Luận án tiến sĩ: Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm - Doanh nghiệp khoa học công nghệ Việt Nam

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết "Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm doanh nghiệp KHCN". Dưới đây là kết quả: {

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Trần Lan Hương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

204
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đổi mới sáng tạo sản phẩm trong doanh nghiệp KH CN

Đổi mới sáng tạo sản phẩm là yếu tố sống còn của doanh nghiệp khoa học và công nghệ (DNKH&CN) Việt Nam. Luận án tiến sĩ của Trần Lan Hương (2021) tại Đại học Kinh tế Quốc dân hệ thống hóa toàn diện các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới này. Theo Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13, DNKH&CN là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Tính đặc thù của DNKH&CN Việt Nam nằm ở chỗ doanh nghiệp phải duy trì tỷ lệ doanh thu nhất định từ sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN theo Nghị định 13/2019. Điều này tạo áp lực đổi mới liên tục. Đổi mới sáng tạo sản phẩm không chỉ là chìa khóa cạnh tranh mà còn là lý do tồn tại của các doanh nghiệp này. Kết quả đổi mới được đánh giá qua hai chiều: kết quả kinh tế (doanh thu, lợi nhuận, thị phần) và kết quả bền vững (mức độ thân thiện môi trường, hiệu quả nguồn lực, tác động xã hội). Ngoài ra, đăng ký sáng chế được sử dụng như thước đo đổi mới, đặc biệt phổ biến ở doanh nghiệp quy mô lớn.

1.1. Khái niệm và vai trò của đổi mới sáng tạo sản phẩm

Đổi mới sáng tạo sản phẩm là quá trình tạo ra sản phẩm mới hoặc cải tiến đáng kể sản phẩm hiện có về tính năng, vật liệu, thành phần hoặc đặc tính kỹ thuật. Đây là loại đổi mới trực tiếp tạo ra giá trị thị trường. Trong bối cảnh DNKH&CN Việt Nam, đổi mới sáng tạo sản phẩm thể hiện qua công nghệ mới hoặc sản phẩm được tạo ra theo phương thức đổi mới. Vai trò của nó không chỉ dừng ở tăng trưởng doanh thu mà còn giúp doanh nghiệp duy trì tư cách pháp lý và các ưu đãi từ nhà nước.

1.2. Phân loại kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm

Kết quả đổi mới sáng tạo được phân loại theo hai hướng chính. Kết quả kinh tế tập trung vào tăng trưởng doanh thu, cải thiện biên lợi nhuận, mở rộng thị phần và nâng cao sự hài lòng khách hàng. Kết quả bền vững đánh giá mức độ thân thiện môi trường của sản phẩm, khả năng giảm ô nhiễm, tối ưu hóa vòng đời và tác động xã hội tích cực. Nghiên cứu của Rauter và cộng sự (2019) chỉ ra rằng doanh nghiệp hiện đại cần cân bằng cả hai chiều kết quả này để phát triển bền vững.

II. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm

Nghiên cứu xác định nhiều nhóm nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong DNKH&CN Việt Nam. Các nhân tố nội bộ bao gồm năng lực R&D, nguồn nhân lực chất lượng cao, văn hóa doanh nghiệp khuyến khích sáng tạo và khả năng huy động vốn đầu tư cho nghiên cứu. Năng lực hấp thụ tri thức từ bên ngoài cũng là nhân tố then chốt, thể hiện qua khả năng tiếp nhận, chuyển hóa và ứng dụng tri thức mới vào quy trình phát triển sản phẩm. Về phía nhân tố bên ngoài, chính sách hỗ trợ của nhà nước đóng vai trò quan trọng, đặc biệt các ưu đãi thuế theo Nghị định 13/2019 tạo động lực mạnh mẽ. Môi trường cạnh tranh thị trường, áp lực từ đối thủ và nhu cầu khách hàng thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới liên tục. Hợp tác với viện nghiên cứu, trường đại học và các đối tác trong hệ sinh thái đổi mới cũng mang lại nguồn tri thức và công nghệ quan trọng. Sự kết hợp hài hòa giữa các nhân tố nội lực và ngoại lực quyết định tốc độ và chất lượng đổi mới sản phẩm.

2.1. Nhân tố nội bộ doanh nghiệp tác động đến đổi mới

Năng lực R&D nội bộ là nền tảng của đổi mới sáng tạo sản phẩm. Doanh nghiệp đầu tư mạnh cho nghiên cứu phát triển có xu hướng tạo ra nhiều sản phẩm mới hơn. Nguồn nhân lực có trình độ cao, đặc biệt đội ngũ kỹ sư và nhà khoa học, trực tiếp quyết định chất lượng đổi mới. Văn hóa tổ chức khuyến khích thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát giúp nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo. Cấu trúc tổ chức linh hoạt, quy trình ra quyết định nhanh cũng là lợi thế cạnh tranh quan trọng trong đổi mới sản phẩm.

2.2. Nhân tố môi trường bên ngoài tác động đến đổi mới

Chính sách nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi hoặc cản trở đổi mới sáng tạo. Các ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính và bảo hộ sở hữu trí tuệ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào R&D. Cường độ cạnh tranh thị trường buộc doanh nghiệp phải liên tục cải tiến để duy trì thị phần. Sự sẵn có của hệ sinh thái đổi mới gồm viện nghiên cứu, trường đại học, quỹ đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp hỗ trợ tạo ra mạng lưới tri thức và nguồn lực quan trọng cho DNKH&CN.

III. Phương pháp nghiên cứu và mô hình đo lường các nhân tố

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng để đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy. Giai đoạn định tính sử dụng phỏng vấn chuyên sâu với lãnh đạo DNKH&CN và chuyên gia Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm xây dựng thang đo và kiểm tra tính phù hợp của mô hình lý thuyết. Giai đoạn định lượng thu thập dữ liệu từ mẫu đại diện các DNKH&CN trên cả nước, sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình phương trình cấu trúc (SEM). Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp (RBV), lý thuyết năng lực động và lý thuyết hệ thống đổi mới quốc gia. Thang đo kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm được phát triển theo hai chiều: kết quả kinh tế và kết quả bền vững. Các biến kiểm soát bao gồm quy mô doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, lĩnh vực công nghệ và vùng địa lý hoạt động nhằm kiểm soát các yếu tố nhiễu trong phân tích.

3.1. Xây dựng thang đo và thu thập dữ liệu nghiên cứu

Thang đo các nhân tố ảnh hưởng được xây dựng qua quy trình nghiêm ngặt gồm tổng quan tài liệu quốc tế, tham khảo ý kiến chuyên gia và kiểm định thí điểm. Bảng hỏi khảo sát được thiết kế theo thang Likert 5 mức, đo lường nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp về mức độ tác động của từng nhân tố. Dữ liệu được thu thập từ các DNKH&CN đã được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận, đảm bảo tính đồng nhất của mẫu nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo lĩnh vực công nghệ được áp dụng.

3.2. Phân tích mô hình cấu trúc và kiểm định giả thuyết

Mô hình SEM cho phép kiểm định đồng thời các mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố và kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm. Phân tích CFA xác nhận giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo. Kiểm định Bootstrap được sử dụng để đánh giá độ bền vững của mô hình. Phân tích đa nhóm (multi-group analysis) kiểm tra sự khác biệt về tác động của các nhân tố theo quy mô doanh nghiệp và lĩnh vực công nghệ hoạt động, cung cấp góc nhìn chi tiết cho từng phân khúc doanh nghiệp.

IV. Kết luận và hàm ý chính sách cho doanh nghiệp KH CN Việt Nam

Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm có giá trị về các nhân tố thúc đẩy đổi mới sáng tạo sản phẩm trong bối cảnh DNKH&CN Việt Nam. Năng lực R&D nội bộ và năng lực hấp thụ tri thức được xác nhận là hai nhân tố có tác động mạnh nhất, nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu tư dài hạn vào con người và công nghệ. Chính sách hỗ trợ của nhà nước có tác động tích cực nhưng cần cải thiện về tính nhất quán và hiệu quả thực thi. Hàm ý cho doanh nghiệp: cần xây dựng chiến lược R&D dài hạn, phát triển văn hóa học hỏi và đổi mới, tích cực tham gia hệ sinh thái đổi mới quốc gia. Hàm ý cho nhà hoạch định chính sách: cần đơn giản hóa thủ tục cấp chứng nhận DNKH&CN, tăng cường ưu đãi tài chính thực chất và xây dựng hạ tầng đổi mới quốc gia mạnh hơn. Kết quả nghiên cứu lấp đầy khoảng trống học thuật về đổi mới sáng tạo trong bối cảnh kinh tế chuyển đổi, đồng thời cung cấp công cụ đo lường thực tiễn cho cộng đồng nghiên cứu và quản lý.

4.1. Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án đóng góp hệ thống thang đo được kiểm định trong bối cảnh Việt Nam cho nghiên cứu đổi mới sáng tạo sản phẩm. Về lý thuyết, nghiên cứu tích hợp ba trường phái lý thuyết RBV, năng lực động và hệ thống đổi mới trong một mô hình thống nhất phù hợp với nền kinh tế chuyển đổi. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp bằng chứng định lượng giúp nhà quản trị doanh nghiệp ưu tiên nguồn lực đầu tư hiệu quả hơn. Đây là một trong số ít nghiên cứu quy mô lớn về DNKH&CN Việt Nam với phương pháp nghiêm ngặt.

4.2. Khuyến nghị chính sách thúc đẩy đổi mới trong DNKH CN

Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý theo hướng tạo thuận lợi thực chất cho DNKH&CN, không chỉ dừng ở ưu đãi thuế mà cần hỗ trợ tiếp cận vốn R&D, mua sắm công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tăng cường liên kết giữa viện trường và doanh nghiệp thông qua các chương trình đặt hàng nghiên cứu cụ thể. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về DNKH&CN phục vụ theo dõi, đánh giá và hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về đổi mới sáng tạo sản phẩm và các nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo sản phẩm Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Bàn luận về kết quả nghiên cứu và khuyến nghị 7. Những đóng góp mới của luận án Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận - Thứ nhất, luận án đã vận dụng kết hợp hai lý thuyết đổi mới sáng tạo mở (open innovation) và quan điểm dựa trên thể chế (IBV) để xây dựng mô hình nghiên cứu đánh giá các tác động của các nhân tố nội sinh và ngoại sinh tương ứng tới đổi mới sáng tạo sản phẩm ở cấp độ doanh nghiệp. - Thứ hai, dựa trên lý thuyết về đổi mới sáng tạo mở (Chesbrough, 2003; 2006; 2014) và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, luận án này bổ sung xây dựng và kiểm định độ tin cậy của thang đo của cả ba cơ chế đổi mới sáng tạo mở: hướng vào, hướng ra, kết hợp trong bối cảnh nghiên cứu các doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam.

Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu của luận án - Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận án về mối quan hệ tích cực giữa đổi mới sáng tạo mở và đổi mới sáng tạo sản phẩm, nghiên cứu gợi ý rằng các doanh nghiệp khoa học và công nghệ nên dịch chuyển mô hình hoạt động từ phía thực hiện các hoạt động đổi mới sáng tạo khép kín sang phía thực hiện các hoạt động đổi mới sáng tạo mở. Cụ thể, các nhà quản lý doanh nghiệp nên tích cực hơn nữa trong việc mở cửa ranh giới hoạt động của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam đối với các chủ thể bên ngoài, để khai thác các nguồn lực có sẵn bên ngoài và tìm kiếm các đối tác để kết hợp trong các hoạt động đổi mới sáng tạo. - Thêm vào đó, kết quả của nghiên cứu của luận án cũng không phủ nhận vai trò quan trọng của R&D nội bộ đối với đổi mới sáng tạo sản phẩm vì đầu tư cho R&D nội 11 bộ có tác động đến sự thành công về mặt thị trường của đổi mới sáng tạo sản phẩm. Vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược phù hợp và cân bằng giữa đầu tư cho hoạt động R&D nội bộ và hoạt động đổi mới sáng tạo mở để có thể nâng cao khả năng hình thành đổi mới sáng tạo sản phẩm cũng như tăng được tỉ trọng doanh thu từ sản phẩm mới và mức độ mới của sản phẩm mới.

- Cuối cùng, kết quả nghiên cứu của luận án cũng khẳng định vai trò tích cực của hỗ trợ Nhà nước tới đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoạch định và tổ chức thực thi những chính sách công nhằm hỗ trợ, cung cấp ưu đãi cho DNKH&CN để kích thích họ đổi mới sáng tạo sản phẩm. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO SẢN PHẨM VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO SẢN PHẨM 1. Tổng quan nghiên cứu về đổi mới sáng tạo 1. Tổng quan nghiên cứu về khái niệm và vai trò của đổi mới sáng tạo 1.

Khái niệm đổi mới sáng tạo ĐMST (innovation) được coi là tiền đề tạo ra lợi thế cạnh tranh và có tính quyết định đối với sự tồn tại và phát triển không chỉ trong ngắn hạn mà còn mở đường cho tương lai lâu dài của mọi doanh nghiệp. Những nghiên cứu trước về ĐMST đã chỉ ra rằng ĐMST giúp tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp vì nó giảm giá thành và cải thiện chất lượng của sản phẩm/dịch vụ đang có và tạo ra các sản phẩm/dịch vụ mới hoặc cung cấp mô hình kinh doanh hay cách thức phân phối hàng hoá tốt hơn (Hauser và cộng sự, 2006). Vì thế, ĐMST là điều kiên tiên quyết để duy trì sự phát triển bền bững của doanh nghiệp trên thị trường trong nước hay quốc tế (Drucker, 2006). Schumpeter (1926) đã phân biệt giữa khái niệm sáng chế (invention) và đổi mới sáng tạo.

Sáng chế là một ý tưởng hoặc mô hình cho một sản phẩm, quy trình hoặc công nghệ mới hoặc cải tiến. ĐMST là một sản phẩm, quy trình hoặc công nghệ mới hoặc được cải tiến, và thành công về mặt thương mại trên thị trường. Vì vậy, thành công về mặt thương mại là điều kiện cần thiết để một sáng chế trở thành ĐMST (trích dẫn trong De Jong và Brower, 1999, tr 14). Kể từ lần đầu tiên được đề cập đến trong nghiên cứu của học giả Schumpeter như là “những cách phối hợp mới” (new combinations) hay “sự huỷ diệt mang tính sáng tạo” (creative destruction) (trích dẫn trong Lundvall, 2012, tr 9), thuật ngữ ĐMST (innovation) trở thành một khái niệm khoa học thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các học giả.

Keith & Theodore (1984, tr 1) định nghĩa “ ĐMST là quá trình bắt đầu với một sáng chế, tiếp theo là phát triển sáng chế này, và cuối cùng tạo ra kết quả là đưa ra thị trường các sản phẩm mới, quy trình mới hoặc dịch vụ mới”. Cụ thể hơn, Damanpour & Wischnevsky (2006) đề cập tới ĐMST như là sự phát triển và sử dụng các ý tưởng hay hành vi mới trong tổ chức. Ý tưởng mới có thể là một sản phẩm, dịch vụ hoặc phương pháp sản xuất mới (đổi mới kỹ thuật) hoặc là một thị trường, cơ cấu tổ chức hoặc hệ thống quản trị mới (đổi mới quản trị hay ĐMST cơ cấu tổ chức). Trong khi đó, Lundvall (2012, tr 9) cho rằng ĐMST là một quá trình “tích tụ bồi đắp” (cummulative), bao gồm việc liên tục học tập, tìm kiếm và khám phá để hình thành 13 nên các sản phẩm mới, các kỹ thuật mới, các hình thức tổ chức mới và thị trường mới.

Quy trình này diễn ra với tất cả tổ chức trong nền kinh tế, có thể quá trình này xảy ra nhanh chóng và có tính đột phá hay chậm và thay đổi dần dần. Nhìn chung có rất nhiều định nghĩa về ĐMST được đưa ra, ví dụ trong nghiên cứu tổng quan của mình, Edison và cộng sự (2013) và De Jong & Brower (1999) đã tổng quan được hơn 50 định nghĩa về đổi mới sáng tạo, một vài định nghĩa được liệt kê trong hai nghiên cứu tổng quan trên được chỉ ra trong bảng dưới đây. Một số khái niệm đổi mới sáng tạo Acs & Audretsch (1988) ĐMST là một quá trình bắt đầu với một sáng chế, tiến hành phát triển các sáng chế và dẫn đến việc giới thiệu một sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ mới cho thị trường. Damanpour (1992) ĐMST được định nghĩa là việc áp dụng một ý tưởng hoặc hành vi cho dù là một hệ thống, chính sách, chương trình, thiết bị, quy trình, sản phẩm hoặc dịch vụ mới đối với tổ chức áp dụng.

de Jong & Kemp (2003) Hành vi ĐMST có thể được định nghĩa là tất cả các hành động đơn lẻ hướng đến việc tạo ra, giới thiệu và áp dụng những đặc tính mới có lợi ở bất kỳ cấp độ tổ chức nào. Fruhling & Keng (2007) ĐMST là một ý tưởng, thực hành hoặc đối tượng được coi là mới đối với một cá nhân hoặc một đơn vị áp dụng khác. Geiger & Cashen (2002) ĐMST là việc tạo ra sản phẩm mới trong công ty. Hage (1999) ĐMST đã được định nghĩa một cách nhất quán là việc áp dụng một ý tưởng về hành vi mới đối với tổ chức.

Sự đổi mới có thể là một sản phẩm mới, một dịch vụ mới, một công nghệ mới hoặc một phương thức hành chính mới. Palmberg (2004) ĐMST được định nghĩa là một sản phẩm mới về mặt công nghệ hoặc được cải tiến đáng kể so với sản phẩm trước đây của công ty đã được thương mại hóa trên thị trường. Dibrell và cộng sự. (2008) Các ĐMST có mức độ phức tạp khác nhau và có thể bao gồm từ những thay đổi nhỏ đối với các sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ hiện có đến đột phá van Dale, 1992 Giới thiệu một cái gì đó mới; đổi mới về công nghệ hay công nghiệp Buijs, 1987 Sự thích nghi và dự đoán của một tổ chức đối với những thay đổi của môi trường Timmerman, 1985 Sự phát triển và giới thiệu thành công các sản phẩm, dịch vụ, quy trình làm việc mới hoặc cải tiến; đổi mới cũng liên quan đến những thay đổi trong tổ chức, thị trường mới và cải tiến phong cách lãnh đạo Vrakking & Cozijnsen, Mọi đổi mới được thiết kế và thực hiện để củng cố vị thế của một 1992 tổ chức so với các đối thủ cạnh tranh và về lâu dài sẽ dẫn đến lợi thế cạnh tranh Nguồn: Edison và cộng sự (2013, tr.

1395) và De Jong & Brower (1999, tr 14) 14 Tại Việt Nam, thuật ngữ ĐMST được nhắc đến là là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa (Luật Khoa học và công nghệ, 2013). Khái niệm của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế OECD có thể coi là định nghĩa được chấp thuận và sử dụng rộng rãi bởi nhiều nhà nghiên cứu (Phan Thị Thục Anh, 2016). OECD (2005, tr 46) nêu rằng “ĐMST là sự thực thi áp dụng một sản phẩm (hàng hoá hay dịch vụ) hoặc quy trình mới hay cải tiến đáng kể, một phương pháp marketing mới hay là phương thức tổ chức mới trong thực tiễn hoạt động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ với bên ngoài”. Nghiên cứu này cũng sẽ sử dụng định nghĩa của OECD (2005) do tính phổ biến trong nhiều nghiên cứu và điều tra khảo sát về ĐMST trên thế giới và tại Việt Nam.

Vai trò của đổi mới sáng tạo Trong bối cảnh toàn cầu hoá và môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh, vòng đời của sản phẩm và công nghệ ngày càng trở nên ngắn hơn, ĐMST (innovation) giữ một vai trò trung tâm đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của từng quốc gia và địa phương. ĐMST là tiền đề tạo ra lợi thế cạnh tranh và có tính quyết định đối với sự tồn tại và phát triển không chỉ trong ngắn hạn mà còn mở đường cho tương lai lâu dài cho các doanh nghiệp, ĐMST giúp cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh với những đối thủ khác trên thị trường và bước chân vào những thị trường mới (Becheikh và cộng sự, 2006; Edison và cộng sự, 2013).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ