Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đoàn Thị Ngọc Hải thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Đăng Hiếu, được hoàn thành tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2024. Công trình thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, tiếp cận theo hướng nghiên cứu định tính dựa trên phân tích quy phạm pháp luật, lịch sử lập pháp, phương pháp so sánh luật học và tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Sự phát triển của khoa học y học, công nghệ sinh học và giải phẫu học đã tạo điều kiện cho việc cấy ghép mô, bộ phận cơ thể người nhằm hồi sinh sự sống cho người bệnh suy mô, tạng giai đoạn cuối. Trên phương diện quốc tế, việc hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể và hiến, lấy xác được điều chỉnh bởi các văn kiện của Tổ chức Y tế Thế giới (Nghị quyết của WHO năm 2004), Tuyên bố toàn cầu về đạo đức sinh học và quyền con người của UNESCO, và Công ước về bảo vệ quyền con người và nhân phẩm trong ứng dụng y sinh học năm 1997 (Công ước Oviedo). Tại Việt Nam, quyền này đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013, luật hóa tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006. Tuy nhiên, ranh giới giữa hoạt động nhân đạo với nguy cơ thương mại hóa mô, tạng còn tiềm ẩn nhiều phức tạp, quy định pháp luật bộc lộ những lỗ hổng và rào cản từ nhận thức xã hội, đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu toàn diện dưới góc độ luật dân sự.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật dân sự và thực tiễn thực hiện quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác tại Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật dân sự điều chỉnh quan hệ nhân thân này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích các vấn đề lý luận: lịch sử phát triển, khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, các yếu tố tác động và nội dung pháp lý của quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác trong pháp luật dân sự Việt Nam.
    2. Làm rõ thực trạng pháp luật dân sự Việt Nam về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác trên cơ sở so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế.
    3. Phân tích thực tiễn thực hiện và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật dân sự về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác.
  • Đối tượng nghiên cứu:
    • (i) Các quan điểm, công trình nghiên cứu, học thuyết pháp lý liên quan đến quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam.
    • (ii) Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam liên quan đến quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác.
    • (iii) Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, các bản án và số liệu thống kê liên quan.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Luận án nghiên cứu quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác dưới góc độ quyền con người, quyền nhân thân trong luật dân sự; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành.
    • Về không gian và thời gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn áp dụng Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2024), có tham chiếu lịch sử lập pháp từ năm 1989 và kinh nghiệm pháp luật quốc tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật và phân loại các công trình khoa học trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài nghiên cứu:

Nhóm công trình Tác giả, năm công bố Tên công trình / Đơn vị công bố Nội dung chính và giá trị tiếp thu
Luận án, luận văn trong nước Lê Đình Nghị (2008) Luận án TS: Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam (ĐH Luật Hà Nội) Lý luận về quyền nhân thân và cơ chế bảo vệ quyền nhân thân trong luật dân sự.
Phạm Tiến Quân (2017) Luận án TS: Nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán chết não của Việt Nam trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nặng (ĐH Y Hà Nội) Cung cấp luận cứ y học và thực tiễn đánh giá tiêu chuẩn chết não phục vụ việc lấy tạng.
Nguyễn Thị Thúy (2014) Luận văn ThS: Quyền hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt Nam hiện hành (Khoa Luật - ĐHQGHN) Đưa ra định nghĩa bộ phận cơ thể người và phân tích tiến trình lập pháp về quyền hiến bộ phận cơ thể.
Hoàng Thị Minh Du (2008) Luận văn ThS: Một số khía cạnh pháp lý liên quan đến vấn đề hiến bộ phận cơ thể người (ĐH Luật Hà Nội) Khái niệm, nguyên tắc và phân loại bộ phận cơ thể người trong quan hệ dân sự.
Phạm Thu Hồng (2014) Luận văn ThS: Phong tục, tập quán Việt Nam trong mối quan hệ với những quy định về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (ĐH Luật Hà Nội) Phân tích tác động của phong tục tập quán đến việc thực hiện quyền hiến mô, tạng và hiến xác.
Đề tài khoa học Phùng Trung Tập (Chủ nhiệm, 2008) Đề tài cấp trường: Quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật dân sự (ĐH Luật Hà Nội) Hệ thống hóa lý luận quyền nhân thân của cá nhân và quyền hiến bộ phận cơ thể sau khi chết.
Phùng Trung Tập (Chủ nhiệm, 2011) Đề tài cấp trường: Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể và hiến xác của cá nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (ĐH Luật Hà Nội) Phân tích lý luận, quy định pháp luật và các yếu tố ảnh hưởng đến quyền hiến mô, tạng và hiến xác.
Nguyễn Hoàng Phúc (Chủ nhiệm, 2021) Đề tài cấp Bộ Y tế: Đánh giá thực trạng đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện chính sách hiến, ghép mô, tạng ở Việt Nam hiện nay Phân tích chính sách, đánh giá thực trạng triển khai và đề xuất giải pháp chính sách hiến, ghép tạng.
Sách chuyên khảo Khoa Luật - ĐHQGHN (2011) Sách: Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người (NXB Lao động - Xã hội) Cung cấp hệ thống văn kiện quốc tế về quyền con người và quyền bất khả xâm phạm thân thể.
Phùng Trung Tập (Chủ biên, 2013) Sách: Quyền hiến, lấy xác và bộ phận cơ thể người (NXB Hà Nội) Luận giải khái niệm quyền, rào cản phong tục tập quán và tín ngưỡng tôn giáo.
Trịnh Hồng Sơn (Chủ biên, 2017) Sách: Hoạt động của Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, giai đoạn 2013-2016 (NXB Giáo dục Việt Nam) Cơ chế điều phối ghép tạng, nguyên tắc của WHO và mô hình tổ chức của Pháp và Việt Nam.
Nguyễn Văn Huy (Chủ biên, 2019) Sách: Quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam (NXB Tư pháp) Thực trạng pháp luật dân sự về quyền hiến, nhận mô, tạng và bảo vệ nhóm cá nhân dễ bị tổn thương.
Trịnh Hồng Sơn (Chủ biên, 2021) Sách: Ghép tạng và chết não (NXB Y học) Quy trình lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh chết não, số liệu người cho chết não và bất cập pháp lý.
Nguyễn Hoàng Phúc (Chủ biên, 2017) Sách: Tập hợp hóa một số văn bản pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, tạng của một số nước trên thế giới và Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia - Sự thật) Cung cấp tài liệu so sánh pháp luật của Hoa Kỳ, Pháp, Tây Ban Nha, Anh, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc...
Bài báo và kỷ yếu hội thảo Jacky Clauquin (2006); Lê Thế Trung (2006); Bùi Đức Hiển (2008); Phạm Công Lạc (2008); Vũ Thị Hồng Yến (2008); Trần Thị Huệ (2013); Phùng Trung Tập (2014); Nguyễn Hoàng Phúc (2017, 2018a, 2018b, 2021); Trần Thị Trang (2021); Đặng Hồng Nam (2021); Lê Văn Trung (2021); Đồng Văn Hệ (2021). Các bài báo trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Luật học, Tạp chí Y học và Bỏng, và Kỷ yếu Hội thảo Đánh giá chính sách pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, tạng (11/2021). Phân tích các khía cạnh chuyên sâu: nguyên tắc vô danh, bảo hiểm y tế, chính sách chi trả viện phí, độ tuổi hiến, áp dụng tập quán, thực tiễn tại các bệnh viện (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức).
Công trình nước ngoài Alexandra K. Glazier (2018); Clin J Am Soc Nephro (2018); Ajigboye Mayowa Oyeniy (2018); Won Hyun Cho (2019); Wolf Rommel & Hartmut H J Schmidt (2010); Nupur Nadir; Law of the Russian Federation; Sonya Norris. Các bài viết và đạo luật từ Hoa Kỳ (Đạo luật UAGA), Úc, Hàn Quốc, Đức (Đạo luật Ghép tạng 1997), Ấn Độ, Liên bang Nga, Canada. Khung pháp lý về đạo luật quà tặng giải phẫu, mô hình tổ chức điều phối quốc gia và tỷ lệ hiến tạng sau chết.
  • Khoảng trống luận án giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trước đã đề cập đến một số khía cạnh riêng lẻ của việc hiến ghép mô, tạng, nhưng chưa có công trình nào xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác dưới góc độ quyền nhân thân trong luật dân sự. Cụ thể, các công trình trước chưa phân tích đầy đủ các đặc điểm pháp lý đặc thù, chưa chỉ ra tác động của yếu tố khoa học công nghệ, chưa đề xuất bổ sung nguyên tắc vô danh và nguyên tắc tôn trọng cơ thể người, đồng thời chưa gắn kết việc đánh giá thực trạng pháp luật với các số liệu thực tiễn và bản án xét xử của Tòa án tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý thuyết và khung phân tích: Luận án dựa trên lý thuyết quyền con người, quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự. Khung phân tích của luận án tập trung vào cấu trúc của quan hệ pháp luật dân sự điều chỉnh quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, bao gồm:
    • Chủ thể: Người hiến (người sống, người chết não, người sau khi chết), người nhận, thân nhân gia đình và các cơ sở y tế, tổ chức tiếp nhận, điều phối.
    • Đối tượng: Mô, bộ phận cơ thể người và xác hiến (tính chất pháp lý đặc thù không phải là tài sản thông thường trong giao dịch thương mại).
    • Nguyên tắc pháp lý: Nguyên tắc tự nguyện, nguyên tắc phi thương mại, nguyên tắc mục đích nhân đạo/nghiên cứu khoa học, cùng hai nguyên tắc do luận án đề xuất bổ sung là nguyên tắc vô danh và nguyên tắc tôn trọng cơ thể người.
    • Cơ chế quản lý nhà nước: Hoạt động cấp phép, thanh tra, kiểm tra, đăng ký và điều phối ghép tạng quốc gia.
  • Phương pháp luận: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng định hướng cho toàn bộ quá trình nghiên cứu.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    1. Phương pháp phân tích, bình luận: Sử dụng để phân tích các văn bản quy phạm pháp luật dân sự hiện hành, các văn kiện quốc tế và các quan điểm học thuật nhằm làm rõ bản chất pháp lý của quyền nhân thân.
    2. Phương pháp phỏng vấn, tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng áp dụng pháp luật, tổng hợp dữ liệu từ các báo cáo chuyên ngành y tế, các cơ sở điều phối ghép tạng để phản ánh thực tiễn.
    3. Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với hệ thống pháp luật của các quốc gia (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Liên bang Nga, Úc, Hàn Quốc, Canada, Ấn Độ) nhằm tìm kiếm kinh nghiệm hoàn thiện quy định trong nước.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu:
    • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Nghị định số 23-HĐBT năm 1991.
    • Hồ sơ thực tiễn, báo cáo hoạt động của Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, các bệnh viện lớn (Việt Đức, Chợ Rẫy, Quân y 103, Quân y 108, Bạch Mai...).
    • Danh mục các bản án xét xử của Tòa án nhân dân tại Việt Nam liên quan đến tranh chấp và vi phạm trong lĩnh vực hiến, ghép tạng.
    • Danh mục các quyết định của Bộ Y tế công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện ghép mô, bộ phận cơ thể và hoạt động ngân hàng mô (lưu trữ noãn, tinh trùng, phôi, giác mạc).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các nội dung chính:

  • Lịch sử phát triển trong pháp luật dân sự Việt Nam:
    • Giai đoạn trước năm 1989: Quyền này chưa được pháp luật ghi nhận chính thức. Tuy nhiên, từ thập niên 50 của thế kỷ XX, các bác sĩ Việt Nam đã tiến hành ghép da, ghép giác mạc từ nguồn tử thi vô thừa nhận; đầu thập niên 70, GS. Tôn Thất Tùng đã thử nghiệm ghép gan, tim trên lợn. Nguyên nhân chưa có luật điều chỉnh gồm: đất nước tập trung nguồn lực cho hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; ảnh hưởng nặng nề của lễ giáo phong kiến và tập quán ma chay "chết phải toàn thây"; điều kiện kinh tế nghèo nàn và y học giải phẫu chưa phát triển.
    • Giai đoạn từ năm 1989 đến trước năm 2006: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 lần đầu tiên ghi nhận việc lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người tại Điều 30. Ngày 24/11/1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng kèm theo Nghị định số 23-HĐBT quy định cụ thể việc lấy mô, tạng từ người có di chúc, không có di chúc (được thân nhân đồng ý bằng văn bản) và tử thi vô thừa nhận. Ngày 04/06/1992, ca ghép thận đầu tiên tại Việt Nam được GS. Bác sĩ Lê Thế Trung và các bác sĩ Bệnh viện Quân y 103 thực hiện thành công.
    • Giai đoạn từ năm 2006 đến nay: Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 ra đời (có hiệu lực từ ngày 01/07/2007), tiếp đó là Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể và hiến xác là quyền nhân thân cơ bản của cá nhân.
  • Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa: Luận giải quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác là quyền nhân thân gắn liền với chủ thể, mang tính chất phi tài sản, được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ mục đích chữa bệnh nhân đạo và nghiên cứu khoa học.
  • Các yếu tố tác động đến việc thực hiện quyền:
    1. Phong tục, tập quán: Quan niệm "chết phải toàn thây", tâm lý sợ động chạm thân thể người quá cố gây cản trở lớn đối với việc hiến tạng sau khi chết. Nhiều trường hợp cá nhân tự nguyện đăng ký hiến nhưng thân nhân ngăn cản hoặc không báo cho cơ sở y tế khi họ qua đời.
    2. Tín ngưỡng, tôn giáo: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên coi thể xác người chết là nơi linh hồn trú ngụ. Tuy nhiên, các tôn giáo chính thống đều ủng hộ nghĩa cử hiến tạng: Đạo Phật coi đây là hạnh "bố thí nội tài" (như ý kiến của Thượng tọa Thích Nhật Từ, Đại đức Thích Bản Quyền); Kitô giáo khuyến khích hiến tặng qua Thông điệp Evangelium vitae của Giáo hoàng Gioan Phaolô II (xem hiến tạng là biểu hiện của tình yêu thương và sự hào hiệp).
    3. Trình độ dân trí và kinh tế - xã hội: Nhận thức dân trí quyết định mức độ cởi mở với nghĩa cử hiến tạng. Nền kinh tế phát triển giúp hoàn thiện hạ tầng y tế, trang thiết bị phẫu thuật và hệ thống an sinh, bảo hiểm y tế.
    4. Sự phát triển của khoa học công nghệ: Luận án chỉ rõ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật từ thời kỳ cấy ghép thực nghiệm trên động vật (bắt đầu từ thế kỷ XVII - XIX, các công trình của Emerich Ulmann năm 1902, Alexis Carrel năm 1912) đến thành tựu bảo quản mô, ức chế miễn dịch hiện đại là tiền đề trực tiếp thúc đẩy việc ghi nhận và mở rộng quyền này.
  • Nội dung pháp luật: Phân tích chủ thể (người hiến, người nhận, cơ sở y tế), đối tượng pháp lý (mô, tạng, xác), hệ thống nguyên tắc và cơ chế quản lý nhà nước.

Chương 2: Thực trạng pháp luật dân sự Việt Nam về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Chương 2 rà soát toàn diện các quy định của pháp luật thực định Việt Nam:

  • Quy định chung: Phân tích điều kiện chủ thể tham gia hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể và hiến xác (độ tuổi, năng lực hành vi dân sự); các quy định về quyền lợi, chế độ đãi ngộ đối với người hiến sống, người hiến sau chết và thân nhân gia đình (thẻ bảo hiểm y tế, khám sức khỏe định kỳ, hỗ trợ mai táng); quy định về hoạt động hiến máu, quản lý sản phẩm máu và lưu trữ tế bào gốc.
  • Quy định đối với cơ quan, tổ chức hỗ trợ: Đánh giá các tiêu chuẩn, điều kiện đối với cơ sở y tế được phép thực hiện phẫu thuật lấy, ghép tạng theo danh mục Bộ Y tế cấp phép; quy chế thành lập và hoạt động của các ngân hàng mô (lưu trữ tinh trùng, noãn, phôi, giác mạc); vai trò và chức năng pháp lý của Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.
  • Quy định về trình tự, thủ tục thực hiện quyền: Phân tích trình tự đăng ký hiến mô, tạng khi còn sống, đăng ký hiến sau khi chết và thủ tục hiến thi hài cho nghiên cứu khoa học; quy trình tiếp nhận, xác định chết não, hội đồng chẩn đoán chết não và kỹ thuật lấy mô, bộ phận cơ thể trên người sống, người chết não và lấy thi hài.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác

Chương 3 kết hợp phân tích thực tiễn với việc xây dựng hệ thống giải pháp:

  • Thực tiễn thực hiện pháp luật:
    • Đánh giá số liệu thực tế về các ca đăng ký hiến, số lượng ca lấy, ghép mô, tạng từ người cho sống và người cho chết não tại các bệnh viện (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108...).
    • Phân tích các rào cản thực tiễn trong công tác điều phối, hoạt động của ngân hàng mô, cũng như các vướng mắc khi thanh toán chi phí cấy ghép qua bảo hiểm y tế.
    • Phân tích thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân đối với các vụ việc vi phạm, tranh chấp dân sự hoặc các hành vi lợi dụng việc hiến tặng để mua bán bộ phận cơ thể người trái phép.
  • Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Hoàn thiện quy định chung: Sửa đổi, bổ sung Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 cho đồng bộ với Bộ luật Dân sự năm 2015; làm rõ phạm vi quyền đối với người chưa thành niên trong một số trường hợp cụ thể; bổ sung quy định cụ thể về chế độ bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khỏe suốt đời cho người hiến sống.
    • Hoàn thiện quy định đối với cơ quan hỗ trợ: Tăng cường thẩm quyền và cơ chế tài chính độc lập cho Trung tâm Điều phối quốc gia; hoàn thiện tiêu chuẩn pháp lý cho hệ thống ngân hàng mô.
    • Hoàn thiện về trình tự, thủ tục: Đơn giản hóa quy trình đăng ký hiến tạng (tích hợp vào căn cước công dân hoặc giấy phép lái xe); hoàn thiện tiêu chuẩn pháp lý xác định chết não và thời gian chờ lấy tạng.
    • Sửa đổi các quy định liên quan khác: Nâng cao chế tài đối với hành vi thương mại hóa tạng; hoàn thiện cơ chế tôn vinh người hiến và thân nhân người hiến tạng sau khi chết.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tự xác định các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý:

  1. Về lý luận:
    • Luận giải và xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác dưới góc độ quyền nhân thân trong luật dân sự.
    • Phân tích hệ thống các đặc điểm của quyền nhân thân này trong mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và cộng đồng.
    • Bổ sung và phân tích 4 nhóm yếu tố tác động đến việc thực hiện quyền, trong đó lần đầu tiên luận giải có hệ thống tác động của yếu tố phát triển khoa học công nghệ đối với việc ghi nhận quyền.
    • Đề xuất bổ sung hai nguyên tắc pháp lý quan trọng chưa được luật thực định quy định đầy đủ: nguyên tắc vô danh (giữ bí mật danh tính giữa người hiến và người nhận để phòng tránh thương mại hóa) và nguyên tắc tôn trọng cơ thể người.
    • Luận giải cơ chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực hiến, nhận mô, tạng và xác.
  2. Về thực tiễn và hoàn thiện pháp luật:
    • Cung cấp bức tranh toàn diện về những khoảng trống, bất cập của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 và các văn bản liên quan sau hơn 15 năm thi hành.
    • Sử dụng các số liệu thực tiễn và bản án xét xử thực tế của Tòa án để làm căn cứ minh chứng cho các vướng mắc pháp lý.
    • Đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi Luật năm 2006, đồng bộ hóa với Bộ luật Dân sự năm 2015, mở rộng nguồn hiến tạng hợp pháp và tăng cường bảo vệ quyền lợi người hiến.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ pháp luật dân sự Việt Nam trong khung khổ các quy định hiện hành đến năm 2024. Do tính chất phân định ngành luật, luận án chưa đi sâu phân tích toàn diện các khía cạnh cấu thành tội phạm trong pháp luật hình sự về tội mua bán mô, bộ phận cơ thể người.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành giữa pháp luật dân sự, hình sự và hành chính trong kiểm soát thị trường ngầm buôn bán nội tạng xuyên quốc gia.
    • Nghiên cứu khía cạnh pháp lý của các thành tựu y sinh học mới phát sinh như việc cấy ghép nội tạng nhân tạo, chỉnh sửa gen mô ghép và ứng dụng tế bào gốc chuyên sâu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều đối tượng:

  • Nhà lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành thuộc Bộ Y tế, Bộ Tư pháp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên luật học: Cung cấp nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về quyền nhân thân trong Luật Dân sự Việt Nam và phương pháp so sánh luật học.
  • Cán bộ quản lý y tế và y bác sĩ: Tham khảo quy định pháp lý, quy trình xác định chết não, thủ tục điều phối và lưu trữ mô tại các cơ sở y tế đủ điều kiện ghép tạng và ngân hàng mô.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải thích khái niệm "bố thí nội tài" trong Phật giáo như thế nào đối với việc hiến mô, tạng và hiến xác? Luận án dẫn giải quan điểm của Thượng tọa Thích Nhật Từ cho biết triết lý Phật giáo khích lệ lòng từ bi và xem sự sống trên cơ thể con người là "nội tài". Bên cạnh bố thí tài sản vật chất và tri thức, "bố thí nội tài" (hiến tặng mô, bộ phận cơ thể, thi hài) thể hiện tinh thần vô ngã, vị tha, tâm buông bỏ và đức hy sinh, mang lại phúc báo và không làm tổn hại đến sự tái sinh của người đã khuất.

2. Mốc lịch sử nào đánh dấu ca ghép thận đầu tiên thành công trên người tại Việt Nam được ghi nhận trong luận án? Luận án ghi nhận ngày 04/06/1992, ca ghép thận đầu tiên tại Việt Nam được GS. Bác sĩ Lê Thế Trung và tập thể bác sĩ tại Bệnh viện Quân y 103 (Học viện Quân y) thực hiện thành công sau khi tiếp thu kỹ thuật từ Cuba, mở ra bước ngoặt cho ngành ngoại khoa ghép tạng trong nước.

3. Hai nguyên tắc pháp lý nào được luận án đề xuất bổ sung vào luật thực định? Luận án đề xuất bổ sung hai nguyên tắc chưa được quy định rõ trong Luật năm 2006: (1) Nguyên tắc vô danh (bảo mật tuyệt đối thông tin danh tính giữa người hiến và người nhận nhằm ngăn chặn hiện tượng mua bán, trả thù lao trái pháp luật) và (2) Nguyên tắc tôn trọng cơ thể người (bảo vệ sự tôn nghiêm của thi thể trong suốt quá trình lấy mô, tạng và mai táng).

4. Bốn nhóm yếu tố tác động đến việc thực hiện quyền hiến, nhận mô, tạng và hiến xác được phân tích là gì? Bốn nhóm yếu tố gồm: (1) Phong tục, tập quán (quan niệm mai táng "chết phải toàn thây"); (2) Tín ngưỡng, tôn giáo (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, quan điểm của Phật giáo, Kitô giáo); (3) Trình độ dân trí và sự phát triển kinh tế - xã hội; (4) Sự phát triển của khoa học công nghệ (các tiến bộ kỹ thuật cấy ghép và chống thải ghép).

5. Văn kiện pháp lý quốc tế khu vực tiêu biểu nào được luận án dẫn chiếu về y sinh học? Luận án dẫn chiếu Công ước về bảo vệ quyền con người và nhân phẩm con người trong việc ứng dụng các tiến bộ y học và sinh học được thông qua ngày 04/04/1997 (Công ước Oviedo), khẳng định các nguyên tắc bảo vệ quyền con người và cấm thương mại hóa cơ thể người.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đoàn Thị Ngọc Hải đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng về quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác dưới góc độ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam. Công trình đã phân tích sâu sắc các yếu tố văn hóa, tôn giáo, khoa học kỹ thuật tác động đến việc thực thi quyền, đồng thời chỉ ra những bất cập của hệ thống luật thực định sau hơn 15 năm áp dụng Luật năm 2006. Dựa trên số liệu y tế thực tế, các bản án xét xử và kinh nghiệm quốc tế, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ góp phần hoàn thiện khung pháp lý và bảo đảm thực thi quyền con người trong lĩnh vực y sinh học tại Việt Nam.