói chung, luận án chưa đi sâu phân tích cấu trúc ngữ nghĩa chi tiết như các tiểu trường trung tâm.
  • Luận án giới hạn không khảo sát tên các loại hoa quả ăn tươi và các trường hợp hoán dụ nguyên liệu không đứng độc lập làm tên món ăn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi ngữ liệu đối chiếu sang các phương ngữ Bắc, Trung, Nam của tiếng Việt và các phương ngữ lớn của tiếng Hán (như tiếng Quảng Đông, tiếng Mân...).
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế tri nhận ngữ nghĩa của các thành ngữ, quán ngữ, yết hậu ngữ ẩm thực mới xuất hiện trong đời sống xã hội đương đại.
  • Ứng dụng kết quả phân loại và miêu tả cấu trúc để xây dựng bộ từ điển giải thích - đối chiếu chuyên ngành văn hóa ẩm thực Hán - Việt.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học ứng dụng, Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc, Việt Nam học, Đông phương học và Văn hóa học.
    • Giảng viên giảng dạy các học phần: Ngữ nghĩa học, Từ vựng học, Ngôn ngữ học đối chiếu, Ngôn ngữ và Văn hóa.
    • Biên dịch viên Hán - Việt, chuyên gia văn hóa ẩm thực và những người làm công tác biên soạn từ điển chuyên ngành.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Khung lý thuyết và tiêu chí phân định 6 tiểu trường ngữ nghĩa ẩm thực.
    • Mô hình phân tích thành tố chỉ loại và yếu tố khu biệt trong tên gọi món ăn, đồ uống.
    • Hệ thống 21 bảng số liệu thống kê chi tiết về từ đơn tiết, từ đa tiết, tên gọi món ăn, đồ uống, mùi vị và vật dụng ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt.
    • Các phân tích ngữ nghĩa học văn hóa về ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ, tục ngữ, yết hậu ngữ ẩm thực.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia trường nghĩa ẩm thực thành những tiểu trường cơ bản nào?

Luận án phân chia trường nghĩa ẩm thực thành 6 tiểu trường cơ bản:

  1. Tiểu trường tên gọi nguyên liệu ẩm thực.
  2. Tiểu trường tên gọi thức ăn, đồ uống (gồm tiểu trường thức ăn và tiểu trường đồ uống).
  3. Tiểu trường từ ngữ chỉ phương thức chế biến.
  4. Tiểu trường từ ngữ chỉ mùi vị ẩm thực.
  5. Tiểu trường từ ngữ chỉ hoạt động thưởng thức thức ăn, đồ uống.
  6. Tiểu trường từ ngữ chỉ vật dụng ẩm thực.

2. Sự khác biệt cơ bản về trật tự cấu trúc tên gọi ẩm thực giữa tiếng Việt và tiếng Hán là gì?

Sự khác biệt thể hiện ở vị trí của yếu tố chỉ loại (danh từ chung mang nghĩa khái quát) và yếu tố khu biệt (thành tố hạn định cụ thể):

  • Trong tiếng Việt: Yếu tố chỉ loại đứng trước, yếu tố khu biệt đứng sau theo mô hình [Chỉ loại] + [Khu biệt] (ví dụ: cơm rang, bánh rán, rượu nếp).
  • Trong tiếng Hán: Yếu tố khu biệt đứng trước, yếu tố chỉ loại đứng sau theo mô hình [Khu biệt] + [Chỉ loại] (ví dụ: 烤包子 - khảo bao tử / bánh bao nướng, 羊肉串 - dương nhục xuyến / thịt dê xiên).

3. Tổng dung lượng ngữ liệu khảo sát của luận án là bao nhiêu đơn vị?

Luận án khảo sát tổng cộng 4.574 đơn vị từ ngữ ẩm thực, trong đó có 1.869 đơn vị trong tiếng Việt và 2.705 đơn vị trong tiếng Hán, được thu thập từ từ điển, sách báo ẩm thực, sách dạy nấu ăn và các tác phẩm văn học, ca dao, tục ngữ.

4. Động từ và vật dụng ẩm thực nào được luận án lựa chọn làm trọng tâm phân tích chuyên sâu?

  • Về động từ: Luận án tập trung phân tích các kết cấu chứa động từ ăn, uống trong tiếng Việt và hai động từ tương ứng có tần số xuất hiện cao nhất trong tiếng Hán là 吃 (ngật - ăn) và 喝 (hát - uống).
  • Về vật dụng: Luận án lựa chọn phân tích chuyên sâu từ đũa trong tiếng Việt và từ 碗 (oản - bát) trong tiếng Hán, do đây là hai từ chỉ vật dụng có tần suất xuất hiện và khả năng chuyển nghĩa phái sinh phong phú nhất.

5. Triết lý truyền thống nào được vận dụng để luận giải đặc trưng mùi vị và văn hóa ẩm thực Trung - Việt?

Luận án vận dụng triết lý âm dương ngũ hành và thuyết "ngũ vị điều hòa" để luận giải các từ chỉ mùi vị gồm ngũ vị (chua - 酸, ngọt - 甜, đắng - 苦, cay - 辣, mặn - 咸) tương ứng với ngũ hành (mộc, thổ, hỏa, kim, thủy). Triết lý này chi phối sâu sắc cách phối hợp nguyên liệu, chế biến theo mùa và quan niệm bảo vệ sức khỏe thông qua ăn uống của cả hai dân tộc.


Kết luận

Luận án "Đặc điểm trường ngữ nghĩa ẩm thực (trên tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt)" của tác giả Ngô Minh Nguyệt là công trình nghiên cứu hệ thống về ngôn ngữ học đối chiếu kết hợp với văn hóa học. Dựa trên nguồn ngữ liệu thực tế gồm 4.574 đơn vị từ ngữ, tác giả đã làm rõ cấu trúc định danh, đặc trưng ngữ nghĩa và các cơ chế chuyển nghĩa của từ ngữ ẩm thực trong hai ngôn ngữ Hán - Việt. Công trình đã chứng minh mối quan hệ tương hỗ giữa ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, đồng thời mang lại giá trị thực tiễn trong công tác giảng dạy ngôn ngữ, dịch thuật đối chiếu và biên soạn từ điển chuyên ngành.