Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Thầu dầu là loài cây bụi dạng thân thảo thường xanh sống 1 năm hoặc nhiều năm, cao 2m - 5m. Thân màu xanh hoặc màu đỏ tím, tròn dạng thuỗn, đường kính 15mm – 30mm, dạng xẻ thùy nứt 7 - 8 phiến, mép có răng cưa. Đỉnh mọc hoa tổng trạng hoặc dạng chùy, hoa đực, hoa cái cùng cây, hoa đực mọc phía dưới, hoa cái mọc phía trên; thuộc về cây truyền phấn khác hoa, đài hoa 3 - 5 cánh; hoa đực dạng phân nhánh, hoa cái có tâm bì hình trứng, mọc đầy gai, có 3 buồng. Quả khô hình cầu, có gai.
Kỳ ra hoa vào tháng 7 - 9, kỳ ra quả tháng 10. Thu hái quả chín vào mùa thu, phơi khô bóc vỏ, thu hạt. Hạt hình bầu dục hơi dẹt, dài 0,9cm - 1,8cm, rộng 0,5cm - 1cm. Bề mặt nhẵn một mặt lồi lên.
Phía mặt phẳng có 1 đường lồi một đầu có một tủy hạt lồi màu trắng xám hoặc nâu nhạt, phôi nhũ dày, màu trắng, chứa nhiều dầu, 2 lá mầm, mỏng. Thành phần hoá học của hạt có nhiều lipid, trong đó có ricinoleic acid, oleic acid, ricin, acid ricin, basic ricin, ricinine, apigenin, chlorogenic acid, rutin. Cây Thầu dầu ưa ấm, hạt Thầu dầu trên 10oC mới nẩy mầm, khi nhiệt độ 10 - 30oC nẩy mầm cao và nhanh, nhiệt độ 15oC sau 4 - 5 ngày tỷ lệ nẩy mầm đạt 98,5%, nhiệt độ 20oC cần 3 - 4 ngày, nhiệt độ 30oC chỉ cần 2 - 3 ngày. Nhiệt độ cao hơn 35oC tỷ lệ nẩy mầm bị ức chế.
Ngoài đồng ruộng nhiệt độ bình quân ngày đêm 15 - 18oC, đủ nước, độ phì vừa phải, phải qua 15 - 17 ngày sẽ mọc cây con 50% ( Zhong Deyu, 2011) Thầu dầu không chịu rét, nhiệt độ 0,8 - 1oC cây con sẽ bị chết, nếu dưới 3oC, lá Thầu dầu sẽ bị khô héo. Thầu dầu muốn hoàn thành quá trình sinh trưởng phát triển phải có đủ ánh sáng và nhiệt lượng. Từ khi mọc cây con đến khi cây thành thục, tích ôn hữu hiệu ngày đêm phải đạt 3. 4 Tại vùng nhiệt đới nếu tưới nước vào tháng 3, sẽ xúc tiến ra nụ hoa, tháng 5, 6, 7 ra quả.
Trong thời kỳ này cần tiến hành tỉa cành, bón phân, quản lý. Tháng 9, 10 một số vùng núi, nhiệt độ thấp có thể khó chín quả. Đối với nước Thầu dầu cũng cần một lượng nhất định. Hạt nẩy mầm là giai đoạn cần nước, sau khi nẩy mầm tuỳ theo chất đất khác nhau, nhu cầu nước trong đất khác nhau.
Trong đất pha cát, độ ẩm đất đủ để nẩy mầm, nhưng nẩy mầm chậm; độ ẩm đất lên tới 16 - 18% nẩy mầm nhanh và đều hơn. Trong đất thịt gần núi đá vôi, nước trong đất phải đạt trên 20%, thích hợp nhất là 22 - 24%. Trong kỳ sinh trưởng và ra hoa, độ ẩm đất cần 30 - 40% (ẩm nhưng không trũng nước), độ ẩm không khí phải trên 65%, lượng mưa duới 50mm, phải tiến hành tưới nước. Tại các vùng núi ven sông, khi ra hoa nếu khô quá, lại bị gió nóng về luôn xẩy ra hiện tượng khô nhụy, khó thụ phấn, hoa không kết quả, tâm bì rụng nhiều, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng.
Nhưng nếu độ ẩm quá lớn sẽ gây ra thối hạt, thối mầm, thối rễ, cây bị khô héo. Đối với pH đất Thầu dầu có tính thích ứng rộng, nói chung pH 4,5-8,5. Một số tài liệu đã đề cập đến cây Thầu dầu làm thuốc chữa bệnh như sau: Theo tài liệu của Fan Shaomei (2007) mô tả: rễ, thân lá, quả, hạt có tác dụng giải độc, chữa trụy sản rễ dùng để chữa phong thấp đau khớp, sưng vết thương, viêm ống mạch, tê thần kinh mặt, viêm loét dạ dày và tá tràng; lá dùng để chữa viêm tuyến vú, nhọt, cảm cúm, kiết lỵ, sa tử cung, chữa đẻ khó; hạt Thầu dầu có thể chữa kết hạch limpha, đẻ khó, sa tử cung. Dầu Thầu dầu có thể chữa bí đại tiện.
Về vấn đề sâu bệnh hại cây Thầu dầu, nhiều tài liệu đề cập đến một số loài sâu róm, bệnh thối cổ rễ, bệnh đốm lá gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất cây Thầu dầu. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Từ năm 2000 đến nay do nhu cầu về nhiên liệu sạch thay thế dầu khí cạn kiệt và gây ô nhiễm môi trường đang trở thành nhu cầu không thể thiếu được. Cho nên, nhiều nước đã phát triển các loài Thầu dầu lai cho năng xuất cao. Các nước có Thầu dầu phân bố là Angola, Kenia, Xudang, Ecuador, Paraguay, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Thái Lan, Nga, Rumania.
Các nước có sản xuất dầu từ Thầu dầu là: Ấn Độ, Trung Quốc, Brazin, Philippin, Pakistan và Nga. Theo thống kê năm 1985 - 1986 đạt 1.800 tấn, năm 1987 - 1988 là 883 nghìn tấn, năm 1989 - 1990 tổng sản lượng hạt Thầu dầu là 1. Các nước nhập khẩu dầu là Pháp, Mỹ, Nga, Nhật, Đức, Anh, Hà Lan. Ngày nay nước sản xuất hạt nhiều nhất là Ấn Độ (72%) Trung Quốc (20%), Brazin (8%).
Diện tích trồng Thầu dầu trên thế giới là 1. Hàng năm thế giới cần 700.000 tấn dầu, mà khả năng cung cấp chỉ được một nửa.(Zhong Deyu, 2011) Dầu Thầu dầu lấy từ hạt được 50%, lấy từ hạt bóc vỏ được 70%, hàm lượng protein 18%. Theo Po Wenwei (2011) lượng dầu Thầu dầu thế giới chỉ 2,5 triệu tấn, không đủ nguyên liệu để chế biến dầu của các nhà máy. Giá hạt Thầu dầu hiện nay là 16.000 NDT/tấn ≈ 50 triệu VND dùng cho nhu cầu dầu đốt sinh học.
Năm 2008 Trung Quốc cần 12 triệu 400.000 tấn dầu sinh học. Về ý nghĩa kinh tế cây Thâu dầu: Phải nói rằng cây Thầu dầu là cây được sử dụng khá triệt để từ lá, cành, ngọn, hạt, rễ không loại bỏ một phần nào. Hiện nay sản phẩm Thầu dầu không chỉ là nhu cầu trong nước mà cả trên thế giới. Thầu dầu có giá trị kinh tế rất cao tỷ lệ cho dầu đạt 40 – 60% [hạt Cọc rào (Jatropha curcas) chỉ đạt 20 – 30%].
Theo phân tích của Công ty công nghiệp Quý Châu, dầu Thầu dầu có 70% dầu, 18% protein trong dầu chủ yếu có 80% ricinoleic acid. Thầu dầu không chỉ là nguyên liệu quan trọng mà còn là sản phẩm dầu “ màu xanh” hay “ nhiên liệu sinh học” thay thế dầu khí. Dầu 6 Thầu dầu còn chứa nhớt nên làm dầu bôi trơn trong công nghiệp, làm dầu ăn, hương liệu, làm thuốc chữa bệnh, hóa mỹ phẩm, thuốc nhuộm, sợi nilon, chất dẻo, xà phòng, mực in, dầu máy, dầu da giầy. Một đặc tính quan trọng của dầu Thầu dầu là không biến chất khi nhiệt độ cao 500 - 600oC, không đông đặc ở nhiệt độ thấp dưới - 18oC.
Cho nên dầu Thầu dầu là nguyên liệu duy nhất dùng bôi trơn máy bay, tàu thuyền, xe ô tô và các máy móc tinh vi. Theo phân tích của Mỹ, Tây Âu, dầu Thầu dầu có hơn 3.000 chất hoá học, nếu cần 1 tấn nilon -11 - chất (nếu cách nhiệt cường độ cao) cũng cần 3 - 4 tấn hạt Thầu dầu. Theo tính toán năm 2010 cần 1 triệu tấn dầu, phải cần 2,4 triệu tấn hạt Thầu dầu. Cũng theo điều tra của các chuyên gia Trung Quốc, hiện nay thị trường thế giới cần 10 triệu tấn hạt Thầu dầu mỗi năm, nhưng tổng sản lượng chỉ đạt 2 triệu tấn/năm.
Theo dự báo đến năm 2010 năng xuất hạt Thầu dầu có thể lên tới 5.năm, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu. Hạt Thầu dầu cũng dùng để chữa tiêu viêm, trừ tả, kết hạch đại tiện, kiết lỵ, viêm mũi họng. Một tài liệu của Thái Lan cho biết, thuốc Ayurverdic từ lâu đã được sử dụng dầu Thầu dầu chữa đau thần kinh tọa, đau lưng và thấp khớp. Tại quần đảo Canary dầu Thầu dầu được sử dụng để ngăn ngừa núm vú bị đau ở bà mẹ cho con bú và cũng được cọ xát vào tóc để ngăn ngừa rụng tóc sau khi sinh.
Cũng theo nhiều tài liệu nước ngoài lá Thầu dầu có thể nuôi tằm. Mỗi ha cho 15.000 con tằm chỉ cần 350kg thu được 4kg tơ, 15 – 20kg nhộng cho thu nhập 1 triệu đến 1,2 triệu VNĐ (tính chuyển đổi), thu được 150kg phân tằm đây là loại phân rất tốt. Như vậy nếu chỉ thu nhập từ lá Thầu dầu đã được 5 -7 triệu đồng/ha. Một số tài liệu trong và ngoài nước đều đề cập đến bã ép Thầu dầu chứa 7 nhiều protein, axit amin nên có thể làm thức ăn gia xúc sau khi khử chất độc ricin.
Cây Thầu dầu có mọc ở các vùng đất hoang hóa trong đó phần lớn là ở miền núi tạo cho dân nghèo có nguồn thu nhập rõ rệt cũng còn có thể lục hóa đồi trọc và có hiệu ích sinh thái rõ rệt. Hiện nay, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc là những nước phát triển cây Thầu dầu rất mạnh. Họ đã lai tạo được các giống mới cao sản như giống Sơn Đông, giống Quý Châu, giống Vân Nam, giống Thái Lan. Năng xuất từ 1.
Về tác dụng của Thầu dầu nhiều tài liệu của Trung Quốc đề cập đến thành phần hoá học y dược như Protein 18%-26%oil 64%-71% , Carbohydrate 2%,Phe-nolic dubstance 2.50%, Ricin và Ricinine 0.15%, Triglyceridev và Glycerol ester còn có một số ít các chất Sterol, Phospholipid , Free fattyacid , Hydrocarbon,Wax , Ricinoleic acid 84%- 91% , Oleic acid 3. Trong đó, Phosphatidyl ethanolamine 83%,Phosphatidyl choline 13% Chúng có thể chữa được 17 loại bệnh trong cơ thể con người đặc biệt là các bệnh về nội tạng. Về sâu hại Thầu dầu có thể nói như cây nông nghiệp khác có rất nhiều loài sâu và đã được các tác giả Trung Quốc, Ấn Độ nghiên cứu đến. Trong các tài liệu về sâu hại Thầu dầu phải kể đến Liu Wenrong (1991) đã đề cập đến 94 loài sâu hại, 9 loài bệnh hại.
Trong đó, có Ruồi đục lá Thầu dầu Liriomyza trifolii (Burgess). Họ: Agromyzyiidae; Bộ Hai Cánh (Diptera) và đã mô tả như sau: Sâu trưởng thành rất nhỏ, dài từ 1,3 - 1,5 mm, màu đen bóng, nhưng một phần cơ thể, gồm cả phiến mai trên ngực có màu vàng. Mắt kép màu đen bóng. 8 Cánh trước có chiều dài khoảng 1,4 mm, rộng 0,60 mm.
Cánh sau thoái hóa còn rất nhỏ, màu vàng nhạt. Bụng và chân có nhiều lông, chân màu vàng, đốt chày và đốt bàn màu đen, bàn chân 5 đốt, đốt cuối có 2 móng cong màu đen. Trứng rất nhỏ, màu trắng hồng, tròn, đường kính khoảng 0,2 mm. Ấu trùng có chiều dài khoảng 2mm, màu vàng nhạt khi mới nở, sau chuyển thành màu vàng đậm.
Cơ thể có 10 đốt, miệng dạng móc câu màu đen. Thời gian phát triển của ấu trùng từ 3 - 4 ngày. Nhộng có chiều dài khoảng 1,5mm, rộng 0,7mm. Thời gian phát triển của nhộng từ 6 - 8 ngày.