Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu lỗi sử dụng ngôn ngữ thứ 2 của người học ngoại ngữ Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về lỗi sử dụng ngôn ngữ thứ 2 (L2) của người học. Trước tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của ngành Phân tích đối chiếu [10], [57], [61].
Cũng phải nói ngay rằng, trước khi ngành Phân tích đối chiếu (CA- Contrastive Analysis) ra đời, hướng nghiên cứu về lỗi sử dụng ngôn ngữ thứ 2 - ngoại ngữ (L2) của người học (NH) ngoại ngữ chưa được giới nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm một cách thoả đáng. Ngành Phân tích đối chiếu ra đời khoảng giữa thế kỉ XIX và được tiếp nhận một cách rộng rãi nhằm đáp ứng yêu cầu dạy học L2, giúp người học (NH) nắm bắt ngoại ngữ một cách nhanh hơn, tốt hơn. CA đã lấy trường tâm lí hành vi luận (behaviorism) làm căn cứ lí luận khi đưa ra quan điểm: “lực cản duy nhất khiến người học ngoại ngữ không đạt kết quả như mong muốn là sự can thiệp không nên có của thói quen từ tiếng mẹ đẻ hay ngôn ngữ thứ nhất (L1) của người học; và tất cả lỗi trong quá trình học ngoại ngữ là do sự khác biệt giữa L1 và L2” [dẫn theo 24, tr. Cũng theo quan điểm của CA, “Sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ (L1 và L2) chẳng những là nguyên nhân sâu xa của lỗi mà còn là bức tường rào tạo ra những khó khăn cho người học” [dẫn theo 24, tr.
Chính vì vậy, việc đối chiếu L1 và L2, chỉ ra được sự khác nhau giữa chúng sẽ là chìa khoá giải quyết vấn đề phát hiện lỗi và sửa lỗi khi học ngôn ngữ thứ hai. Tuy nhiên, quan điểm về lỗi và khả năng tiên đoán tất cả các lỗi của lí thuyết ngành Phân tích đối chiếu đã gây ra sự hoài nghi về nguyên nhân gây lỗi của người học L2 trong giới nghiên cứu ngôn ngữ. Sự hoài nghi đó đã khơi dậy, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thúc đẩy hàng loạt các công trình nghiên cứu lỗi L2 của người học tiếng Anh ra đời vào đầu những năm 70, thế kỉ trước của các học giả nước ngoài. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu, như: - Công trình nghiên cứu các học viên người Đức mắc lỗi sử dụng L2 của tác giả Grauberg,W.
- Công trình nghiên cứu sinh viên đại học từ nhiều nước khác nhau mắc lỗi sử dụng L2 của tác giả George, H. - Công trình nghiên cứu trẻ em Tây Ban Nha mắc lỗi sử dụng L2 của Dulay, H and M. Burt (1984), “You can”t learn without goofing, An analysis of children”s second language errors”, in Error Analysis edited by Jack C. Richards, London and New York: Longman, 95-123 (Bạn không thể học mà không mắc lỗi, phân tích lỗi khi học ngôn ngữ thứ hai của trẻ, Phân tích lỗi, biên tập Jack C.
Richards, Nhà xuất bản Longman tại London và New York, 95-123). - Công trình nghiên cứu sinh viên Trung Quốc mắc lỗi sử dụng L2 của tác giả Tran Thi Chau (1974), “Error analysis, contrastive analysis and students” perception: a study of difficulty in second language learning”, International Review of applied Lingguistics 13, 43-119 (Phân tích lỗi, so sánh đối chiếu và nhận thức của người học: một nghiên cứu về những khó khăn khi học ngôn ngữ thứ hai, Tổng quan về Ngôn ngữ ứng dụng trên thế giới, số 13, 43-119). 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kết quả nghiên cứu của các công trình dẫn trên cho thấy, yếu tố L1 là một trong những nguyên nhân gây lỗi sử dụng L2 của người học. Chỉ có điều, tỉ lệ mắc lỗi do nguyên nhân chuyển di từ L1 không giống nhau giữa các nhà nghiên cứu và cũng chỉ chiếm một phần không lớn lắm.Grauberg, tỉ lệ mắc lỗi do sự khác biệt giữa L1 và L2 là 36%; của H.
George là 33%; của L.Mukattsh là 23%; còn của tác giả Trần Thị Châu là 51% và của tác giả H. Trước tình hình này, CA phải đối mặt với hai vấn đề: (1) Không lí giải được một cách thỏa đáng tất cả lỗi mà NH vi phạm, và (2) nhiều lỗi mà CA dự đoán NH sẽ vướng phải lại không tìm thấy trong thực tế. Từ đó CA không còn chiếm vị thế đỉnh cao như khi nó mới thành lập và biến thể thành một phiên bản thứ hai. Phiên bản thứ hai của CA chỉ thừa nhận khả năng giải thích một số lỗi của NH thông qua so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ.
Và đây cũng chính là tiền đề cho sự ra đời chính thức của phân ngành ngôn ngữ học ứng dụng Phân tích lỗi (Err or Analysis-EA) vào những năm 1970 nhằm khắc phục hạn chế của CA và hướng tới mục tiêu chính là giáo học pháp. Corder với các bài báo của mình [53] đã đặt nền móng cho phương pháp EA. Ngữ pháp tạo sinh cho rằng: (i) khả năng ngôn ngữ của con người là bẩm sinh, (ii) việc thụ đắc ngôn ngữ mẹ đẻ của trẻ em không qua cơ chế kích thích phản ứng mà thông qua quá trình kiến tạo giả thuyết của đứa trẻ khi được tiếp cận ngữ liệu, (iii) trong tiến trình như thế, đứa trẻ không ngừng kiểm nghiệm, điều chỉnh, bổ sung hay loại bỏ những giả thuyết của mình, và (iv) ở mỗi giai đoạn phát triển, ngôn ngữ của trẻ là có hệ thống [53, 20-21]. Ngoài quan điểm trên, S.
Corder [53, 166 - 170] còn cho rằng tiến trình phân tích lỗi gồm 6 công đoạn, là: chọn ngữ liệu phân tích, xác định câu có lỗi, phân loại, mô tả lỗi, giải thích lỗi và đánh giá. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gần đây, hướng nghiên cứu trên thế giới đã bắt đầu đi vào tìm hiểu lỗi trong từng kĩ năng, nhất là kĩ năng viết của người học (trên cứ liệu nghiên cứu lỗi của người học tiếng Anh). Có thể dẫn ra một số tác giả tiêu biểu như: - Cohen, A. (1987), "Student processing of feedback on their compositions” in Wendon, A.ac, retrieved on 6 October, 2005 (Viết ngôn ngữ thứ hai và nghiên cứu: quá trình viết và phân tích lỗi trong các bài viết của sinh viên, TESL-EJ 6 (2), www.ac, trích xuất ngày 6/10/2005).
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Johanne Myles, lỗi tỉ lệ thuận với mức độ phức tạp nội dung bài viết và bốn nguyên nhân chính gây ra lỗi trong khi viết là: 1) Chuyển di L1 (tức chuyển di tiếng mẹ đẻ), 2) Áp dụngthái quá quy tắc, 3) Người học không chắc chắn về nội dung ý tưởng (tức không xác định rõ nội dung bài viết), và 4) Thiếu nhận thức về câu, cấu trúc văn bản. Ở Việt Nam, trong hơn chục năm trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứu lỗi của người học ngoại ngữ (cũng dựa trên ngữ liệu lỗi của người học tiếng Anh), như: - Phạm Đăng Bình (2001), "Một số quan niệm khác nhau về lỗi trong quá trình dạy và học tiếng nước ngoài”, Ngôn ngữ, số 14, 59-66. - Phạm Đăng Bình (2002), "Thử đề xuất một cách phân loại lỗi của người học ngoại ngữ nhìn từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hoá”, Ngôn ngữ, số 9, 58-72. - Phạm Đăng Bình (2003), “Khảo sát lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hoá trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh”, Luận án TS Ngữ Văn.
Ngoài những công trình của tác giả Phạm Đăng Bình vừa dẫn, còn một số bài viết của một vài tác giả khác cũng bàn về lỗi của người Việt khi học tiếng Anh, xin dẫn ra dưới đây: - Cao Thị Thu (2004), "Phân biệt cách dùng một số động từ tiếng Anh thường bị mắc lỗi ở người Việt”, Ngôn ngữ, số 10, 72-77. - Trần Kim Phượng (2005), "Những lỗi thường gặp về trật tự từ ở người Việt học tiếng Anh”, Ngôn ngữ & Đời sống, số 10, 28-29. - Hoàng Tuyết Minh (2005), "Lỗi thường mắc của học viên người Việt khi sử dụng những động từ nhóm Become”, Hội thảo Quốc tế Ngôn ngữ học Liên Á VI, 444 - 451. - Đỗ Minh Hùng (2007), “Lỗi ngữ pháp tiếng Anh thường gặp của người Việt Nam”, Luận án TS Ngữ Văn, ĐHQG Tp HCM.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Phạm Xuân Bình, “… mặc dù việc học tiếng Anh ngoại ngữ đã có từ lâu, nhưng (chúng tôi thêm từ này - Phùng Thư Ấn) hoạt động nghiên cứu lỗi của người Việt học TA ngoại ngữ chưa nhiều, chưa có hệ thống, và cũng chưa có các đầu sách chuyên sâu về vấn đề này.” [ Dẫn theo 24, tr. Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Đăng Bình đã đánh dấu một bước tiến mới cần ghi nhận: tác giả đã phân tích lỗi của người học ngoại ngữ từ nhiều góc độ: Từ các lí thuyết của ngôn ngữ học cấu trúc hành vi luận, ngôn ngữ học chức năng, tâm lí học ngôn ngữ, ngôn ngữ học đối chiếu đến lí thuyết giao tiếp liên văn hoá đều được tác giả vận dụng để phân tích các kiểu lỗi. Phải khẳng định rằng, đóng góp quan trọng dễ nhận thấy của tác giả là đã đề xuất cách phân loại lỗi từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hoá chung cho tất cả các đối tượng học ngoại ngữ, bất kể người học có ngôn ngữ mẹ đẻ là gì.[6] Tác giả Lê Tuyết Ngọc [dẫn theo 24], qua khảo sát lỗi tiếng Anh của 100 sinh viên ở trường ĐH Công nghệ Hà Nội, đã chia các lỗi này thành 7 loại và qui về 3 nguyên nhân gây lỗi, là: 1) Chương trình và tài liệu giảng dạy không hoàn toàn thích hợp; 2) Giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn hoặc thiếu kinh nghiệm giảng dạy; và 3) Người học chưa được cung cấp đầy đủ kiến thức về ngữ pháp tiếng Anh và kĩ năng viết. Tác giả Đỗ Minh Hùng đã tập trung khảo sát ba bộ phận ngữ pháp thường mắc lỗi nhiều nhất trong sử dụng tiếng Anh của người học ngoại ngữ, cụ thể ở đây là lỗi của người Việt về sử dụng giới từ, mạo từ và thì dựa trên lí thuyết phân tích lỗi, ngữ hệ trung gian và chiến lược học tiếng của người học L2.
Tóm lại, việc nghiên cứu lỗi của người học ngoại ngữ đã được giới nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm nhưng vẫn còn chưa hoàn toàn đồng nhất về quan điểm, nguyên nhân mắc lỗi của người học ngoại ngữ. Các công trình chủ yếu là dành tìm hiểu những lỗi sử dụng L2 - ở đây là tiếng Anh - của người 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.