phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết. 9 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án Chính sách dân tộc: Theo định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, chính sách dân tộc là bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay một nhà nước nhằm vạch ra những nguyên tắc, biện pháp đối xử và giải quyết vấn đề dân tộc trong một nước [74]. Như vậy, nội dung chính sách dân tộc của Đảng phải tác động, làm biến đổi thực sự bộ mặt kinh tế, xã hội, văn hoá của các vùng dân tộc và các dân tộc, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đưa các vùng dân tộc từ trình độ sản xuất và đời sống thấp từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và phát triển quan hệ dân tộc tốt đẹp trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển.
Tuy nhiên, đây là quá trình lâu dài, gian khổ và hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có sự chủ động, nhạy bén, sáng tạo trong việc xác định con đường, biện pháp, hình thức, bước đi thích hợp đối với từng vùng dân tộc. Chính sách dân tộc của Đảng là chính sách chung đối với tất cả các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Chính sách dân tộc hàm chứa nhiều nội dung, rất đa dạng, phong phú như: các chính sách về phát triển kinh tế, chính sách phát triển văn hoá, chính sách chính trị - xã hội, chính sách tôn giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số v.v… Do đó, đề tài “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010” là một vấn đề có tính chất liên ngành, vừa là vấn đề chính trị, vừa là vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội. Ở mức độ, góc độ nghiên cứu khác nhau, chính sách dân tộc cũng là đối tượng nghiên cứu của các ngành sử học, dân tộc học, xã hội học,… Trong quá trình khảo sát tư liệu, tác giả luận án nhận thấy vấn đề “Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở một số tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010” được đề cập đến nhiều trong các công trình, bài viết, song, có thể chia theo 04 nhóm như sau: 10 Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về dân tộc và chính sách dân tộc ở miền núi nói chung Có nhiều công trình, bài viết của các tác giả nghiên cứu về dân tộc và chính sách dân tộc, trong đó đề cập đến các vấn đề như dân số, đặc trưng văn hoá, kinh tế… của 54 dân tộc trong cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam.
Những công trình tiêu biểu đề cập đến vấn đề này như: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam [117], Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam [11]. Đề cập tới vấn đề bình đẳng dân tộc có các công trình Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay [2], Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp của [76]. Các công trình này đã khẳng định: “Thực hiện bình đẳng dân tộc là một nhu cầu rất to lớn trong tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam” [76, tr. Đồng thời chỉ rõ, đó còn là một nhân tố quan trọng đảm bảo cho xã hội Việt Nam ổn định và phát triển.
Trên cơ sở nêu rõ những nhận thức lý luận mới về dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc; đánh giá thực trạng tình hình kinh tế - xã hội và các quan hệ dân tộc; làm rõ những thành tựu và yếu kém, khuyết điểm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, các tác giả của các nghiên cứu này đã nhận định: Những bất cập, hạn chế trong việc giải quyết các quan hệ dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc đều có thể làm phát sinh những mâu thuẫn, những xung đột dân tộc và giữa các tộc người trong quá trình phát triển; gây tổn hại lớn tới khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở và kìm hãm sự phát triển của dân tộc và của từng tộc người; đồng thời, làm suy giảm và triệt tiêu nội lực, động lực phát triển chung của đất nước, của quốc gia - dân tộc. Từ việc tổng kết thực tiễn để phát hiện mâu thuẫn và tình huống, tác giả đã dự báo các xu hướng, đề xuất các giải pháp và nêu lên những khuyến nghị về chính sách và các vấn đề có liên quan tới sự phát triển của các tộc người, các quan hệ dân tộc, đoàn kết dân tộc ở nước ta. Cũng theo tác giả các công trình này, cùng với đổi mới nhận thức, xây dựng hệ thống chính trị và đào tạo nguồn nhân lực thì thực hiện tốt chính sách dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, được xem là giải pháp cơ bản để thực hiện công bằng, bình đẳng trong phát triển vùng đa tộc người ở Việt Nam hiện nay. 11 Những kết quả nghiên cứu nêu trên góp phần tạo tiền đề, luận cứ khoa học cho những quyết sách mới của Đảng và Nhà nước về vấn đề quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc hiện nay cũng như về sau.
Về giải quyết mối quan hệ dân tộc trong giai đoạn hiện nay có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay [9]; Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam [37]. Các công trình tiếp cận vấn đề chính sách dân tộc từ lý luận phát triển của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phác hoạ bức tranh tổng thể về xung đột dân tộc đang diễn ra trên thế giới; đồng thời, nêu lên các bài học kinh nghiệm và phương hướng giải quyết để hạn chế những xung đột tộc người. Đối với Việt Nam, các tác giả đã nêu lên thực trạng mối quan hệ dân tộc ở nước ta hiện nay vẫn còn tiểm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị để thực hiện tốt đường lối, chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cuốn sách Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền núi [26] đã dành một chương đánh giá vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam.
Trên cơ sở khái quát thực trạng kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, tác giả đưa ra những nhận thức và quan điểm cơ bản về chính sách dân tộc trong thời kỳ mới, trong đó khẳng định: phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở để thực hiện chính sách dân tộc. Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số chính là khâu then chốt - giải pháp có tính đột phá cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta nói chung, sự phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta nói riêng - đó là nhận định được rút ra từ cuốn sách Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Sách chuyên khảo) [42]. Tác giả khẳng định: Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn chiến lược về kinh tế - xã hội, môi trường, văn hoá, chính trị, an ninh, quốc phòng, tôn giáo, dân tộc và quan hệ quốc tế của đất nước. Vùng dân tộc thiểu số chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hoá vô giá phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tiềm năng và cơ hội phát triển của vùng 12 dân tộc thiểu số không chỉ mang ý nghĩa tự thân mà còn cho cả đất nước. Bên cạnh đó, vùng dân tộc đang phải đương đầu với những thách thức to lớn về phát triển, trước hết là thách thức về số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực. Trình độ dân trí thấp, thiếu hiểu biết, thiếu thông tin của người dân tộc thiểu số chính là mảnh đất màu mỡ cho các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Với nhận thức đó, cuốn sách chuyên khảo đã trình bày luận cứ lý thuyết và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số nước ta đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó, nêu lên kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số của một số nước trên thế giới như Canada, Trung Quốc.
Đồng thời, phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ đổi mới và rút ra nhận định quan trọng về vấn đề phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số, đã đóng góp vào việc cung cấp luận cứ và giải pháp cho phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số nước ta. Tóm lại, có thể thống kê nhiều hơn nữa các công trình loại này, song đây là những nghiên cứu tổng hợp, mang đến những nhận định khái quát về đặc điểm địa lý, văn hoá xã hội, về thành phần dân tộc và sự phân bố các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Từ đó, rút ra một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn về đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số; đồng thời, đóng góp cơ sở khoa học cho việc thực hiện tốt hơn chính sách bình đẳng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điểm thống nhất cơ bản của các nghiên cứu này là tiếp cận, nhìn nhận, giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, khi kiến giải từng vấn đề cũng có những khác biệt. Những công trình nghiên cứu trên cung cấp cơ sở lý thuyết, phương pháp luận và phần nào dữ liệu để triển khai nghiên cứu luận án. Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam Từ cuối những năm 1990 đến nay, chính sách dân tộc đã được các viện, nhóm học giả trong và ngoài nước nghiên cứu như cuốn sách Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá [120].