Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ luật học: “Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” do nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Hậu thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Đình Nhã; thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 9 38 01 04.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát (VKS) là vấn đề trọng yếu nhưng trong thời gian dài chưa được nghiên cứu toàn diện xuất phát từ ba phương diện:

  • Về phương diện lý luận: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người bằng hoạt động xét xử của Tòa án hoặc bảo đảm quyền con người thông qua chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung. Nhiều vấn đề lý luận còn bỏ ngỏ hoặc chưa được nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt là nội hàm khái niệm hoạt động chứng minh buộc tội của chủ thể buộc tội (đặc biệt là VKS), mối quan hệ giữa hoạt động chứng minh buộc tội của VKS với việc thực hiện quyền được suy đoán vô tội, quyền chứng minh vô tội, quyền không tự buộc tội chính mình, quyền bào chữa và nguyên tắc tranh tụng nhằm xác định sự thật vụ án.
  • Về phương diện luật thực định: Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 bộc lộ nhiều quy định bất cập, mang tính nhận thức chủ quan như căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam tại Điều 79 quy định chung chung; quy định tại khoản 4 Điều 209 chỉ dừng lại ở việc ngầm thừa nhận quyền im lặng. Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã bước đầu khắc phục bằng việc ghi nhận quyền không tự buộc tội (điểm d khoản 1 Điều 58, điểm c khoản 2 Điều 59, điểm d khoản 2 Điều 60, điểm h khoản 2 Điều 61), song việc vận hành các quy định này xuyên suốt các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vẫn cần được giải quyết thấu đáo về mặt lý luận.
  • Về phương diện thực tiễn: Cơ chế bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội còn thiếu tính khả thi; chưa định vị rõ vai trò kép của VKS – vừa là cơ quan công tố thực hiện chức năng buộc tội, vừa là cơ quan chịu trách nhiệm bảo đảm quyền con người xuyên suốt quá trình tố tụng. Thực tế từ năm 2009 đến năm 2018 vẫn xảy ra nhiều vụ án oan, sai do bức cung, nhục hình, vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội (như các vụ án Nguyễn Thanh Chấn tại Bắc Giang, Huỳnh Văn Nén tại Bình Thuận, Trần Văn Đỡ tại Sóc Trăng). Thực trạng này đã được chỉ rõ tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị, Báo cáo số 870/BC-UBTVQH13 ngày 20/05/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Báo cáo số 11/VKSTC ngày 19/01/2015 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền con người và các quyền tố tụng của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của VKS ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; nhận diện các hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của ngành Kiểm sát, góp phần phòng ngừa oan sai và chống bỏ lọt tội phạm.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế về bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội, xác định những khoảng trống lý luận và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam.
  • Nhiệm vụ 2: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa, cơ sở, yếu tố tác động, yêu cầu và phương thức bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của VKS; làm rõ mối quan hệ giữa quyền không tự buộc tội, quyền suy đoán vô tội với trách nhiệm chứng minh buộc tội; xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền con người.
  • Nhiệm vụ 3: Phân tích, đánh giá thực tiễn 10 năm (2009–2018) hoạt động của VKS trong việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; chỉ rõ kết quả đạt được, tồn tại, thiếu sót và nguyên nhân; gắn với việc thực hiện Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/03/2000 của Bộ Chính trị về trách nhiệm pháp lý của VKS đối với công tác bắt, giam, giữ.
  • Nhiệm vụ 4: Xác định quan điểm định hướng và đề xuất các nhóm giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động của VKS ở các giai đoạn tố tụng hình sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiếp cận trên ba phương diện: (1) Lý luận (học thuyết triết học, luật học, nhân quyền học, tội phạm học, khoa học điều tra tội phạm, lý luận chứng cứ và chứng minh); (2) Pháp luật thực định (Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và các đạo luật tư pháp liên quan); (3) Thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, trọng tâm là VKS.
  • Phạm vi nội dung: Hoạt động bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của VKS ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm; có liên hệ thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm). Đề tài không đi sâu vào đặc điểm nhân thân riêng biệt của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, người nước ngoài hoặc người dân tộc thiểu số.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát số liệu và thực tiễn trong giai đoạn 10 năm, từ năm 2009 đến năm 2018.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn tố tụng trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung nghiên cứu sâu tại địa bàn trọng điểm là Thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan ở trong nước và nước ngoài theo từng nhóm nội dung:

Nhóm 1: Lý luận, pháp luật về quyền con người và nguyên tắc tố tụng bảo đảm quyền con người
- Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người (Nguyễn Đăng Dung đồng chủ biên, 2009).
- Bài viết của Lê Hữu Thể & Nguyễn Thị Hương (2017), Phạm Văn Hùng (2014), Tường Duy Kiên (2006).
- Công trình sách chuyên khảo về nguyên tắc suy đoán vô tội của Nguyễn Thành Long (2011); bài viết của Đào Trí Úc (2017).
- Luận án tiến sĩ về nguyên tắc bình đẳng của Nguyễn Đức Hạnh (2015); nguyên tắc tranh tụng của Nguyễn Văn Hiển (2011).
- Bài viết về tranh tụng và kỹ năng tranh luận của Nguyễn Văn Tuân (2009), Lê Đức Tiết (2005), Nguyễn Quang Hiền (2010).
- Các nghiên cứu về chức năng tố tụng của Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Đinh Thị Mai (2015), Nguyễn Trương Tín (2009).
- Thiết chế bảo đảm quyền con người của Chu Văn Tuấn trong sách do Võ Khánh Vinh chủ biên (2011).

Nhóm 2: Bảo đảm quyền bào chữa và quyền không tự buộc tội (quyền im lặng)
- Sách chuyên khảo về bảo đảm quyền bào chữa của Phạm Hồng Hải (1999).
- Luận án tiến sĩ so sánh pháp luật Việt Nam - Đức - Mỹ của Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011).
- Bài viết của Hà Thái Thơ & Huỳnh Xuân Tình (2016).
- Các nghiên cứu về quyền im lặng và quyền không tự buộc tội của Võ Văn Tài & Trịnh Anh Tuấn (2015), Võ Minh Kỳ (2017), Bùi Tiến Đạt (2015), Lê Quang Thành (2015), Nguyễn Trọng Hải (2017).

Nhóm 3: Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát và phòng ngừa bức cung, nhục hình, oan sai
- Các bài viết về trách nhiệm công tố gắn với điều tra và tranh tụng của Bùi Mạnh Cường (2017), Trần Công Phàn (2018).
- Giám sát tư pháp và giám sát xã hội của Lê Thị Nga (2012), Nguyễn Huy Phượng (2009), Nguyễn Trương Tín (2008).
- Bảo vệ quyền con người qua hoạt động công tố và kiểm sát của Phạm Mạnh Hùng (2011), Dương Thanh Biểu (2012), Đỗ Văn Thân (2018).
- Các nghiên cứu trước của chính tác giả Nguyễn Hữu Hậu: Luận văn thạc sĩ (2000), các bài báo khoa học (2015, 2017).
- Quyền kháng nghị của Nguyễn Huy Tiến (2014); điều tra án xâm phạm hoạt động tư pháp của Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2014).
- Phòng, chống tra tấn, minh oan và bồi thường oan sai của Nguyễn Thùy Dương (2014), Nguyễn Ngọc Chí (2010), Nguyễn Ngọc Chí & Đào Thị Hà (2003).

Nhóm 4: Các nghiên cứu nước ngoài và so sánh pháp luật
- Nghiên cứu mô hình tố tụng và cơ chế bảo đảm quyền tại Hoa Kỳ (vai trò Bồi thẩm đoàn, quyền im lặng), Liên bang Nga (trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong suy đoán vô tội), Cộng hòa Pháp (trách nhiệm của luật sư, bảo vệ người khuyết tật, đặc quyền tùy nghi truy tố).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Luận án chỉ ra các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả quy phạm luật thực định, tiếp cận đơn ngành, nhìn nhận các giai đoạn tố tụng như những tầng nấc buộc tội nhằm trừng trị tội phạm. Hầu hết các công trình chưa giải quyết được mâu thuẫn lý luận: Tại sao VKS là cơ quan giữ quyền công tố, thực hiện chức năng buộc tội nhưng lại đồng thời mang nghĩa vụ thu thập chứng cứ gỡ tội, tự mình bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội và kiểm sát các cơ quan khác tuân thủ pháp luật. Luận án tập trung lấp đầy khoảng trống này bằng cách phân tích chuyên sâu hoạt động chứng minh buộc tội của VKS gắn liền với nghĩa vụ bảo đảm quyền không tự buộc tội và quyền được suy đoán vô tội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Cơ sở lý luận nền tảng: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp; lý luận về quyền con người trong tư pháp hình sự, mô hình tố tụng, chức năng tố tụng, lý thuyết nhận thức luận và chân lý khách quan; lý luận về chứng cứ và hoạt động chứng minh.
  • Khái niệm then chốt:
    • Quyền con người trong tố tụng hình sự: Những khả năng mà chủ thể tham gia tố tụng được làm, được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.
    • Người bị buộc tội: Bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015).
    • Hoạt động chứng minh buộc tội của VKS: Quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để xác định sự thật khách quan, làm căn cứ đưa ra nhận định, quyết định buộc tội, đồng thời tôn trọng quyền không tự buộc tội và quyền bào chữa của người bị buộc tội.
    • Phân biệt cơ chế: Thể chế (hệ thống quy phạm pháp luật, quy tắc ràng buộc) và Thiết chế (hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng); Phân định giữa "Bảo vệ", "Bảo hộ" và "Bảo đảm pháp lý" quyền con người.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Viện kiểm sát có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ gì trong việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội?
  2. Viện kiểm sát bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội bằng những phương thức nào, phát hiện và xử lý vi phạm ra sao; người bị buộc tội tự bảo vệ mình bằng cách thức nào?
  3. Những yếu tố nào tác động, điều kiện nào cần thiết và những rào cản nào đang cản trở hoạt động bảo đảm quyền con người của VKS?
  4. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội hiện nay được xác định như thế nào?
  5. Cần thực hiện những giải pháp khả thi nào để tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội?

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp hệ thống, quy nạp, diễn dịch, phân tích, so sánh và tổng hợp: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm xây dựng hệ thống khái niệm, luận điểm lý luận.
  • Phương pháp thống kê, khảo sát, phân tích số liệu thực tiễn: Sử dụng tại Chương 3 để xử lý các báo cáo nghiệp vụ của ngành Kiểm sát nhân dân giai đoạn 2009–2018.
  • Phương pháp nghiên cứu điển hình (case study): Phân tích các vụ án cụ thể để đánh giá kỹ năng xét hỏi, tranh luận và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và tọa đàm chuyên gia: Trao đổi ý kiến với các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư và các nhà khoa học pháp lý.
  • Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận liên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự, tiếp cận đa ngành khoa học xã hội và tiếp cận lịch sử cụ thể.
  • Nguồn dữ liệu: Văn kiện của Đảng (Nghị quyết 08, 49, 48, Chỉ thị 53); Báo cáo giám sát của Quốc hội (Báo cáo số 870/BC-UBTVQH13); Báo cáo tổng kết công tác ngành Kiểm sát (Báo cáo số 11/VKSTC) và hệ thống văn bản pháp luật thực định Việt Nam cùng các chuẩn mực quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương này đánh giá toàn diện các công trình trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài. Luận án phân tích các nghiên cứu về nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng, quyền im lặng, quyền bào chữa, cũng như các công trình về tổ chức và hoạt động của Viện Công tố/Viện kiểm sát tại một số quốc gia (Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp). Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây phần lớn nghiên cứu quyền con người ở khía cạnh tĩnh (quy phạm) hoặc chỉ nhìn nhận vai trò bảo vệ quyền con người ở Tòa án hay Cơ quan điều tra, chưa giải quyết thấu đáo vai trò chủ động của VKS trong hoạt động chứng minh buộc tội. Từ đó, chương 1 xác định 4 vấn đề lý luận và 2 vấn đề thực tiễn cần tiếp tục làm rõ trong các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát

Chương 2 xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về đề tài:

  • Luận giải khái niệm, bản chất của quyền con người trong tố tụng hình sự và phân tích địa vị pháp lý của 4 nhóm người bị buộc tội: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can (quy định tại Điều 179 BLTTHS 2015 về thời hạn phê chuẩn quyết định khởi tố bị can 24 giờ/3 ngày) và bị cáo (theo Thông tư 16/TT-TANDTC ngày 27/09/1974).
  • Phân tích ranh giới giữa các khái niệm “Bảo vệ”, “Bảo hộ” và “Bảo đảm pháp lý” quyền con người; làm rõ nghĩa vụ kép của VKS trong việc vừa thu thập chứng cứ buộc tội vừa thu thập chứng cứ gỡ tội.
  • Khẳng định mối quan hệ giữa quyền không tự buộc tội với trách nhiệm chứng minh: người tiến hành tố tụng không được ép buộc người bị buộc tội đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc nhận mình có tội.
  • Thiết lập hệ thống tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền con người của VKS và lược khảo lịch sử hình thành, phát triển chế định này trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Chương 3: Thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát

Chương này tổng kết thực tiễn 10 năm (2009–2018) qua các số liệu thống kê nghiệp vụ của ngành Kiểm sát trên phạm vi toàn quốc và địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các dữ liệu được xử lý qua 6 bảng thống kê chính:

Ký hiệu bảng Nội dung thống kê thực tiễn giai đoạn 2009–2018
Bảng 3.1 a VKS bảo đảm quyền con người qua phê chuẩn việc bắt, tạm giữ, khởi tố 10 năm (2009–2018)
Bảng 3.1 b Bảo đảm quyền con người qua việc không phê chuẩn và hủy bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật
Bảng 3.2 VKS bảo đảm quyền con người giai đoạn điều tra
Bảng 3.3 VKS bảo đảm quyền con người giai đoạn truy tố
Bảng 3.4 VKS bảo đảm quyền con người giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự 10 năm (2009–2018)
Bảng 3.5 VKS bảo đảm quyền con người qua hạn chế án trả điều tra bổ sung 10 năm

Tác giả phân tích các tồn tại, hạn chế thực tế: việc lạm dụng tạm giam đối với tội ít nghiêm trọng, vi phạm thời hạn tạm giữ/tạm giam, chậm trễ giải quyết yêu cầu của luật sư, hiện tượng mớm cung, bức cung, nhục hình của một số điều tra viên dẫn đến bị cáo phản cung tại tòa; tình trạng thu giữ vật chứng tràn lan hoặc làm mất mát, hư hỏng vật chứng; hạn chế trong công tác giám định kỹ thuật hình sự (giám định dấu vết sinh học máu, lông, tóc). Nguyên nhân được chỉ ra gồm cả yếu tố chủ quan (năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ) và yếu tố khách quan (quy định pháp luật chưa chặt chẽ, thiếu chế tài khi Cơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu của VKS theo Điều 114).

Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

Chương 4 đưa ra hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Quan điểm định hướng: Quán triệt nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền con người, tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo đảm quyền tranh tụng bình đẳng và nâng cao trách nhiệm giải trình của VKS.
  • Giải pháp hoàn thiện pháp luật: Đề xuất sửa đổi, bổ sung BLTTHS và ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ liên ngành nhằm làm rõ căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn, hoàn thiện cơ chế bắt buộc ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung; quy định cụ thể chế tài xử lý khi cơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu điều tra của VKS; hoàn thiện giáo trình lý luận nghiệp vụ kiểm sát.
  • Giải pháp tăng cường hoạt động nghiệp vụ của VKS: Gắn công tố với hoạt động điều tra; kiểm sát chặt chẽ việc bắt, tạm giữ, tạm giam; thực hiện nghiêm túc quyền năng yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; nâng cao kỹ năng tranh luận, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa trên cơ sở tài liệu, chứng cứ khách quan.
  • Các giải pháp khác: Nâng cao chất lượng giám định tư pháp, tăng cường giám sát của cơ quan dân cử (Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp; kịp thời tổ chức minh oan, bồi thường thiệt hại và xử lý nghiêm cán bộ có hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp gây oan sai.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 5 đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp 1 (Lý luận cơ bản): Lần đầu tiên xây dựng một cách hệ thống hệ thống khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa, cơ sở, yếu tố chi phối, yêu cầu và phương thức bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của VKS ở cả bốn giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
  2. Đóng góp 2 (Quyền không tự buộc tội): Phân tích và làm sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ giữa quyền không tự buộc tội với trách nhiệm chứng minh buộc tội. Khẳng định nguyên tắc: cơ quan tiến hành tố tụng tuyệt đối không được yêu cầu người bị buộc tội thực hiện hành vi tự buộc tội (trực tiếp hoặc gián tiếp) khi họ thực hiện nghĩa vụ tố tụng; đồng thời xác lập bộ tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền con người trong thực tiễn tư pháp.
  3. Đóng góp 3 (Cơ chế và quyền năng của VKS): Đưa ra nhận thức khoa học mới về cơ chế bảo đảm bằng các biện pháp pháp lý khi VKS thực hiện các quyền năng: quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền kháng nghị, quyền khởi tố và yêu cầu khởi tố; thông qua hai phương thức bảo đảm đặc thù là trực tiếp kiểm sát và gián tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật để kịp thời phát hiện, xử lý và phòng ngừa vi phạm.
  4. Đóng góp 4 (Tổng kết thực tiễn 10 năm): Đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội qua hoạt động chứng minh của VKS giai đoạn 2009–2018; chỉ rõ những kết quả cụ thể (qua việc không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật) cùng những sai phạm, khiếm khuyết trong công tác tạm giữ, tạm giam, giám định và chứng minh tội phạm.
  5. Đóng góp 5 (Hệ thống giải pháp): Xác định hệ thống quan điểm và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS, quy chế nghiệp vụ ngành Kiểm sát và nâng cao hiệu quả hoạt động chứng minh buộc tội gắn liền với chống oan sai, bảo vệ quyền con người trong tình hình mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

Theo công bố của tác giả trong văn bản, luận án có những giới hạn nghiên cứu nhất định:

  • Luận án không nghiên cứu sâu các đặc điểm nhân thân đặc thù của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, người nước ngoài hoặc người dân tộc thiểu số.
  • Về phạm vi thủ tục tố tụng, luận án tập trung chủ yếu vào các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm (nơi hoạt động buộc tội được thực hiện trực tiếp trước khi bản án có hiệu lực pháp luật); chưa giải quyết toàn diện vấn đề người bị kết án có quyền được suy đoán vô tội hay không và sự tồn tại của hoạt động buộc tội tại thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu mối quan hệ giữa trách nhiệm chứng minh buộc tội của VKS với việc bảo đảm quyền không tự buộc tội (quyền im lặng) trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể.
  • Nghiên cứu cơ chế thực hiện các quyền năng pháp lý của VKS (yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, khởi tố vụ án hình sự) để phòng ngừa và xử lý hành vi xâm phạm quyền con người.
  • Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định mới của BLTTHS năm 2015 sau thời gian thi hành nhằm phát hiện các vướng mắc phát sinh để kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời.
  • Khảo sát và đánh giá tính khả thi của các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của VKS trong thực tiễn tố tụng hình sự.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Đối với cơ quan lập pháp và các cơ quan tư pháp Trung ương: Cung cấp cơ sở lý luận và cứ liệu thực tiễn để tiếp tục sửa đổi, bổ sung BLTTHS, ban hành các thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về quyền không tự buộc tội, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm tranh tụng.
  • Đối với cán bộ ngành Kiểm sát (Kiểm sát viên, Kiểm tra viên): Là tài liệu tham khảo nghiệp vụ hữu ích trong việc thực hành quyền công tố, kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam, kỹ năng xây dựng hồ sơ chứng cứ buộc tội/gỡ tội và kỹ năng tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, phúc thẩm.
  • Đối với các cơ sở đào tạo luật và nghiên cứu sinh, học viên cao học: Luận án là nguồn tài liệu học thuật giá trị phục vụ giảng dạy, học tập chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự, đặc biệt là các chương trình đào tạo chuyên sâu về quyền con người trong tư pháp hình sự và lý luận về chứng cứ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định người bị buộc tội gồm những ai theo quy định pháp luật hiện hành?

Theo điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 được luận án viện dẫn, người bị buộc tội gồm 4 nhóm chủ thể: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo. Luận án phân tích cụ thể từng đối tượng: người bị bắt (bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang, theo lệnh truy nã, tự thú, đầu thú hoặc bắt theo lệnh tạm giam); người bị tạm giữ (theo Điều 59); bị can (người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố hình sự theo Điều 179) và bị cáo (người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử).

2. Viện kiểm sát bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội qua những phương thức và quyền năng nào?

VKS thực hiện việc bảo đảm quyền con người thông qua hai phương thức: trực tiếp kiểm sát và gián tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp hình sự. Để hiện thực hóa các phương thức này, VKS sử dụng các quyền năng pháp lý luật định bao gồm: quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền kháng nghị, quyền khởi tố vụ án hình sự và quyền yêu cầu khởi tố nhằm phát hiện, khắc phục và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật tố tụng.

3. Mối quan hệ giữa quyền không tự buộc tội và nghĩa vụ chứng minh của Viện kiểm sát được luận giải ra sao?

Luận án khẳng định nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, trọng tâm là VKS. Người bị buộc tội có quyền không tự buộc tội (không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội theo BLTTHS 2015). Do đó, các chủ thể tiến hành tố tụng khi áp dụng các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ tuyệt đối không được yêu cầu hoặc ép buộc người bị buộc tội thực hiện các hành vi tự buộc tội dưới bất kỳ hình thức nào.

4. Dữ liệu thực tiễn trong luận án được khảo sát trong thời gian nào và tập trung vào những nội dung gì?

Dữ liệu thực tiễn được luận án khảo sát trong giai đoạn 10 năm (2009–2018) trên phạm vi cả nước và trọng điểm là TP. Hồ Chí Minh. Các dữ liệu tập trung vào việc VKS bảo đảm quyền con người thông qua: phê chuẩn/không phê chuẩn việc bắt, tạm giữ, khởi tố; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật; kiểm sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và kiểm soát tình trạng án bị trả điều tra bổ sung.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Hậu đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát. Trên cơ sở tổng hợp số liệu thực tiễn 10 năm (2009–2018) và phân tích các quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, công trình đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa trách nhiệm công tố với việc tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền không tự buộc tội. Hệ thống các quan điểm định hướng và giải pháp do luận án đề xuất có giá trị ứng dụng cao đối với tiến trình cải cách tư pháp và nâng cao chất lượng hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân.