Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX" do nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Phú thực hiện (hoàn thành tại Nghệ An năm 2018), thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Luận án tiếp cận đối tượng dưới góc độ nghiên cứu văn học sử, thi pháp học và lịch sử tư tưởng theo hướng nghiên cứu định tính chuyên sâu.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng văn học nhà nho là bộ phận cơ bản và giữ vị trí hàng đầu trong tiến trình văn học Việt Nam thời trung đại (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX). Tuy nhiên, nhiều vấn đề liên quan đến phạm trù Nho gia, sự khác biệt giữa nhà nho Việt Nam và nhà nho Trung Quốc, cũng như những nét đặc thù mang tính biến thức vùng miền (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) vẫn chưa được làm sáng tỏ một cách toàn diện. Trong bối cảnh lịch sử nửa sau thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, Nam Bộ trở thành địa bàn đối đầu trực tiếp và sớm nhất. Văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn này giữ vị trí quan trọng nhưng vấn đề "con người trung nghĩa" — dạng thái con người chủ đạo của thời đại — vẫn chưa được đặt thành một đối tượng khảo sát hệ thống, chuyên biệt. Nghiên cứu đề tài này không chỉ lấp đầy khoảng trống học thuật về văn học sử vùng miền mà còn phục vụ thiết thực cho công tác giảng dạy Ngữ văn ở bậc trung học phổ thông và đại học, đồng thời cung cấp cơ sở tham khảo cho việc đúc kết các giá trị nhân cách truyền thống.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những đặc trưng của mẫu hình con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ ở giai đoạn lịch sử nửa sau thế kỷ XIX; xác định các đóng góp về mặt xã hội - thẩm mỹ của bộ phận văn học này; từ đó đề xuất một số định hướng trong việc nghiên cứu và tiếp nhận văn học nhà nho mang tính đặc thù vùng miền.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 nội dung:
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài.
- Xác định vai trò, vị thế của văn học nhà nho Nam Bộ trong lịch sử văn học dân tộc giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX.
- Khảo sát, phân tích, luận giải con người trung nghĩa với các dạng thái và đặc điểm của nó trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX.
- Khảo sát, phân tích, chỉ ra những nét chính, nổi bật trong phương thức thể hiện của văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX.
- Rút ra một số kết luận về con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ và đề xuất một số vấn đề nghiên cứu có liên quan.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Phạm vi thời gian: Nửa sau thế kỷ XIX (từ năm 1858 đến năm 1900).
- Phạm vi không gian và tác giả: Luận án tập trung khảo sát các sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm của các tác giả nhà nho Nam Bộ tiêu biểu, bao gồm Phan Thanh Giản, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu Huân, Nhiêu Tâm, Học Lạc.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả đã tiến hành tổng thuật chi tiết lịch sử nghiên cứu vấn đề theo các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về Nho giáo và văn học nhà nho Việt Nam:
- Các nghiên cứu nền tảng về Nho giáo của Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Đào Duy Anh (với tác phẩm Khổng giáo phê bình tiểu luận vận dụng quan điểm duy vật lịch sử), Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nguyễn Duy Cần, Bùi Văn Nguyên, Trần Trọng Sâm, Hoàng Tuấn, Lê Văn Quán, Đỗ Anh Thơ.
- Các công trình văn học sử thời kỳ đầu: Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (khảo cứu ảnh hưởng Nho giáo và văn chương cổ điển); Việt Nam văn học sử trích yếu (1949) của Nghiêm Toản; Văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX (1952) của Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu Sủng; Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ; Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng.
- Các công trình chuyên luận tư tưởng và loại hình học tác giả: Trần Văn Giàu với Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam: từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám (bàn về phạm trù trung - hiếu) và Tư tưởng yêu nước trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam; Nguyễn Khắc Viện với Bàn về Đạo Nho; Trần Đình Hượu với Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (phân chia ba loại hình: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử); Trần Ngọc Vương với Loại hình học tác giả văn học - Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung, Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử (chủ biên); Nguyễn Tài Thư với Nho học và Nho học ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn; Trần Nho Thìn với Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa; Phương Lựu với tham luận "Khái quát về quan niệm văn học Nho giáo ở Việt Nam" (2004).
- Các bộ giáo trình và lịch sử văn học: Lịch sử văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX và Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của Nguyễn Lộc; Lịch sử văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX (Tập IV) của nhóm tác giả Lê Trí Viễn, Phan Côn, Nguyễn Đình Chú, Huỳnh Lý, Lê Hoài Nam; Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng.
Thứ hai, nhóm các công trình của giới nghiên cứu quốc tế:
- Các nghiên cứu lịch sử và văn hóa: K. Kelley với The Birth of Vietnam (1983) và A History of the Vietnamese (2013); McLeod Mark W với The Vietnamese Response to French Intervention, 1862 - 1874 (1991); Tana Li và Anthony Reid với Southern Vietnam under the Nguyen (1993/1996); Yu Insun với nghiên cứu về phong trào Nam tiến và văn hóa miền Nam (1999); BA. Ooms với Rethinking confucianism, Past and Present in China, Japan, Korea, and Vietnam (2002); Choi Byung Wook với A Mid-19th Century Southern Literature "Lục Vân Tiên", and the Anti - French Resistance; E. Villard với Etude sur la littérature annamite poesies et chants populaires; các bản dịch tác phẩm Lục Vân Tiên sang tiếng Pháp của Gabriel Aubaret (1864) và Engène Bajot (1866).
Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về văn học Nam Bộ và các tác gia tiêu biểu:
- Về văn hóa và văn học Nam Bộ: Nam Bộ nhân vật chí; Đất và người Nam Bộ của Ca Văn Thỉnh; Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX do Bảo Định Giang biên soạn và Ca Văn Thỉnh giới thiệu; Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX của Bảo Định Giang; Văn học miền Nam Lục tỉnh (Tập 3) của Nguyễn Văn Hầu.
- Về các tác gia cụ thể: Nỗi lòng Đồ Chiểu của Phan Văn Hùm; Nguyễn Đình Chiểu toàn tập do Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo; Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao càng nhìn càng sáng của Lê Trí Viễn; Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học của Nguyễn Phong Nam; Thơ văn Nguyễn Thông (1961) và Nguyễn Thông - con người và tác phẩm (1988) của Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang; Tác phẩm Nguyễn Thông của Cao Tự Thanh và Đoàn Lê Giang; Thơ văn Phan Thanh Giản của Phan Thị Minh Lễ và Chương Thâu; Nguyễn Hữu Huân nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất do Phạm Thiều chủ biên, Cao Tự Thanh và Lê Minh Đức dịch và khảo luận; các bài viết về thơ trào phúng của Phan Văn Trị, Nhiêu Tâm, Học Lạc do Thái Bạch, Nguyễn Tử Năng, Huỳnh Mẫn Chi, Phan Mạnh Hùng thực hiện.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Mặc dù các công trình đi trước đã nghiên cứu sâu về từng tác giả, diện mạo văn học sử hoặc đề cập khái niệm trung nghĩa ở mức độ riêng lẻ, song chưa có một công trình nào khảo sát tập trung, hệ thống và chuyên biệt về mẫu hình "con người trung nghĩa" trong toàn bộ không gian văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX. Luận án của Nguyễn Ngọc Phú định vị mình là công trình giải quyết trực tiếp khoảng trống học thuật này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết văn học và lịch sử tư tưởng, bao gồm:
- Lý thuyết nghiên cứu về con người trong văn học: Xem con người là đối tượng trung tâm của sự phản ánh và sáng tạo thẩm mỹ.
- Học thuyết Nho giáo và hệ thống phạm trù đạo đức: Khái niệm "Nho gia", "Nho học", "Nho giáo"; các chuẩn mực tam cương ngũ thường, mối quan hệ giữa "Tâm", "Chí", "Đạo", "Nghĩa", "Khí"; quan niệm về người quân tử, mẫu hình nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử theo phân loại học thuật của Trần Đình Hượu và Trần Ngọc Vương.
- Khái niệm "Trung nghĩa": Luận án phân tích khái niệm trung nghĩa từ cội nguồn kinh điển Nho gia Trung Hoa, sự tiếp nhận của Nho giáo triều Nguyễn, đến sự biến đổi qua truyền thống tư tưởng Việt Nam và văn hóa ứng xử thực tế của cư dân vùng đất Nam Bộ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án phối hợp 8 phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể:
- Phương pháp liên ngành: Huy động tri thức từ các lĩnh vực văn hóa học, lịch sử học, chính trị học, xã hội học và nhân học để soi chiếu đối tượng con người trung nghĩa.
- Phương pháp lịch sử: Đặt quan niệm trung nghĩa trong tiến trình vận động lịch sử nửa sau thế kỷ XIX, gắn liền với biến cố thực dân Pháp xâm lược.
- Phương pháp thông diễn học: Giải thích, tường giải ngữ nghĩa các khái niệm, thuật ngữ và phạm trù đạo đức Nho giáo được thể hiện trong văn bản tác phẩm.
- Phương pháp thống kê - miêu tả: Thống kê và miêu tả hệ thống ngữ liệu, chi tiết nghệ thuật, chủ đề trong các văn bản sáng tác của nhà nho Nam Bộ.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các yếu tố nội dung, nghệ thuật qua từng tác phẩm riêng lẻ, từ đó tổng hợp thành các đặc điểm bản chất của con người trung nghĩa.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh quan niệm trung nghĩa giữa các tác giả trong nội bộ khu vực Nam Bộ, đồng thời so sánh giữa văn học nhà nho Nam Bộ với văn học nhà nho miền Bắc và miền Trung (như phong trào Cần Vương).
- Phương pháp loại hình: Ứng dụng tiêu chí loại hình tác giả (hành đạo, ẩn dật, tài tử) và loại hình văn học trung đại để xem xét vấn đề trong một hệ giá trị chung.
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Đặt các biểu hiện của con người trung nghĩa vào một cấu trúc chỉnh thể thống nhất của văn học Nam Bộ giai đoạn 1858 - 1900.
Nguồn tư liệu và văn bản khảo sát
Luận án khai thác hệ thống văn bản từ các công trình sưu tầm, biên soạn Hán Nôm đã được thẩm định:
| STT |
Tên ấn phẩm / Tư liệu |
Người biên soạn / Giới thiệu |
Năm / Nguồn xuất bản |
| 1 |
Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1858 - 1900) |
Trần Văn Giàu (giới thiệu), Chu Thiên, Đặng Huy Vận, Nguyễn Bỉnh Khôi (biên soạn) |
NXB Văn học, Hà Nội |
| 2 |
Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX |
Bảo Định Giang (biên soạn), Ca Văn Thỉnh (giới thiệu) |
NXB Văn hóa, Hà Nội |
| 3 |
Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (Tập 1, 2) |
Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang (biên khảo, chú giải) |
NXB Đại học và THCN |
| 4 |
Thơ văn Phan Thanh Giản |
Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu (biên soạn) |
NXB Văn học, Hà Nội |
| 5 |
Lương Khê Thi văn thảo |
Phan Thanh Giản và các con sưu tầm, khắc in |
Bản khắc Hán Nôm |
| 6 |
Tác phẩm Nguyễn Thông |
Cao Tự Thanh, Đoàn Lê Giang (biên soạn) |
NXB Tổng hợp TP.HCM |
| 7 |
Phan Văn Trị - cuộc đời và tác phẩm |
Nguyễn Khắc Thuần, Nguyễn Quảng Tuân (sưu tầm, biên soạn) |
NXB Trẻ, TP.HCM |
| 8 |
Di cảo thơ trào phúng Nhiêu Tâm |
Nguyễn Xuân Hoanh (sưu tầm, biên soạn) |
NXB Văn nghệ TP.HCM |
| 9 |
Văn học miền Nam Lục tỉnh (Tập 3: Văn học Hán Nôm thời kháng Pháp và thuộc Pháp) |
Nguyễn Văn Hầu (biên soạn) |
NXB Trẻ |
| 10 |
Nhân vật lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Quyển 2) |
Vũ Thanh Sơn (biên soạn) |
NXB CAND |
| 11 |
Nguyễn Trung Trực - Một Kinh Kha của miền Nam |
Tạp chí Xưa và Nay tập hợp |
NXB Tổng hợp TP.HCM |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Nội dung chương 1 thực hiện việc tổng kết toàn diện lịch sử nghiên cứu Nho giáo, văn học nhà nho và văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX từ đầu thế kỷ XX đến năm 2018. Tác giả phân tích các khuynh hướng nghiên cứu của học giả trong nước (Dương Quảng Hàm, Trần Văn Giàu, Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Lộc, Ca Văn Thỉnh, Bảo Định Giang...) và các nhà nghiên cứu quốc tế (K. Kelley, Choi Byung Wook, McLeod Mark W...).
Bên cạnh việc xác lập khoảng trống khoa học, chương 1 xây dựng khung cơ sở lý thuyết vững chắc:
- Phân tích các lý thuyết về con người trong văn học nghệ thuật.
- Luận giải cơ sở Nho giáo và sự tác động của hệ tư tưởng Khổng - Mạnh đối với văn học Việt Nam trung đại; chỉ rõ sự phân hóa loại hình tác giả nhà nho (hành đạo, ẩn dật, tài tử) và sự chi phối của quan niệm "Thi dĩ ngôn chí", "Văn dĩ tải đạo".
- Phân tích truyền thống tư tưởng dân tộc gắn liền với hoàn cảnh địa văn hóa Nam Bộ (vùng đất mới, tinh thần thượng võ, trọng nghĩa khí, lối sống bộc trực, ngay thảo).
Chương 2: Cơ sở hình thành và vai trò, vị thế của văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc
Chương 2 tập trung phân tích hoàn cảnh lịch sử - xã hội và vai trò lịch sử của văn học nhà nho Nam Bộ:
- Khái quát bối cảnh cuộc xâm lược của thực dân Pháp tại Nam Kỳ từ năm 1858, sự đầu hàng từng bước của triều đình Huế dẫn đến các hiệp ước nhượng bộ, đặt dân tộc trước những thử thách sống còn ("chiến - hòa", "sinh - tử", "duy tân - thủ cựu").
- Sự chuyển biến của lực lượng sáng tác: Nhà nho Nam Bộ phần lớn xuất thân từ tầng lớp bình dân hoặc gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân, nên khi biến cố xảy ra, họ nhanh chóng đứng về phía quần chúng kháng chiến, biến ngòi bút thành vũ khí chiến đấu.
- Văn học giai đoạn này mang tính chất thời sự trực tiếp, bám sát các sự kiện chính trị và quân sự của cuộc kháng chiến. So với văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm phát triển mạnh mẽ và cập nhật nhanh chóng tinh thần thời đại.
- Xác định vị thế lịch sử: Văn học nhà nho Nam Bộ là ngọn cờ mở đầu cho dòng văn học yêu nước chống Pháp của cả nước, tiêu biểu là sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Đây là giai đoạn khép lại mười thế kỷ văn học trung đại mang tính quy phạm, đồng thời mở đường, tạo tiền đề tư tưởng và chất liệu hiện thực cho bước chuyển đổi sang phạm trù văn học hiện đại ở đầu thế kỷ XX.
Chương 3: Đặc điểm của con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Chương 3 là chương trọng tâm về mặt nội dung tư tưởng, làm rõ sự vận động và đặc trưng của hình tượng con người trung nghĩa:
- Sự chuyển biến trong quan niệm trung nghĩa: Quan niệm trung nghĩa không còn đóng khung trong phạm trù "trung quân" phong kiến giáo điều. Dưới áp lực của hiện thực mất nước, chữ "Trung" đã có sự phân rã và chuyển hóa: từ trung với vua chuyển sang trung với nước, trung với dân. Hành động chống lệnh bãi binh của triều đình để tiếp tục đánh giặc (như Trương Định) được khẳng định là hành động trung nghĩa chân chính. Chữ "Nghĩa" được cụ thể hóa thành lẽ phải, thấy việc cứu nước là phải làm ("kiến nghĩa bất vi vô dũng dã"), làm việc nghĩa không tính toán thiệt hơn hay mưu cầu báo đáp.
- Con người trung nghĩa giữa các mối quan hệ phức tạp: Luận án phân tích nhân vật trung nghĩa trong sự cọ xát giữa các mối quan hệ: với lý tưởng trung quân, với lý tưởng ái quốc, với lợi ích sinh tồn của cộng đồng. Trước các bài toán lịch sử, con người trung nghĩa có những lựa chọn ứng xử khác nhau nhưng cùng chung tấm lòng vì dân vì nước: Nguyễn Đình Chiểu giữ trọn khí tiết, dùng ngòi bút chiến đấu; Phan Thanh Giản tuẫn tiết để tạ tội với dân và tỏ rõ lòng trung trinh; Nguyễn Thông chọn con đường "tỵ địa" giữ gìn mạch sống văn hóa; các nghĩa sĩ nông dân sẵn sàng xả thân nơi trận mạc.
- Vẻ đẹp thẩm mỹ mang tính thời đại và cốt cách Lục tỉnh: Mẫu hình con người trung nghĩa mang phẩm chất đạo đức cao cả, tâm hồn trong sáng, khảng khái, bộc trực, dám đối mặt với hy sinh vì nghĩa lớn của dân tộc.
Chương 4: Phương thức thể hiện con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Chương 4 khảo sát các phương diện thi pháp và hình thức nghệ thuật biểu hiện:
- Sự lựa chọn thể loại: Các tác giả ưu tiên sử dụng các thể loại ngắn, có khả năng phổ biến nhanh và tác động trực tiếp đến công chúng:
- Thể thơ: Thơ Đường luật (chữ Hán và chữ Nôm), thơ lục bát truyền thống.
- Thể loại biền văn: Thể văn tế đạt đến đỉnh cao phản ánh hiện thực và tính bi tráng (tiêu biểu là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu).
- Thể văn chính luận: Hịch cứu nước (như Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây).
- Thể văn xuôi tự sự, truyện thơ Nôm (Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp) và các thể loại dân gian như sử ca, vè.
- Vận dụng bút pháp nghệ thuật:
- Bút pháp trữ tình: Mang âm hưởng hào hùng, bi tráng, thể hiện nỗi đau mất nước và ngợi ca phẩm tiết con người.
- Bút pháp trào phúng: Sử dụng tiếng cười châm biếm, đả kích gay gắt bọn thực dân xâm lược và tay sai bán nước (thể hiện rõ qua thơ Phan Văn Trị, Nhiêu Tâm, Học Lạc).
- Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ: Giọng điệu chủ đạo là giọng bi tráng, thiết tha, đanh thép; ngôn ngữ thơ văn giàu tính khẩu ngữ, đậm đà sắc thái địa phương Nam Bộ, giảm thiểu tính ước lệ tượng trưng kinh viện, đưa ngôn ngữ đời thường vào văn học trung đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự đúc kết các kết quả và đóng góp khoa học chính như sau:
- Về mặt lý luận và khoa học: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt, có tính hệ thống đầu tiên về hình tượng con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX. Luận án góp phần làm sáng tỏ quy luật vận động của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn cuối, chỉ ra sự biến đổi của hệ phạm trù đạo đức Nho giáo khi du nhập vào bối cảnh lịch sử và văn hóa Nam Bộ.
- Về mặt thực tiễn: Luận án phác thảo bức tranh toàn cảnh về diện mạo, lực lượng sáng tác và các khuynh hướng tư tưởng nghệ thuật của văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn 1858 - 1900. Công trình cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho công tác nghiên cứu văn học sử, giảng dạy tác phẩm văn học trung đại trong nhà trường phổ thông và các cơ sở giáo dục đại học.
- Kiến nghị và giải pháp: Luận án đề xuất cần tiếp tục đổi mới quan điểm tiếp nhận văn học nhà nho vùng miền, đánh giá thỏa đáng vị trí của văn học Nam Bộ trong tiến trình văn học dân tộc; đồng thời đề xuất tăng cường sưu tầm, bảo tồn và khai thác các di sản văn bản Hán Nôm Nam Bộ phục vụ giáo dục truyền thống đạo lý dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên giới hạn phạm vi nghiên cứu được văn bản xác định:
- Hạn chế: Luận án chủ yếu tập trung khảo sát các sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm của các tác giả nhà nho tiêu biểu. Bộ phận văn học viết bằng chữ Quốc ngữ giai đoạn sơ kỳ và các trước tác bằng tiếng Pháp của các trí thức Nam Bộ cùng thời chưa được đi sâu khảo sát toàn diện.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu sang việc so sánh đối chiếu mẫu hình con người trung nghĩa Nam Bộ với con người trung nghĩa trong phong trào Cần Vương ở Trung Bộ và Bắc Bộ; nghiên cứu sự chuyển hóa của hình tượng này sang giai đoạn văn học duy tân, yêu nước đầu thế kỷ XX.
Giá trị tham khảo
Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị thiết thực đối với các đối tượng sau:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lịch sử tư tưởng và Văn hóa học có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về thi pháp văn học trung đại, văn học vùng miền và loại hình học tác giả nhà nho.
- Giáo viên Ngữ văn: Cung cấp cơ sở lý luận và tư liệu văn bản chuyên sâu để giảng dạy các bài học về văn học yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX trong chương trình trung học phổ thông (đặc biệt là các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu).
- Các nhà nghiên cứu văn hóa - lịch sử Nam Bộ: Tham khảo hệ thống tư liệu thư tịch Hán Nôm và phương pháp phân tích nhân vật lịch sử - văn học trong bối cảnh văn hóa Lục tỉnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "trung nghĩa" trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX có sự biến đổi như thế nào so với Nho giáo truyền thống?
Trong Nho giáo phong kiến nguyên thủy, "trung" chủ yếu gắn chặt với "trung quân" (trung thành tuyệt đối với vua). Trong văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn này, trước thực tế triều đình phong kiến đầu hàng giặc, khái niệm "trung" đã chuyển biến mạnh mẽ thành trung với nước, trung với dân. Chữ "nghĩa" được hiểu là lẽ phải, tinh thần xả thân cứu nước, giúp dân mà không màng danh lợi, tính mạng hay sự báo đáp.
2. Tác giả Nguyễn Đình Chiểu có vị trí như thế nào trong việc thể hiện con người trung nghĩa?
Nguyễn Đình Chiểu được luận án xác định là tác giả tiêu biểu nhất của dòng văn học yêu nước chống Pháp giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX. Ông đã thể hiện trọn vẹn lý tưởng "vệ đạo, bảo dân, ái quốc", chuyển biến từ việc ca ngợi đạo nghĩa truyền thống trong truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên sang việc trực tiếp dùng ngòi bút phục vụ chiến đấu qua các bài văn tế, bài hịch và truyện thơ thời sự, khắc họa người nghĩa sĩ nông dân thành hình tượng trung nghĩa của thời đại.
3. Luận án khảo sát những tác giả nhà nho Nam Bộ tiêu biểu nào?
Luận án tập trung vào các tác giả sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm gồm: Phan Thanh Giản, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu Huân, Nhiêu Tâm, Học Lạc.
4. Những phương thức nghệ thuật chủ đạo nào được sử dụng để thể hiện con người trung nghĩa?
Phương thức thể hiện bao gồm việc lựa chọn các thể loại có tính thời sự và đại chúng cao (văn tế, hịch, thơ Đường luật, lục bát, vè); kết hợp giữa bút pháp trữ tình bi tráng với bút pháp trào phúng châm biếm; sử dụng ngôn ngữ chữ Nôm mộc mạc, đậm sắc thái phương ngữ Nam Bộ, phản ánh chân thực cuộc sống chiến đấu.
5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu định tính nào?
Luận án sử dụng phối hợp 8 phương pháp định tính: phương pháp liên ngành, phương pháp lịch sử, phương pháp thông diễn học, phương pháp thống kê - miêu tả, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp loại hình và phương pháp cấu trúc - hệ thống.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Phú là công trình nghiên cứu hệ thống về hình tượng con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ giai đoạn 1858 - 1900. Tác phẩm đã phân tích sâu sắc sự chuyển biến tư tưởng từ trung quân giáo điều sang tinh thần ái quốc, thương dân, gắn liền với bản lĩnh khí tiết của con người vùng đất Nam Bộ. Đồng thời, luận án làm rõ các phương thức biểu hiện nghệ thuật đặc thù về thể loại, giọng điệu và ngôn ngữ của bộ phận văn học này. Công trình góp phần khẳng định vị thế của văn học Nam Bộ như một bước chuyển quan trọng khép lại thời kỳ văn học trung đại và chuẩn bị tiền đề cho nền văn học Việt Nam hiện đại.