CHƯƠNG 1. TONG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH VA SỰ CỐ XÂY RA Chương này giới thiệu vẻ lưu vực sông Hoàng Long, dự án và cong trình, đặc điểm làm việc của tràn Lạc Khoái và sự cố sảy ra ở trần sự cố, Vấn 48 cấp thiết cần nghiên cứu và ứng dụng cho thực tế 'CHƯƠNG 2. NGHIÊN COU, LUA CHỌN PHƯƠNG PHAP TÍNH TOÁN ON ĐỊNH. Chương nà tổng hợp các phương pháp tính toán ổn định về thấm, ổn inh về trượt mái đốc.
So sánh và lựa chọn phương pháp nghiên cứu, inh toán cho dé tài CHUONG 3. ÁP DỤNG TÍNH TOÁN KIEM TRA ON ĐỊNH TRAN LẠC KHOÁI VÀ ĐỂ XUẤT BIEN PHÁP ON ĐỊNH Dùng phương pháp tính toán ổn định đã lựa chọn, tính toán kiểm tra lại sự cố sat trượt trần Lạc Khoái và dé xuất biện pháp khắc phục. Dé xuất giải pháp ổn định tràn sự cố qua dé. KIEN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN Nêu nên những kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, tồn tại của luận văn và kiến ngh.
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy. 3 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật _ CHUONG 1 TONG QUAN VỀ CÔNG TRINH VÀ SỰ CỔ XÂY RA OTRAN LẠC KHOÁT 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LƯU VỤC SÔNG HOÀNG LONG [1] 1. Đặc điểm chung Lưu vực sông Hoàng Long với diện tích 1.550 km? (trong đó diện tích.
đá vôi là 295km”) là hợp lưu của 3 con sông: Sông Boi, sông Đập và sông Lạng. Sông Hoàng Long bắt nguồn từ vùng đổi núi của tỉnh Hoà Bình chảy qua 2 huyện Nho Quan và Gia Viễn tỉnh Ninh Bình để hợp lưu vào song Diy tại Gián Khẩu. Luu vực sông Hoàng Long dài 125km và rộng 15,5km, độ cao trung. bình lưu vực 173m, độ đốc trung bình lưu vực 9,6% và mật độ lưới sông O,81km/km*.
Chiều dai sông kể từ Hưng Thi đến Gián Khẩu là 63,2km và đoạn sông chảy qua khu Bắc Ninh Bình dài khoảng 10km. Đây là con sông. lớn nhất của tinh Ninh Bình, có chế độ thuỷ văn rất da dạng: + Mực nước mùa kiệt phụ thuộc vào nước dénh lên từ sông Đáy do ảnh hưởng thuỷ triéu và lượng nước bổ sung vào sông Đáy từ sông Đào Nam Định. + Mùa lũ, nước lũ từ thượng du đổ vẻ đến khu vực nghiên cứu thường bị đồn ứ do mực nước lũ trên sông Day.
Khi mực nước lũ trên sông Hoàng Long dang cao để bảo vệ hệ thống dé hạ du sông Hoàng Long thì phải phân ũ vào các khu phân chậm lũ. “Thời kỳ mùa lũ, sông Hoàng Long vừa bị tác động của lữ thượng nguồn của 3 nhánh: Song Boi, song Dap và sông Lạng dồn vẻ. Mặt khác còn chịu tác động rất lớn của lũ sông Day, lũ sông Hồng phân qua sông đào Nam Định. Tổ hợp của 3 dạng lũ này khá phức tạp, ít khi xuất hiện đồng bộ 3 dạng lũ lớn nhất, Nhưng thường gặp ở dang lũ trung bình và mức nước cao làm cản trở việc tiêu thoát lũ của sông Hoàng Long, nhất là 2 huyện Nho Quan và Gia Viễn.
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy. h Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 1. Hệ thống khu phán, chậm và ngập la 1. Khu thường xuyên chịu lit Bao gồm 5 xã huyện Nho Quan (Xích Thổ, Gia Son, Gia Lâm, Gia.
“Thuỷ, Phú Sơn và 1 phần xã Lạc Van) và vùng ngoài đê của các huyện Nho Quan và huyện Gia Viễn. Khu phân lũ sac Khoái Khu phan lũ sông Hoàng Long qua tràn Lạc Khoái gồm 12 xã trong đó có 4 xã thuộc huyện Gia Viễn (Gia Lạc, Gia Phong, Gia Sinh và Gia Minh), 8 xã thuộc Huyện Nho Quan (Thượng Hoà, Sơn Thành, Thanh Lạc, Sơn Lai, Quỳnh Lưu, Phú Sơn, Văn Phú và Văn Phương) với tổng diện tích tự nhiên là 9.530 ha, điện tích đất canh tác 5.169 ha, dân số trong vùng 55. Nước lũ vào khu phân lũ sau đó chảy vào sông Bến Đang sau đó chảy ra sông Đáy ở cửa Vac. Dung tích trữ của khu ở cao trình +4,0m khoảng 18 triệu mỀ nước, 1.
Khu chậm lũ Gia Tường- Đức Long Cham lũ sông Hoàng Long qua tràn Gia Tường và trần Đức Long. Khi phan lũ ảnh hưởng đến 3 xã với 2.609 ha tự nhiên, 1.576 hộ bị ngập sâu. Sau khi phân, nước lũ lại quay trở lại sông Hoàng Long qua các cống dưới dé và mực nước trong khu chậm lũ phụ thuộc vào mực nước sông Hoàng Long. Khu Đâm Cit Phan lũ từ sông Hoàng Long (tran Mai Phương) sang sông Bay (Cống Dich Long) qua khu vực Mai Phương - Đầm Cait - Dich Long.
Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy. $ Luận văn thạc sĩ kỹ thuật — “Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy. Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 'Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy. hạc sĩ kỹ thuật BAN ĐỒ PHƯƠNG AN PHAN CHAM LŨ LƯU VỤC SÔNG HOANG LONG Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy.
8 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 1. Đặc điểm địa hình, địa chất của lưu vực sông Hoàng Long 1. Đặc điểm địa hình: Lim vực có địa hình da dang: Có vùng đổi núi, nữa đổi núi, đổi núi xen lần niộng trăng, đồng bằng. Diễn biến lòng sông phức tạp, có hướng đốc tạo hướng thoát nước chính ra sông Đáy, sông Càn và Biển.
Mat cất ngang sông Hoàng Long từ Bến Đế đến Gián Khẩu: “Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy. 9 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật SDHLCÔOUNAGY Chuyên ngành: Xây đựng công trình thay Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy. 40876532 100 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 200 700 KLJthạroácíi 600 ‘50 CLHsắonôàg-ta 400 300 200 100 + 6 ‘Chuyén ngành: Xây dựng công trình thủy. Luận văn thạc sĩ kỹ thuật soo 400 ÂLtvruê-ịí 300 CLHsắnoôgàta 200 100 “Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy.
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 600 YTktvLHsCrnoôêắưgàè-ịờaí 500 400 300 200 100 ‘Chuyén ngành: Xây dựng công trình thủy. Luận văn thạc sĩ kỹ thuật ‘50 CÂtLHshvnorắôag-uàịí 400 300 200 100 ‘Chuyén ngành: Xây dựng công trình thủy. Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 4oo KCGTtvLHshắnoirôẩgaVá-ịạíum 350 300 250 200 4150 400 50 ‘Chuyén ngành: Xây dựng công trình thủy. Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 300 KCGlTLHshắnoiẩôưgàau-tợ: 250 200 450 100 50 2 6 Chuyên ngành: Xây đựng công trình thay Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 200 KCGHhLsoiầắnôẩag-ut 150 400 50 Chuyên ngành: Xây đựng công trình thay Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 200 KCGlHLshắinoưôga-àutạ 150 400 so “Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy.
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 1. Dac điểm dia chất: Địa chất vùng nghiên cứu khá phức tap, chủ yếu là trim tích có 3 hệ chính: hệ Triát (T), hệ Neogen (N) và hệ Đệ Tứ (Q), - Hệ Triat (T) với oi xuất hiện trên điện rộng cả ở khu vực đồng bằng và hấu hết khu vực bán sơn địa, đổi núi. Trong khu vực đá vôi thường có nhiều hang nước, mỏ nước, nguồn sinh thuỷ và mất nước khó xác định. Việc tính toán thuỷ văn, phương án và kết cấu công trình là gặp nhiều khó khăn.
- Hệ Neogen Hệ ting Hang Mon (N/` - N;" hm), lộ ra một điện nhỏ khoảng vài km” ở gần ga Đồng Gi: Mặt cất hệ ting gồm 2 phân + Phân dưới gồm cuội kết, cát kết, day 100m, + Phần trên chủ yếu là bột kết xen cát kết và sét voi dày 100 - 150m, chứa 4 via than dang thấu kính có bẻ dày 0,1. Than khá rin chắc, giá trị công nghiệp hạn chế vì trữ lượng ít. - Hệ Đệ Tứ, bao gồm các hệ ting trầm tích, phân bố trên toàn tỉnh Ninh Bình, việc xây dựng công trình đều cẩn phải xem xét, xử lý do ổn định kém, độ mất nước lớn (do đất pha cát va dat cat). Tình hình ngập lụt Mưa sinh lũ trên sông Hoàng Long thường xảy ra vào tháng 9, tháng 10 muộn hơn lũ song Hồng, hiện tại đã nhỏ di nhiều do việc xây dựng các hổ chứa Suối Hai, Đồng Mô - Ngai Sơn va nhiều hổ chứa nhỏ khác.
Lũ sông Hoàng Long đồn vẻ hạ du sông Hoàng Long (Bắc Ninh Bình) rất nhanh song việc thoát ra lại phụ thuộc vào lũ song Hồng sang và lũ sông, ‘Day về cùng với thuỷ triều, thường chậm và bị dồn ứ lại duy trì mực nước cao cđài ngày tạo ra một khu vực ngập rộng lớn như là hổ chứa điều tiết (Xích Thổ, Gia Tường, Gia Thuỷ). Có những năm lũ lớn để bảo vệ cho hạ du buộc phải phan lũ vào khu hữu Hoàng Long. Theo số liệu thống ké từ năm 1960 đến nay, t trận lũ tháng 9/1985, 8/1996 và 10/2007 được xem là c: c trận lũ lớn nhất đã xuất hiện trên sông Hoàng Long và đã gây thiệt hại rất lớn cho Ninh Bình. Có thể nêu diễn biến các trận lũ lớn này như sau Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy.
20 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật * Trận lũ lịch sử tháng 9/1985: Lượng mưa đo được tại Nho Quan 743 mm; Ninh Bình 503 mm; mực nước lớn nhất tại Bến DE là +5,24 m. Mặc dù đã phải phân, chậm lũ vào khu Gia Tường - Đức Long, hữu Hoàng Long nhưng dé tả Hoàng Long vẫn bị trần và vỡ. * Trận lũ tháng 9/1996: Mục nước đỉnh lũ tại Bến Để là +4,81 m. Da phải han lũ vào khu hữu Hoàng Long, khi mức nước sông Hoàng Long mấp mé đỉnh phần mềm đã được tôn cao của trần Lạc Khoái tới cao trình +4,7 m.
* Trận la tháng 10/2007: Do có mưa lớn ở thượng nguồn, gây lũ lớn trên sông Hoàng Long. Khi mực nước lũ trên sông Hoàng Long tại Bến Đế dat đến +4.40 m, lúc 17 giờ ngày 5/10/2007 đã phải xả lũ qua tran Gia Tường, Đức Long vào khu chậm lũ Gia Tường - Đức Long. Đến 21 giờ cùng ngày, mực nước tại Bến Để là +4,96 m phải xả lũ qua tràn Lạc Khoái và khu hữu Hoàng Long. Mực nước lũ tai Bến Đế tiếp tục lên đến đỉnh là +5,17 m lúc 0 giờ ngày 6/10/2007 và bất đầu hạ xuống, Một vài hình ảnh trước và sau vỡ trần Lạc Khoái trận lũ tháng 10/2007: Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy.
2 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Lực lượng quản Chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy. Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Va tran Lạc Khodi khi nước song Hoàng Long tran qua đỉnh đập So sánh giữa hai trận lũ tháng 9/1985 và trận lũ tháng 10/2007 cho thấy, trận lũ tháng 9/1985 do mưa lớn trên toàn lưu vực sông Day gây lên, còn trận lũ tháng 10/2007 do mưa lớn trên thượng nguồn sông Hoàng Long (tại Hưng ‘Thi lượng mưa 3 ngày đo được là 518 mm), mưa nội đồng lại không lớn tại "Nho Quan lượng mưa 3 ngày đo được là 146.0 mm, ở Ninh Bình là 84,4 mm.