Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu nước ngoài 1. Nghiên cứu quản lý rừng ngập mặn Năm 2007, FAO đã xuất bản sách “RNM thế giới 1980 – 2005” [44], tác giả trích dẫn và dịch một số nội dung chủ yếu về quản lý RNM. Quản lý RNM ở Châu phi Ở các quốc gia Châu Phi, hầu như thiếu các quy định luật pháp thỏa đáng để bảo vệ và bảo tồn RNM.
Nước CH thống nhất Tanzania quy định RNM được bảo vệ bởi luật pháp. Tuy nhiên, Congo, Ai Cập, Kenya, Seychelles và Nam Phi lại là ngoại lệ. Mặc dù thiếu sự bảo vệ về mặt luật pháp, nhận thức về các loại dịch vụ và lợi ích mà RNM mang lại đang gia tăng, và một loạt các hành động ban đầu đang được tiến hành nhằm phục hồi và bảo vệ RNM địa phương. Quản lý RNM Châu Á Những mối đe dọa và mất RNM luôn luôn tiềm tàng ở các quốc gia Châu Á.
Tuy nhiên, nhận thức về tầm quan trọng của RNM cũng đang tăng lên ở khu vực này. Bangladesh, Malaysia và Việt Nam là những quốc gia có truyền thống lâu đời về quản lý bền vững, về các chương trình trồng và phục hồi RNM. Lấy ví dụ, ở Bangladesh, quản lý và bảo vệ RNM đã bắt đầu từ thế kỷ 20 với sự ra đời của kế hoạch quản lý RNM và những tiền đề để hình thành Khu bảo tồn rừng Sundarbans (Sundarbans Reserved Forest). Các chương trình phục hồi rừng ven biển cũng bắt đầu từ năm 1966 ở một vài huyện.
Nhiều quốc gia châu Á đang ngày càng nỗ lực thiết lập và duy trì các dải RNM như là “vành đai xanh” bảo vệ vùng ven biển khỏi hiểm họa thiên nhiên, đặc biệt các quốc gia chịu ảnh hưởng của các trận bão hủy diệt hàng năm (ví dụ Philippines và Việt Nam). c 5 Ở Indonesia, Malaysia, Srilanka,….đều có những quy định riêng về bề rộng của các đai rừng phòng hộ ngập mặn. Theo đó khi thiết kế trồng RNM cũng như điều chế rừng phải tuân thủ bề rộng đai rừng cần thiết. Nhiều quốc gia ban hành luật và quy định bảo vệ RNM hiện có và giảm thiểu tối đa phá RNM.
Tuy nhiên, hiệu lực thi hành của các quy định này bị cản trở bởi thiếu nhân lực và tài chính. Một số quốc gia châu Á tham gia Công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước (2004) đã công nhận các vùng RNM là khu Ramsar hoặc là vườn quốc gia, khu bảo tồn và sân chim hoang dã. Quản lý RNM ở Bắc và Trung Mỹ Nhìn chung, khu vực này chưa có khung pháp lý phù hợp nhằm bảo vệ và bảo tồn RNM, chỉ một số ít quốc gia có một số luật đặc biệt về bảo tồn các hệ sinh thái này (ví dụ như Costa Rica và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ). Một số quốc gia Bahamas và Cuba, RNM được bảo vệ trong các hoàn cảnh hoặc các luật về rừng khác nhau, một số quốc gia khác thì tích hợp việc bảo vệ RNM trong các khu bảo vệ động vật hoang dã, đất ngập nước, các khu bảo tồn ven biển và biển.
Một số khu vực được liệt kê trong danh sách các khu Ramsar như: Het Spaans Lagoen (Aruba), Vườn quốc gia Terraba-Sierpe (Costa Rica), Grand Cul-de-Sac Marin de la Guadeloupe (Guadeloupe), Vườn quốc gia Jeanette Kawas (Honduras) và Vườn quốc gia Everglades (Hoa Kỳ). Quản lý RNM ở Châu Đại Dương Trong vòng nhiều thập kỷ qua, đôi khi New Zealand phá bỏ RNM nhằm phát triển khu vực ven biển và sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp, nhưng nhờ nhận thức về các dịch vụ và lợi ích mà hệ sinh thái ven biển này mang lại dẫn tới sự ra đời bộ luật mới vào đầu những năm 1990 đã hạn chế một cách đáng kể tình trạng phá rừng. Cũng nhờ bộ luật này kết hợp sự thay đổi phương thức quản lý trong những năm gần đây mà diện tích RNM bị mất của quốc gia này giảm mạnh, không những thế rừng tự nhiên còn bắt đầu mở c 6 rộng ở một số khu vực mới nhờ trầm tích lắng đọng mở rộng bãi bồi. Quá trình tương tự cũng diễn ra ở miền đông Australia, hầu hết các bang đều có luật đặc biệt cấm hoặc kiểm soát chặt chẽ việc phá các thảm thực vật tự nhiên.
Các chương trình phục hồi rừng nhỏ đã được báo cáo ở New Caledonia và American Samoa. Quản lý RNM ở Nam Mĩ Ở Brazin, pháp luật bảo vệ RNM đã có từ lâu đời, xuất hiện sớm nhất vào năm 1760. Gần đây, chính phủ đã ban hành một số luật bảo tồn RNM và thiết lập 12 khu bảo tồn mới. Tất cả các quốc gia Nam Mĩ trừ Guyana đều có ít nhất một khu Ramsar bảo tồn RNM, minh chứng cho quyết tâm của chính phủ nhằm bảo vệ môi trường sống này cũng như đa dạng hệ sinh thái.
Ở Ecuador, sau khi một diện tích lớn RNM bị xóa sổ trong suốt những năm 1970, chính phủ đã tuyên bố bảo vệ RNM vào năm 1986 và cấm chặt phá CNM vào năm 1994. Ở Guyana, tuy có chính sách và luật pháp bảo vệ rừng nhưng lại không đề cập trực tiếp tới RNM. Ở Suriname, RNM được quy chung vào các loại rừng đầm lầy khác trong các khu vực đang quản lý sử dụng, còn ở Peru, hiện tại chặt phá RNM đã bị cấm, hầu hết RNM được bảo vệ từ năm 1980 thuộc Santuario Nacional Los Manglares de Tumbes đồng thời được công nhận là khu Ramsar năm 1997. Nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng ngập mặn RNM là tên chung của những dải rừng ven biển bị ngập thường xuyên hoặc định kỳ bởi thuỷ triều.
Với diện tích rộng, sinh khối lớn, tổ thành đa dạng và đặc biệt là phân bố ở nơi “đầu sóng ngọn gió” RNM được xem là đối tượng có giá trị kinh tế và sinh thái to lớn. Nó có khả năng cung cấp gỗ củ, các loại lâm đặc sản và nhiều loại hải sản giá trị, có khả năng cố định bùn cát, chắn gió, chắn sóng bảo vệ các tuyến đê ven biển, các nhà cửa, đồng ruộng và c 7 những công trình kinh tế văn hoá ven bờ, góp phần quan trọng vào bảo vệ môi trường sống của con người và thiên nhiên nói chung ở nhiều vùng duyên hải. Với ý nghĩa kinh tế và sinh thái to lớn RNM đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả. Đến cuối thế kỷ XX các nghiên cứu đã được thực hiện ở hầu hết các quốc gia có RNM.
Chúng tập trung vào ba lĩnh vực chính: (1) - Sự hình thành, đặc điểm cấu trúc và sinh thái RNM, (2)- Giá trị kinh tế và sử dụng RNM, và (3)- Vấn đề kinh tế xã hội và chính sách cho quản lý RNM. Các nghiên cứu về RNM thường dành một phần hoặc toàn bộ vào sự hình thành, cấu trúc và sinh thái rừng. Những vấn đề được hàng trăm tác giả quan tâm đến là điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn, đặc điểm tổ thành, quá trình tái sinh, diễn thế, sinh trưởng, phát triển, năng suất sinh học v.v… Do môi trường phân bố của RNM là các bãi bồi ven biển, nơi chịu ảnh hưởng của thủy triều nên vai trò quan trọng nhất của hệ sinh thái RNM là khả năng chắn sóng phòng hộ ven biển. Khả năng chắn sóng của RNM liên quan chặt chẽ đến đặc điểm cấu trúc.
Tuy nhiên, các đặc điểm cấu trúc liên quan đến khả năng chắn sóng của hệ sinh thái RNM như đường kính, chiều cao, mật độ, độ tàn che. đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một các cụ thể. Chính vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc liên quan đến khả năng giảm sóng là hết sức cần thiết, trên cơ sở phân tích qua các số liệu đo đạc cụ thể, xem xét mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố này để đánh giá một cách định lượng mức độ giảm sóng. Sau khi nghiên cứu các tài liệu trên thế giới tác giả đã phân tích và đi đến một số đánh giá như sau: RNM phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và nhiệt đới hai bán cầu.
Tuy nhiên một số loài có thể mở rộng khu phân bố lên phía bắc tới Bermunda (32020' Bắc) và Nhật Bản (31022' Bắc) như Trang (Kandelia obovata), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Đước vòi (Rhizophora stylosa), Cóc vàng c 8 (Lumnitzera racemosa). Giới hạn phía nam của CNM là New Zealand (38003’ Nam) và phía nam Australia (38043’ Nam). Ở những vùng này do khí hậu mùa đông lạnh nên thường chỉ còn loài Mắm biển (Avicennia marina) (Blasco F. Năm 2007 [44], FAO đã công bố tài liệu “RNM của thế giới 1980 – 2005” dựa vào các số liệu đáng tin cậy của các nước.
Ước tính năm 2005 diện tích RNM hiện có trên toàn thế giới là 15,2 triệu hecta, giảm so với 18,8 triệu hecta năm 1980. Diện tích RNM lớn nhất thuộc về châu Á, tiếp theo là châu Phi, Bắc và Trung Mỹ. Chỉ riêng diện tích RNM của năm quốc gia (Indonesia, Australia, Brazil, Nigeria, Mexico) đã chiếm 48% tổng diện tích RNM trên toàn thế giới, cũng như vậy, chỉ tính diện tích RNM của 10 quốc gia cũng đã chiếm 65% tổng diện tích RNM toàn thế giới. 35% còn lại nằm rải rác trên lãnh thổ của 114 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong số đó 60 quốc gia và vùng lãnh thổ có ít hơn 10.1: Biểu đồ phần trăm diện tích RNM thế giới theo quốc gia, 2005 (FAO, 2007) c 9 Hình 1.2: Bản đồ phân bố RNM trên thế giới Tomlinson (1986) phân chia các quần xã RNM làm hai nhóm có thành phần loài cây khác nhau: nhóm phía Đông và nhóm phía Tây.
Nhóm phía Đông tương ứng với vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương với số loài đa dạng và phong phú. Nhóm phía Tây gồm bờ biển nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ ở cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Số loài ở đây ít, chỉ bằng 1/5 ở phía Đông (Spalding, 1997). Các loài chủ yếu ở phía Tây là: Đước đỏ (Rhizophora mangle), Mắm (Avicennia germinans), Laguncularia racemosa (Tên tiếng anh là while flower mangrove, loài này không có ở Việt Nam).
Tuy nhiên kích thước của một số loài cây lại lớn hơn nhóm phía Đông, ví dụ như ở Brazin Đước đỏ cao trên 50m và ở Ecuado loài này cao trên 60m. RNM phân bố chủ yếu ở vùng có khí hậu ấm và mưa nhiều. Mặc dù có thể tồn tại ở những vùng nhiệt độ tháng lạnh nhất xuống đến 100C, song thuận lợi nhất cho phát triển RNM vẫn là những vùng nhiệt độ trung bình từ 200C trở lên và lượng mưa trên 1000 mm/năm (Larsson J. Đất RNM có nguồn gốc là phù sa lắng đọng ở nơi dòng nước yếu.
Lớp trên cùng của trầm tích là bùn và sét, phần dưới đã bắt đầu cứng chặt.