Chương 1: Cơ sở khoa học về chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số phía Bắc. Chương 3: Một số giải pháp đổi mới nội dung và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số phía Bắc. 174 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Những năm qua, nghiên cứu về dân tộc, DTTS, chính sách, chính sách phát triển vùng dân tộc cả nước nói chung và phía Bắc Việt Nam nói riêng đã được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước quan tâm thực hiện và công bố, có thể tổng quan như sau: 1. Các nghiên cứu lý luận về chính sách và phát triển 1.
Về chính sách và chính sách công Chính sách, chính sách công là vấn đề được các quốc gia phát triển trên thế giới nghiên cứu gắn với việc tìm kiếm mô hình và xây dựng một nền quản trị quốc gia. Nhiều tác phẩm nghiên cứu được nhắc đến như: Nhận thức về chính sách công (Understanding Public Policy) (1972) của Thomas R.Dye, Phân tích chính sách, dưới góc nhìn tổ chức và chính trị (Policy Analysis: A Political and Organizational Perspective) (1978) của William l. Jenkins hay Giới thiệu về xây dựng chính sách công (Public Policy Making: An Introduction) (1984) của James. Đã có nhiều quan điểm và khái niệm về chính sách và chính sách công được đưa ra làm nền tảng lý luận ban đầu cho các nghiên cứu có liên quan.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về chính sách công được tiến hành vào những năm đầu thập kỉ 90 khi đất nước tiến hành cải cách và xây dựng nền hành chính phù hợp với yêu cầu quản lý mới. Một số tác phẩm, công trình nghiên cứu quan trọng như: Những vấn đề cơ bản về chính sách công và chu trình chính sách của tác giả Lê Chi Mai, Nhà xuất bản (NXB) Đại học quốc gia Hồ Chí Minh (2001), Giáo trình phân tích và hoạch định chính sách công (2006) của Học viện Hành chính quốc gia, Tìm hiểu về khoa học chính sách công (1999) của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Các khái niệm về chính sách, chính sách công đã được các tác giả luận giải, đưa ra trong bối cảnh thể chế của Việt Nam. Qui trình kỹ thuật xây dựng, phân tích chính sách được hệ 175 thống hóa.
Mặc dù mới được tiếp cận trong bối cảnh thể chế, môi trường chính sách khác nhau, nhưng những nguyên lý, điểm chung nhất có tính nguyên tắc đã được các học giả, các nhà nghiên cứu liên quan đến chính sách công ở Việt Nam thừa nhận và bổ sung phát triển. Liên quan đến mô hình tổ chức nhà nước và thực thi chính sách công cũng có nhiều nghiên cứu. Nổi bật là tác phẩm Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh của tác giả S. Chiavo-Camo và P.Sundaram (Ngân hàng phát triển châu Á), NXB Chính trị quốc gia (2003), đã đem lại cách tiếp cận mới về hoạt động của chính phủ, sự vận hành của hệ thống hành chính công và hệ thống chính sách trong bối cảnh kinh tế - chính trị - văn hóa quốc gia, quốc tế có nhiều chuyển đổi.
Công trình đã đi sâu nghiên cứu và có những bình luận, phân tích khá sâu sắc, toàn diện về vấn đề bộ máy và tổ chức chính phủ, cơ cấu tổ chức chính quyền trung ương - địa phương, vấn đề phi tập trung hóa, quản lý nguồn lực, đánh giá hoạt động nền hành chính công. Đây là những nội dung mang tính cốt lõi của khoa học về quản lý, quản trị nhà nước với nhiều ý tưởng, đề xuất có thể soi rọi, tham khảo vận dụng vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Có một số nghiên cứu về chính sách công ở ngoài nước đáng lưu ý là: Chính sách công của Hoa Kỳ của tác giả Lê Vinh Danh (2001), đã đề cập phân tích có tính hệ thống về nền tảng chính sách công của quốc gia này, đặc biệt gắn chặt với nền quản lý kỹ trị, cơ cấu quyền lực nhà nước, nhất là quan hệ giữa cơ quan lập pháp và hành pháp. Năm 2009, với một cách nhìn rộng hơn, tác giả Nguyễn Hữu Hải và cộng sự đã hoàn thành tác phẩm Hành chính công Hoa Kỳ - Lý thuyết và thực tế với những phân tích, bình luận sâu sắc và thực tiễn về nền hành chính công Hoa Kỳ, một trong những mô hình quản trị hành chính hiện đại rất cần được nghiên cứu.
Hành chính công và quản lý hiệu quả của chính phủ, Nguyễn Cảnh Chất biên dịch (2005) là một cuốn sách mang tính lý luận, thực tiễn về hành chính công, kinh nghiệm cải cách và xu thế phát triển hành chính công ở Trung Quốc và thế giới. Mô hình quản trị 176 của chính phủ gắn với hệ thống chính sách để tạo ra nền quản lý hiệu quả, cả ở góc độ vĩ mô và vi mô. Đường lối đổi mới của Trung Quốc theo tư tưởng “ba đại diện” mà Đặng Tiểu Bình là người khởi xướng và triển khai thực hiện, quán triệt 5 nguyên tắc cơ bản, tiếp tục cải cách hành chính công theo chiều sâu. Vấn đề phân vùng hành chính và thể chế hóa quản lý hành chính địa phương, đặc biệt 5 nhân tố ảnh hưởng là nhân tố tự nhiên, lịch sử, dân tộc, chính trị và kinh tế được đề cập phân tích.
Từ các quan niệm về chính sách công, chúng tôi cho rằng, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng có thể hiểu: đó là chính sách do Nhà nước, Chính phủ ban hành, nhằm tạo khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các hoạt động kinh tế, xã hội cũng như các vấn đề có liên quan của quốc gia. Là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để khuyến khích cả khu vực công và khu vực tư sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế và xã hội, quản lý nguồn lực hiệu quả. Vì vậy, quan niệm, khái niệm về chính sách, chính sách công đã cơ bản sáng tỏ và có thể được kế thừa trong đề tài này. Tuy nhiên, ở góc độ xem xét với đối tượng là chính sách phát triển vùng DTTS phía Bắc, những khái niệm trên sẽ được phát triển thêm cho phù hợp.
Về lý thuyết phát triển Cho đến thời điểm hiện nay, đã có không ít các cơ quan, học giả công bố về vấn đề này, khái niệm phát triển luôn được mở rộng, bổ sung và hoàn thiện theo quá trình nhận thức của nhân loại. Vào năm 1992, Richard Bergeron viết tác phẩm Phản phát triển, cái giá của chủ nghĩa tự do đã đem đến một góc nhìn chính trị về sự phát triển của thế giới đương đại, nhất là các nước thuộc thế giới thứ ba. Sự lựa chọn con đường và mô hình phát triển là vấn đề quan trọng trong những quyết định chính trị của các thể chế nhà nước.S Park (1992), với công trình công bố về Lý thuyết phát triển và các giải pháp trong nền kinh tế thị trường, đã nhìn nhận khái niệm phát triển dưới góc độ là một quá trình nội sinh, tự hướng tâm của sự tiến hóa và đặc thù của mỗi chế độ xã hội trong những giai đoạn nhất định. 177 Khái niệm phát triển còn được nhìn nhận qua cách tiếp cận chuyên ngành khác nhau.
Trong Giáo trình kinh tế học phát triển (2002), NXB Chính trị quốc gia, các tác giả cho rằng phát triển kinh tế là quá trình tăng trưởng toàn diện về mọi mặt của mỗi quốc gia, không đơn thuần là sự tăng trưởng về số lượng mà còn thể hiện sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế và chất lượng cuộc sống. Dưới góc độ văn hóa, Edgar Pisani cho rằng “Phát triển là một quá trình văn hóa và chính trị trước khi là một quá trình kinh tế và công nghệ”. Tức là xem sự biến đổi của hình thái ý thức xã hội, tư tưởng, trào lưu như nền tảng cho những thay đổi về kinh tế, ít ra khi xét trên khía cạnh hình thức và tính giai đoạn của nó. Liên quan đến khái niệm phát triển, còn có thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XX, đánh dấu sự thay đổi đáng kể trong tư duy về lý luận phát triển.
Vào năm 1987, Báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) chỉ rõ: Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm phát triển kinh tế, hiệu quả, công bằng xã hội và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, các tổ chức kinh tế, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải cùng thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực của phát triển là kinh tế - xã hội - môi trường. Nghiên cứu về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc Năm 1995, NXB Chính trị quốc gia đã phát hành cuốn sách Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, do Uỷ ban Dân tộc và Miền núi chủ biên.
Cuốn sách đã hệ thống hóa những quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc, khẳng định những nguyên tắc và định hướng đối với CSDT, nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề dân tộc trong giai đoạn mới của tiến trình cách mạng và bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi. Tác giả Trịnh Quốc Tuấn khi nghiên cứu về Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - vấn đề và giải pháp (năm 1996), đã trình bày những vấn đề lý 178 luận cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, công tác dân tộc. Đồng thời, phân tích điểm nổi bật trong quan hệ dân tộc ở nước ta, nhấn mạnh tới sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, dân tộc, coi đây là gốc rễ của những phát sinh trong thực tiễn, và đề ra những định hướng, giải pháp khắc phục tình trạng trên. Nhìn từ góc độ khoa học chính trị, năm 1996, nhóm tác giả của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học do tác giả Vũ Viết Mỹ làm chủ nhiệm đã công bố công trình nghiên cứu Vấn đề dân tộc trong sự nghiệp đổi mới.
Công trình này đã đưa thêm một góc nhìn sâu hơn về vấn đề dân tộc dưới những luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với thực tiễn các vùng dân tộc ở Việt Nam lúc bấy giờ.