CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU VE CHUYEN DOI MUC DICH SU DUNG DAT NONG NGHIEP VA TAC DONG CUA NO DEN CÁC NHÓM LỢI ICH Trước tiên, phan nay sẽ trình bay tam quan trọng của đất dai với nhóm lợi ich gắn bó trực tiếp nhất với nó, đó là các hộ nông dân. Tiếp theo, luận án sẽ tổng quan các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước liên quan đến tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tới các nhóm lợi ích liên quan. Tuy nhiên, với nỗ lực cao nhất có thể, tác giả luận án đã khảo cứu các nghiên cứu quốc tế và phát hiện ra rằng hầu hết các nghiên cứu này chỉ để cập tới nhóm lợi ích là người nông dân khi đất nông nghiệp bị chuyền đổi. Do vậy, trong phần tổng quan các công trình nghiên cứu quốc tế, tac giả chi đề cập tác động của việc chuyên đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tới lợi ích của các nông hộ.
Trong phần tông quan các nghiên cứu về Việt Nam, tác giả sẽ tập trung phân tích một số các công trình liên quan trực tiếp tới chủ đề nghiên cứu của luận án. Nghiên cứu quốc tế Hầu hết các hộ gia đình trong những quốc gia nghèo có sinh kế phần lớn dựa vào sản xuất nông nghiệp. Do vậy đất đai trở thành một tài sản sinh kế quan trọng. Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối tăng trưởng, việc làm và sinh kế nông hộ trong hầu hết các quốc gia dang phát triển (DFID, 2002).
Vì lý do này, đất và sinh kế nông thôn luôn là chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu vả các nhà hoạch định chính sách. Theo Deininger and Feder (1999, p. 1) “ Trong xã hội nông nghiệp, đất đai đóng vai trò như phương tiện chính không chỉ tạo ra sinh kế ma còn được xem như của cải dé tích lũy và thừa kế giữa các thế hệ”. Vì vậy, đất đai đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược sinh kế của người nông dân và bat kỳ sự thay đổi mục đích sử dung đất nông nghiệp cũng sẽ dẫn tới những thay đôi lớn đối với sinh kế của ho.
13 Trong một tài liệu bàn về vai trò của đất đai đối với giảm nghèo, DFID (2002) cho rằng đất là tài sản sinh kế bởi vì nó cung cấp nơi ở và lương thực mà các hoạt động sinh kế khác phải nhờ cậy vào đất. Tài liệu này cũng cho rằng đất đai có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế một cách bền vững thông qua năng suất và hiệu quả sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Thêm nữa, đất đai giúp người nghèo đạt được sự bình dang cao hơn và giảm thiểu tinh ton thương của sinh kế bằng việc đảm bảo cho họ quyền sử dụng và tiếp cận tới đất đai. Ngoài ra, đất đai và sự đầu tư của người nông dân vào đất đai trở thành tài sản duy nhất có giá trị nhất.
Vì vậy, khả năng sử dụng đất của họ trong các cách khác nhau, không chỉ cho hoạt động trồng trọt mà còn dé bán hoặc cho thuê cung cấp một sự an toàn sinh kế cho những người không thể cấy trồng trên những mảnh đất của họ. Tuy thế, khi thảo luận về vai trò của chính sách đất đai đối với giảm nghèo, tài liệu này cũng cho răng việc có dat đai dé canh tác là một điều kiện cần và không phải là một điều kiện đủ cho việc giảm nghéo. Đổi mới chính sách dat đai phải đi cùng với sự cải thiện việc tiếp cận các dịch vụ như giáo dục, y tế, giao thông, tài chính, công nghệ và thị trường. Vì vậy, DFID cho rằng cải thiện việc tiếp cận đất đai cho các hộ nghèo là quan trọng nếu chúng đóng góp và ích lợi cho tăng trưởng kinh tế (DFID, 2002).
Kinh nghiệm quốc tế cho rằng đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh luôn đi cùng với việc thu hồi đất từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp, cơ sở hạ tầng và nhà để ở (Ramankutty, Foley, & Olejniczak, 2002). Quá trình này gây ra những tác động có thể là tích cực và tiêu cực tới nhiều bên liên quan và do vậy có những quan điểm tranh luận cũng như phản đối về việc có nên duy trì đất nông nghiệp hay nên chuyên đôi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp. Những quan điểm như vậy có thể được coi như nhóm những nhà ủng hộ sự phát triển nông thôn và nhóm những nhà ủng hộ sự phát triển đô thị (Azadi, Ho, & Hasfiati, 2011). Theo quan điểm của những nhà ủng hộ nông thôn thì việc chuyên đôi đất nông nghiệp có tác động tiêu cực tới lợi ích của nông dân như việc làm và thu nhập, và tác động tiêu cực tới an ninh lương thực của cộng đồng.
Do vậy, họ phản đổi việc chuyên đổi đất nông nghiệp. Ngược lại, nhóm các nhà ủng 14 hộ sự phát triển đô thị cho răng việc chuyển đổi đất là một hệ quả tất yếu của sự phát triển và những tác động tiêu cực về việc làm nông nghiệp và thiếu hụt lương thực có thể được bù đắp bằng cải tiến công nghệ, thâm canh sản sản xuất nông nghiệp và việc làm mới do khu vực phi nông nghiệp tạo ra. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh trong những quốc gia lớn như Trung Quốc và An Độ, rất nhiều nghiên cứu về chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp và lợi ích của các hộ gia đình nông thôn được tìm thấy trong những tài liệu gần đây. Tại Trung Quốc, quốc gia có dân số đông nhất, đô thị hóa đã làm chuyên đổi một phần lớn đất nông nghiệp, và sự xâm lớn này đã làm gia tăng những lo ngại về an ninh lương thực và sinh kế nông hộ (J.
Chen, 2007; Deng, Huang, Rozelle, & Uchida, 2006; Wei et al., 2009; Xie, Mei, Guangjin, & Xuerong, 2005). Số liệu thực tế cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích sử dụng phi nông nghiệp đã ảnh hưởng đáng kề đến sinh kế của những người sống ở nông thôn. Tan, Li, Xie, and Lu (2005) cho răng một khối lượng lớn đất trồng trọt khoảng 10 triệu ha từ năm 1987 tới 2000 đã được chuyển đối cho phát triển đô thị , với khoảng 74 phần trăm đất phi nông nghiệp đã được chuyền đổi từ đất nông nghiệp. Hang năm, tiến trình này đã dẫn tới 1,5 triệu nông dân sống trong những vùng ngoại 6 đông đúc mat đi đất trồng trọt, việc làm và thu nhập từ nông nghiệp.
Tsering, Bjonness, and Guo (2007) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chuyên đổi đất nông nghiệp và sinh kế của những người nông dân ở một số khu tự trị ở Tây Tạng của Trung Quốc. Nghiên cứu của họ cho thấy rằng đất đai trồng trọt là tài sản quan trọng nhất bởi vì sự khan hiếm và nguồn giá trị này đang giảm trên một quy mô lớn trong vùng. Họ cũng cho răng đất đai là rất quan trọng cho an ninh lương thực của hộ gia đình và phát triển bền vững của địa phương trong tương lai. Tuy thế, các tác giả cũng lưu ý rằng đề đạt được đầu ra sinh kế tốt hon cho tương lai, người nông dân nên được dao tao và trang bị tốt những kỹ năng lao động dé giảm bớt sự lệ thuộc của họ vào đất nông nghiệp.
Lợi ích của những hộ gia đình nông thôn ở Ấn Độ cũng đã phải đối mặt với những thách thức về chuyền đổi đất nông nghiệp trên quy mô lớn. Từ năm 1955 tới 1985, khoảng 1,5 triệu héc ta dat được chuyên đổi cho phát triển đô thị tại An Độ 15 (Fazal, 2000). Tiến trình này dẫn tới các tác động đáng kẻ tới sinh kế nông hộ. Bối cảnh này dường như lá khá nghiêm trọng tại An Độ bởi vì dân số lớn của quốc gia này đã đặt những áp lực lớn vào cung cấp lương thực.
Dé đối mặt với những khó khăn này, lợi thế công nghệ có khả năng thúc đây năng suất nông nghiệp. Tuy nhiên, một sự gia tăng năng suất như vậy cúng khó có thể được bù đắp được sự thiếu hụt lương thực bởi việc suy giảm đất nông nghiệp và dân số gia tăng trong quốc gia này. Thêm nữa, bởi vì sự suy giảm trong đất nông nghiệp, tạo việc làm đối lao động nông thôn là một thách thức lớn đối quốc gia này, với 67 phần trăm trong tổng lực lượng lao động tham gia vào khu vực nông nghiệp và khoảng hai phần ba trong tổng dân số sống trong những vùng nông thôn (Fazal, 2001). Sử dụng nguồn dit liệu thứ cấp từ những tài liệu khác nhau tại An Độ Mahapatra (2007) kiểm tra xem việc chuyển đổi đất nông nghiệp ảnh hưởng như thế nao đến lợi ích của nông hộ ở các vùng nông thôn Orrisa tại An Độ.
Nghiên cứu nay cho thay khoảng một phan ba hộ gia đình mat đất buộc phải đi làm thuê mướn. Điều này có thể đưa họ vào những bat loi boi vi su bién động cua thi trường lao động. Thêm nữa, sự suy giảm trong đất trồng trọt làm giảm tiêu dùng và thu nhập của các hộ gia đình trong những vùng nông thôn này. Mắt đất không chỉ ảnh hưởng đến lợi ich của các nông hộ, mat dat cũng là những nguyên nhân chính của xung đột xã hội và điều này có thé ảnh hưởng đến những vùng dễ tổn thương trong những vùng nông thôn của An Độ (Mahapatra, 2007).
Kết qua là, những xung đột gần đây tai Ấn Độ bắt nguồn từ thu hồi đất và việc làm. Vùng Đông Bắc của Ấn Độ là một trường hợp điển hình của thiếu hụt đất gây ra bởi những xung đột sắc tộc (Fernandes, 201 1). Những xung đột như vậy là những hậu quả không thể tránh khỏi bởi sự thiếu hụt đất và thiếu việc làm loại được chứng kiến trong những vùng khác nhau như Rwanda và Kosovo (Ohlsson, 2000). Mặt khác, có những tranh luận rằng ở những vùng cụ thé, mức độ mat đất gia tăng hoặc sự thu hồi đất được xem như một khuynh hướng tích cực bởi vì điều này tạo cơ hội cho việc đa dạng hóa chiến lược sinh kế và giảm thiểu sự phụ thuộc vào đất nông nghiệp (e., Bouahom, Douangsavanh, & Rigg, 2004; Davis, 2006; 16 Deshingkar, 2005; Koczberski & Curry, 2005; Rigg, 2006).
Ellis (1998) va Barrett, Reardon, and Webb (2001) phân biệt những nhân tố day va kéo loại quyết định sự đa dạng sinh kế nông thôn.