Vai trò lỗ xốp vật liệu carbon ảnh hưởng vi hạt xúc tác nano trong pin DMFC

Luận văn: Vai trò lỗ xốp vật liệu carbon ảnh hưởng đến vi hạt xúc tác nano trong pin nhiên liệu DMFC. Nghiên cứu chuyên sâu về ứng dụng tiềm năng.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2009

88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các đồ thị, hình vẽ

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG I - Tổng quan vật liệu carbon hỗ trợ xúc tác trong pin nhiên liệu

1.1. Vật liệu carbon hỗ trợ xúc tác

1.2. Cấu trúc và tính chất của carbon hoạt tính (AC)

1.3. Tầm quan trọng của kết cấu lỗ xốp

1.4. Tầm quan trọng của hóa học bề mặt

1.5. Hoạt tính carbon

1.6. Hoạt tính vật lý (nhiệt độ)

1.7. Hoạt tính hóa học

1.8. Pin nhiên liệu

1.9. Nguyên tắc hoạt động chung của pin nhiên liệu

1.10. Phân loại pin nhiên liệu

1.11. Pin nhiên liệu dùng methanol trực tiếp (DMFC)

1.12. Cơ chế hoạt động của pin nhiên liệu DMFC

1.13. Phản ứng tại anode trong pin DMFC chất điện giải kiềm (Alkaline DMFC)

1.14. Phản ứng tại anode trong pin DMFC màng điện giải PEM

1.15. Phản ứng tại cathode trong pin DMFC

1.16. Phản ứng tổng quát trong pin DMFC

1.17. Một số ưu và nhược điểm của pin DMFC

1.18. Vai trò và ứng dụng carbon hoạt tính trong pin nhiên liệu dùng methanol trực tiếp (DMFC)

2. CHƢƠNG II - Thực nghiệm và các phƣơng pháp nghiên cứu

2.1. Tái hoạt tính carbon đen N330

2.2. Thiết bị thực nghiệm và hóa chất

2.3. Thiết bị thực nghiệm

2.4. Tiến hành thực nghiệm

2.5. Sơ đồ quy trình tái hoạt tính carbon N330

2.6. Các bước tiến hành thực nghiệm

2.7. Các phƣơng pháp nghiên cứu thực nghiệm

2.8. Phương pháp hấp phụ đẳng nhiệt trong nghiên cứu đặc tính lỗ xốp của carbon hoạt tính

2.9. Phương pháp hấp phụ khí đẳng nhiệt

2.10. Phân loại sự hấp phụ khí đẳng nhiệt

2.11. Xác định diện tích bề mặt carbon hoạt tính bằng phương pháp BET đa điểm (Multipoint BET)

2.12. Xác định tổng thể tích lỗ xốp và bán kính lỗ xốp trung bình

2.13. Phương pháp Dubinin-Astakhov (DA)

2.14. Lý thuyết phím hàm mật độ (NLDFT)

2.15. Phân tích phổ nhiễu xạ tia X góc hẹp

2.16. Phân tích phổ hồng ngoại FTIR

2.17. Phân tích hình ảnh FESEM bề mặt carbon

3. CHƢƠNG III - Kết quả và bàn luận

3.1. Kết quả đo hấp phụ khí N2 đẳng nhiệt N2

3.2. Phân tích phương trình BET đa điểm

3.3. Phân tích đường hấp phụ/giải hấp đẳng nhiệt khí N2

3.4. Phân tích đường phân bố Dubinin – Astakhov (DA)

3.5. Phân tích phân bố thể tích lỗ xốp theo kích thước lỗ bằng lý thuyết phím hàm mật độ (NLDFT)

3.6. Kết quả khảo sát phổ nhiễu xạ tia X

3.7. Kết quả khảo sát phổ hồng ngoại – FTIR

3.8. Kết quả chụp ảnh FESEM bề mặt

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Vật Liệu Lỗ Xốp Carbon Cho Pin DMFC Giới Thiệu

Thế giới đang đối mặt với các vấn đề cấp bách như cạn kiệt tài nguyên, khủng hoảng năng lượng. Pin nhiên liệu, đặc biệt là pin DMFC, nổi lên như một giải pháp năng lượng xanh tiềm năng. Pin DMFC không chỉ thân thiện với môi trường mà còn có chi phí tương đối thấp và nhiều ứng dụng thực tế. Trong các DMFC, lỗ xốp carbon đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ xúc tác nano. Luận văn này tập trung vào nghiên cứu vật liệu lỗ xốp carbon được sử dụng làm nền cho chất xúc tác nano trong pin DMFC. Các vật liệu carbon, đặc biệt là carbon black (CB) và carbon hoạt tính (AC) được quan tâm nhiều hơn cả. Do thế tương tác bề mặt của AC và CB yếu nên sự phân tán các pha kim loại khác nhau trên bề mặt của chúng dễ dàng được tăng cường. Tuy nhiên, những khuyết tật bề mặt của nền carbon cũng ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động xúc tác của kim loại, đặc biệt là các gốc oxit vì sự có mặt của chúng làm cho thế tương tác bề mặt gia tăng đáng kể. Luận văn đặc biệt quan tâm đến carbon hoạt tínhcarbon đen tái hoạt tính, chúng được sử dụng làm nền hỗ trợ xúc tác cho hợp kim Pt-Ru để chế tạo điện cực pin nhiên liệu DMFC.

1.1. Cấu Trúc và Tính Chất Vật Liệu Lỗ Xốp Carbon

Carbon tồn tại ở nhiều dạng thù hình: kim cương, fullerence, ống nano carbon, graphite (tinh thể) và carbon black, carbon hoạt tính (vô định hình). Carbon hoạt tính là một loại carbon vô định hình, không có cấu trúc tinh thể, cấu trúc của chúng được hình thành từ rất nhiều lỗ xốp và do đó chúng có diện tích bề mặt riêng rất cao, có thể đạt đến 1000m2/g. Tính chất vật lý cũng như hóa học của carbon hoạt tính phụ thuộc chủ yếu vào thể tích, sự phân bố của lỗ xốp cũng như sự hiện hiện của các nhóm chức trên bề mặt chứa hydro, oxy… Theo tiêu chuẩn IUPAC, có thể phân loại lỗ xốp theo kích thước làm 3 nhóm chính [18]: lỗ xốp micro (<2nm), lỗ xốp meso (2-50nm), lỗ xốp macro (>50nm).

1.2. Tầm Quan Trọng của Cấu Trúc Lỗ Xốp Carbon Trong DMFC

Cấu trúc của carbon tự nhiện được xem như là sự trộn lẫn giữa những tinh thể tựa graphite và phi graphite bao gồm phức hợp các dạng thơm-béo. Những liên kết đối xứng của carbon trên bề mặt tinh thể sẽ liên tục bị xáo trộn trong suốt quá trình hoạt tính tạo ra những khoảng trống không gian. Trong suốt quá trình hoạt tính, khoảng không gian giữa những tinh thể sẽ làm suy giảm tính carbon của vật liệu và cùng lúc đó, một số nguyên tử carbon sẽ tách rời khỏi tinh thể. Kết quả là xuất hiện những rãnh nứt xuyên qua vùng graphite và những vị trí bên trong cấu trúc của carbon hoạt tính. Những rãnh nứt bên trong cùng với những mặt graphene song song sẽ tạo nên cấu trúc xốp và tăng diện tích bề mặt của vật liệu. Diện tích bề mặt riêng là một trong những thông số quan trọng nhất để đánh giá khả năng hút bám của carbon hoạt tính. Diện tích bề mặt BET của carbon hoạt tính thông thường nằm trong khoảng 500-1500m2/g, tuy nhiên cũng đã tìm thấy diện tích BET lên đến 4000m2/g trong một số carbon siêu hoạt tính.

1.3. Hóa Học Bề Mặt và Ảnh Hưởng Đến Hiệu Suất Pin DMFC

Diện tích bề mặt cao và sự phân bố kích thước lỗ xốp đồng đều là những điều kiện cần thiết cho carbon hoạt tính đạt hiệu quả cao trong các ứng dụng cụ thể. Tuy nhiên, có nhiều loại carbon hoạt tính với đặc tính cấu trúc tương tự nhau, nhưng lại có khả năng hấp phụ khác nhau với cùng một loại khí hấp phụ. Yếu tố chủ yếu quyết định khả năng hấp phụ của vật liệu không chỉ là sự phân bố đồng đều kích thước lỗ xốp mà còn phụ thuộc sự tồn tại của các nhóm chức trên bề mặt carbon. Những nguyên tử carbon liên kết tại biên bề mặt ô cơ sở đa phần là những nguyên tử chưa bão hòa, chúng vẫn có những electron tự do. Những nguyên tử này thông thường sẽ liên kết với những nguyên tử khác (đặc biệt là oxy) tạo nên những nhóm chức bề mặt. Quá trình hình thành các nhóm chức oxy bề mặt phụ thuộc vào điều kiện oxy hóa; quá trình này càng gia tăng mạnh mẽ khi nhiệt độ phản càng tăng.

II. Vấn Đề Hiệu Suất Thấp Pin DMFC và Vật Liệu Carbon

Mặc dù pin DMFC có nhiều ưu điểm, nhưng mật độ năng lượng và hiệu suất vẫn là một trở ngại lớn. Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào chất xúc tác điện cực hoặc chất điện phân, trong khi ít chú trọng đến việc xử lý nền carbon hỗ trợ xúc tác. Luận văn này hướng đến giảm giá thành pin DMFC bằng cách xem xét khả năng thay thế carbon black Vulcan XC72 (nhập khẩu, giá cao) bằng carbon black N330 (sản xuất trong nước, giá thấp) cho xúc tác hai thành phần Pt/Ru. Nghiên cứu tập trung vào đặc tính nền carbon hỗ trợ xúc tác bằng cách tái hoạt tính carbon black này bằng phương pháp hoạt hóa với KOH để gia tăng sự hình thành cấu trúc lỗ meso hoặc là lỗ micro qua đó tăng diện tích bề mặt riêng của vật liệu. Với việc sử dụng những carbon black tái hoạt tính này, chất xúc tác Pt-Ru trên nền carbon black tái hoạt tính (Pt-Ru/AC) sẽ có diện tích bề mặt và đặc tính lỗ xốp khác nhau.

2.1. Giới Hạn Của Carbon Black Thông Thường Trong Pin DMFC

Trong một nghiên cứu chuyên sâu về đặc tính và ứng dụng carbon của Kinoshita (1988) [14], tác giả đã xác định được một số loại carbon black được sử dụng chủ yếu trong pin DMFC như Acetylene black, Carbon Vulcan XC72. Tất cả những loại vật liệu này đều có độ dẫn điện tối ưu trong một chừng mực nào đó, nhưng diện tích bề mặt BET thì lại khác nhau và rất khác nhau trong cách sản xuất. Với diện tích bề mặt thấp của loại carbon Acetylene black sẽ không đạt được độ phân tán cao của pha kim loại, đặc biệt là ứng với tải trọng kim loại cao. Với một số loại khác có diện tích bề mặt cao hơn thì có thể thích ứng với pha kim loại với mức độ phân tán cao nhưng đồng thời do sự xuất hiện nhiều lỗ xốp (đặc biệt là lỗ meso) trên nền carbon nên việc đạt được độ phân bố đồng đều của pha kim loại xúc tác khó khăn hơn.

2.2. Carbon Black N330 Tiềm Năng Thay Thế và Thách Thức

Với mục tiêu ban đầu của đề tài đặt ra và điều kiện thị trường Việt Nam hiện nay, Carbon Vulcan XC72 là nguyên liệu ngoại nhập, phải đặt hàng mua ở nước ngoài và có giá thành cao, tôi sẽ sử dụng một loại carbon black khác được mua tại Việt Nam, có giá thành thấp hơn nhiều (Carbon black N330), sau khi thực hiện quá trình tái hoạt tính loại carbon này (vì loại carbon black này có độ xốp cũng như diện tích bề mặt thấp) sẽ nghiên cứu xem xét khả năng thay thế của nó cho carbon black Vulcan XC72 mà vẫn đảm bảo được các yêu cầu kỹ thuật có thể cho pin DMFC.

III. Tái Hoạt Tính Carbon N330 Phương Pháp KOH Tối Ưu Lỗ Xốp

Để carbon black N330 đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cho nền điện cực pin DMFC, cần tái hoạt tính. Phương pháp hoạt tính bằng KOH được chọn. Quá trình này giúp gia tăng diện tích bề mặt và điều chỉnh kích thước lỗ xốp của vật liệu. Hoạt tính kiềm hydroxit (NaOH, KOH). Trong quy trình hoạt tính này, KOH được trộn với nguyên liệu carbon bằng cách tẩm dung dịch nước hoặc đơn giản trộn một cách vật lý lại với nhau. Sản phẩm sau đó phải được rửa sạch để loại bỏ những chất hóa học dư thừa sau quá trình carbon hóa. Nhiệt độ xử lý phụ thuộc nhiều vào hóa chất hoạt tính đã sử dụng. Các hóa chất được sử dụng chính yếu là ZnCl2, H3PO4 và hydroxit kim loại kiềm (KOH). So với việc sử dụng hai lò nung cho hai quá trình carbon hóa và hoạt tính trong phương pháp hoạt tính nhiệt độ thì ở đây chỉ cần sử dụng một lò nung đơn nhất.

3.1. Quy Trình Tái Hoạt Tính Carbon Black N330 Bằng KOH

  1. Nghiền mịn carbon black N330. 2) Trộn carbon với dung dịch KOH. 3) Rung siêu âm để phân tán đều KOH. 4) Nung mẫu trong môi trường N2 ở nhiệt độ cao (700°C, 800°C). 5) Rửa mẫu bằng nước cất và HCl để loại bỏ KOH dư. 6) Sấy chân không để loại bỏ hoàn toàn nước.

3.2. Cơ Chế Hoạt Tính KOH và Ảnh Hưởng Đến Cấu Trúc Lỗ Xốp

Trong trường hợp này, KOH sẽ phản ứng với nguyên liệu carbon, sản phẩm rắn và khí sẽ được sản sinh. Khi carbon được đốt cháy sẽ gia tăng tính xốp của chúng. Bằng chứng thực nhiệm cho thấy hydro và kim loại kiềm được sinh ra trong suốt quá trình phản ứng, cũng như CO, CO2 và oxit kim loại kiềm. Lillo-Ródenas cùng các cộng sự đã đưa ra phương trình phản ứng liên quan như sau [27]: 6KOH + C -> 2K + 3H2 + 2K2CO3 (1.9) trong đó, kiềm carbonat sẽ dễ dàng phân hủy thành K2O và CO2 tại nhiệt độ trên 6000C. Nhìn chung, tỷ lệ KOH/nguyên liệu càng cao thì sản phẩm sẽ được hoạt tính càng mạnh mẽ và khả năng hấp phụ càng cao.

IV. Nghiên Cứu Đặc Tính Vật Liệu Các Phương Pháp Thực Nghiệm

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp: hấp phụ khí N2 đẳng nhiệt (BET), FESEM, XRD góc hẹp (SAXS) và FTIR. Phương pháp hấp phụ khí N2 đẳng nhiệt (BET) được dùng để phân tích diện tích bề mặt riêng và sự phân bố kích thước lỗ xốp. FESEM cung cấp hình ảnh về cấu trúc bề mặt vật liệu. XRD giúp xác định cấu trúc tinh thể. FTIR xác định các liên kết hóa học trong vật liệu. Những kỹ thuật chủ yếu để xác định đặc tính lỗ xốp vật liệu carbon được trình bày như hình 2.3, trong đó bề rộng của dấu mũi tên xác định khoảng kích thước của lỗ xốp mà ở đó những kỹ thuật phân tích có thể áp dụng được. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm cũng như những giới hạn khác nhau.

4.1. Hấp Phụ Khí Đẳng Nhiệt Phân Tích Diện Tích Bề Mặt và Lỗ Xốp

Hấp phụ khí đẳng nhiệt là một trong những kỹ thuật thông dụng nhất trong nghiên cứu vật liệu có tính chất xốp. Trong phần này, chúng ta sẽ tập trung vào hấp phụ vật lý (physisorption), khác biệt so với hấp phụ hóa học (chemisorption) bởi vì nó xảy ra nhờ lực tương tác Van der Walls. Hàm lượng hấp phụ a trên một đơn vị khối lượng chất hấp phụ phụ thuộc vào áp suất khí được hấp phụ p, nhiệt độ T, tính chất của chất hấp phụ và những tương tác cơ bản giữa chất khí và chất rắn. Như vậy là độ hấp phụ của chất khí trên một chất hấp phụ cụ thể có thể được biểu diễn như sau: a = f(P,T) (2.1) và tại nhiệt độ không đổi: a = f(P)T (2.2) Phương trình này sẽ biểu diễn bằng đường hấp phụ đẳng nhiệt, áp suất tỷ đối P/P0 với P0 là áp suất hơi bão hòa của chất khí hấp phụ tại nhiệt độ đo lường.

4.2. FESEM và XRD Nghiên Cứu Cấu Trúc Bề Mặt và Tinh Thể

FESEM (Field Emission Scanning Electron Microscope): Kính hiển vi điện tử quét hiệu ứng trường. Cho phép quan sát hình thái bề mặt vật liệu ở độ phân giải cao, xác định kích thước và hình dạng hạt. XRD (X-ray Diffraction): Phổ nhiễu xạ tia X. Xác định cấu trúc tinh thể của vật liệu, kích thước tinh thể và độ tinh khiết pha.

4.3. FTIR Xác Định Các Nhóm Chức Hóa Học Trên Bề Mặt Carbon

Phân tích phổ hồng ngoại FTIR (Fourier Transform Infrared Spectroscopy) được sử dụng để xác định các nhóm chức hóa học trên bề mặt carbon. Thông tin này quan trọng để hiểu rõ tính chất bề mặt và khả năng tương tác của carbon với chất xúc tác.

V. Kết Quả và Bàn Luận So Sánh Carbon N330 Tái Hoạt Tính

Phần này trình bày kết quả đo đạc diện tích bề mặt, kích thước lỗ xốp, cấu trúc và các nhóm chức bề mặt của carbon N330 sau khi tái hoạt tính ở các nhiệt độ khác nhau. So sánh kết quả này với carbon black Vulcan XC72 để đánh giá tiềm năng thay thế.

5.1. Ảnh hưởng của Nhiệt Độ Hoạt Tính Đến Diện Tích Bề Mặt

So sánh diện tích bề mặt BET của các mẫu carbon N330 tái hoạt tính ở 700°C và 800°C (AC700 và AC800). Đánh giá sự thay đổi diện tích bề mặt và thể tích lỗ xốp theo nhiệt độ hoạt tính.

5.2. So Sánh Cấu Trúc và Thành Phần Bề Mặt Với Vulcan XC72

So sánh ảnh FESEM của các mẫu carbon với Vulcan XC72. Phân tích sự khác biệt về hình thái và kích thước hạt. Phân tích phổ FTIR để so sánh các nhóm chức bề mặt và đánh giá khả năng tương tác với chất xúc tác.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tương Lai DMFC và Carbon

Tổng kết nghiên cứu, đánh giá khả năng thay thế carbon black Vulcan XC72 bằng carbon N330 tái hoạt tính trong pin DMFC. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo để tối ưu hóa vật liệu lỗ xốp carbon cho ứng dụng pin nhiên liệu.

6.1. Tiềm Năng Ứng Dụng Carbon N330 Tái Hoạt Tính Trong DMFC

Đánh giá tiềm năng của carbon N330 tái hoạt tính như một vật liệu thay thế chi phí thấp cho Vulcan XC72 trong pin DMFC. Thảo luận về các yếu tố cần xem xét để cải thiện hiệu suất pin.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Để Tối Ưu Hóa DMFC

Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo để tối ưu hóa vật liệu lỗ xốp carbon cho pin DMFC, chẳng hạn như điều chỉnh kích thước lỗ xốp, tăng độ dẫn điện hoặc cải thiện tính ổn định hóa học.

24/09/2025
Luận văn thạc sĩ vai trò và ảnh hưởng của lỗ xốp trong vật liệu carbon đối với các vi hạt xúc tác kích thước nano dùng cho pin nhiên liệu methanol trực tiếp dmfc

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Thế giới ngày nay đang đối mặt với nhiều vấn đề mang tính cấp bách toàn cầu như sự cạn kiệt nguồn tài nguyên, an ninh lương thực, bất ổn chính trị, khủng bố… Trong đó vấn đề môi trường và nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng mang tính thời sự hơn bao giờ hết. Con người đang nỗ lực tìm ra những nguồn năng lượng mới thân thiện với môi trường có hiệu suất cao và giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên dầu mỏ. Ngoài những nguồn năng lượng mới như mặt trời, gió, thủy triều… thì nguồn năng lượng xanh và sạch từ pin nhiên liệu cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm đầu tư nghiên cứu. Trong bối cảnh hiện nay, nguồn năng lượng pin nhiên liệu được xem là một trong những hướng rất khả thi, chúng không những là năng lượng sạch mà còn tương đối rẻ, có nhiều ứng dụng trong thực tế.

Với những lý do trên, tôi chọn hướng tiếp cận với pin nhiên liệu (Fuel Cell – FC) làm hướng nghiên cứu đề tài luận văn của mình. Ngày nay, có nhiều loại pin nhiên liệu phù hợp với yêu cầu thương mại hóa. Trong số chúng thì pin nhiên liệu dùng methanol trực tiếp (DMFC) và pin nhiên liệu dùng màng điện giải polymer (PEMFC) là thông dụng nhất. DMFC không cần xử lý nhiên liệu để tái chế nhiên liệu hydrocarbon, điều này làm cho DMFC có nhiều thuận lợi để ứng dụng vào các thiết bị cầm tay có kích thước nhỏ.

Hơn nữa, DMFC lại hoạt động tại nhiệt độ phòng và áp suất khí quyển nên nó dễ dàng đưa vào ứng dụng thực tế nhất. Với điều kiện cơ sở vật chất nghiên cứu hiện tại ở Viện Vật Lý Thành phố Hồ Chí Minh cũng như điều kiện ứng dụng tại Việt Nam, tôi quyết định chọn hướng nghiên cứu của mình là DMFC. Nhưng thực chất, mật độ năng lượng và hiệu suất của DMFC là một trở ngại lớn không dễ vượt qua. Cho đến bây giờ, hầu hết các bài báo, chủ đề chính đã được thảo luận liên quan đến chất xúc tác điện cực hoặc là chất điện giải trong pin nhiên liệu để nâng cao hiệu suất DMFC đều mặc định xem carbon black là vật liệu hỗ trợ xúc tác (điển hình là carbon black Vulcan XC72) , rất ít bài báo đề cập đến vấn đề xử lý nền carbon hỗ trợ xúc tác.

Trong nội dung nghiên cứu của luận văn, với mục đích giảm giá thành của pin DMFC và xem xét khả năng thay thế carbon black Vulcan XC72 (vì phải đặt hàng mua ở nước ngoài, giá thành cao) bằng một loại carbon black khác (carbon black N330) mua tại thị trường Việt Nam (với giá thành thấp hơn nhiều) đối với xúc tác hai thành phần Pt/Ru, tôi sẽ tập trung nghiên cứu đặc tính nền carbon hỗ trợ xúc tác bằng cách sử dụng loại carbon black này tái hoạt tính một lần nữa bằng phương pháp hoạt hóa với KOH để gia tăng sự hình thành cấu trúc lỗ meso hoặc là micro qua đó tăng diện tích bề mặt riêng của vật liệu. Với việc sử dụng những carbon black tái hoạt tính này, chất xúc tác Pt-Ru trên nền carbon black tái hoạt tính (Pt-Ru/AC) sẽ có diện tích bề mặt và đặc tính lỗ xốp khác HVTH Huỳnh Sa Hoàng GVHD TS.Nguyễn Mạnh Tuấn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành Vật liệu và Linh kiện Nano nhau, chúng sẽ được dùng để chuẩn bị cho xúc tác anode của DMFC và so sánh với việc sử dụng carbon Vulcan XC72. Diện tích bề mặt riêng, kích thước lỗ xốp và sự phân bố lỗ xốp của carbon tái hoạt tính cũng như sự phân bố, kích thước hạt kim loại xúc tác sẽ được đo lường bằng phương pháp hấp phụ đẳng nhiệt N2, XRD và ảnh FESEM một cách tương ứng. Ngoài ra, đề tài này cũng sẽ đánh giá điều kiện tối ưu (nhiệt độ hoạt tính) cho quá trình tái hoạt tính carbon black bằng KOH, từ đó xem xét hoạt động xúc tác của pha kim loại thông qua diện tích bề mặt, kích thước lỗ xốp hay sự phân bố lỗ xốp của nền carbon hỗ trợ xúc tác.

Nghiên cứu này là cần thiết để mở ra một số hướng giải quyết nhằm cải tiến, nâng cao hơn nữa hiệu suất của pin DMFC có nền hỗ trợ xúc tác điện cực được chế tạo từ loại carbon black N330. HVTH Huỳnh Sa Hoàng GVHD TS.Nguyễn Mạnh Tuấn 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành Vật liệu và Linh kiện Nano CHƢƠNG I TỔNG QUAN 1. VẬT LIỆU CARBON HỖ TRỢ XÚC TÁC HVTH Huỳnh Sa Hoàng GVHD TS.Nguyễn Mạnh Tuấn 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành Vật liệu và Linh kiện Nano Carbon tồn tại trong tự nhiên với nhiều dạng thù hình khác nhau, có loại thù hình có cấu trúc tinh thể trật tự cao (kim cương, fullerence, ống nano carbon và graphite) và loại vô định hình (carbon black và carbon hoạt tính). Những dạng thù hình của carbon được mô tả như hình 1.

Một số dạng thù hình của carbon [8] Đối với những ứng dụng làm nền hỗ trợ xúc tác cho các kim loại quý trong các quá trình hydro hóa nhiều loại hợp chất hữu cơ thì những vật liệu carbon, đặc biệt là carbon black (CB) và carbon hoạt tính (AC) được quan tâm nhiều hơn cả. Do thế tương tác bề HVTH Huỳnh Sa Hoàng GVHD TS.Nguyễn Mạnh Tuấn 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành Vật liệu và Linh kiện Nano mặt của AC và CB yếu nên sự phân tán các pha kim loại khác nhau trên bề mặt của chúng dễ dàng được tăng cường. Tuy nhiên, những khuyết tật bề mặt của nền carbon cũng ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động xúc tác của kim loại, đặc biệt là các gốc oxit vì sự có mặt của chúng làm cho thế tương tác bề mặt gia tăng đáng kể. Với nội dung của luận văn, tác giả đặc biệt quan tâm đến carbon hoạt tính và carbon đen tái hoạt tính, chúng được sử dụng làm nền hỗ trợ xúc tác cho hợp kim Pt-Ru để chế tạo điện cực pin nhiên liệu dùng methanol trực tiếp (DMFC).

Cấu trúc và tính chất của carbon hoạt tính (Activated carbon – AC) Carbon hoạt tính là một loại carbon vô định hình, không có cấu trúc tinh thể, cấu trúc của chúng được hình thành từ rất nhiều lỗ xốp và do đó chúng có diện tích bề mặt riêng rất cao, có thể đạt đến 1000m2/g. Tính chất vật lý cũng như hóa học của carbon hoạt tính phụ thuộc chủ yếu vào thể tích, sự phân bố của lỗ xốp cũng như sự hiện hiện của các nhóm chức trên bề mặt chứa hydro, oxy… Các lỗ xốp này có nhiều kích cỡ khác nhau, dao động từ 1 đến 10nm. Ngoài ra còn có những lỗ xốp có kích thước lớn hơn 10nm đóng vai trò như các khe nứt cho các phân tử có thể xâm nhập vào các lỗ xốp micro. Theo tiêu chuẩn IUPAC, có thể phân loại lỗ xốp theo kích thước làm 3 nhóm chính [18](hình 1.

Sơ đồ mô tả mạng lỗ xốp của carbon hoạt tính [2]  Lỗ xốp macro với đường kính lỗ nhỏ hơn 2nm  Lỗ xốp meso với đường kính từ 2 – 50nm  Lỗ xốp macro với đường kính lớn hơn 50nm HVTH Huỳnh Sa Hoàng GVHD TS.Nguyễn Mạnh Tuấn 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành Vật liệu và Linh kiện Nano 1. Tầm quan trọng của kết cấu lỗ xốp Cấu trúc của carbon tự nhiện được xem như là sự trộn lẫn giữa những tinh thể tựa graphite và phi graphite bao gồm phức hợp các dạng thơm-béo. Tinh thể được hợp thành từ vài lớp graphene song song (khoảng 3 lớp), đường kính mỗi tinh thể khoảng 2nm hoặc bằng chín lần bề rộng của một chuỗi carbon lục giác [29]. Những liên kết đối xứng của carbon trên bề mặt tinh thể sẽ liên tục bị xáo trộn trong suốt quá trình hoạt tính tạo ra những khoảng trống không gian.

Liên kết bất đẳng hướng trong tinh thể sẽ hình thành với sự xuất hiện những khoảng trống đó. Trong suốt quá trình hoạt tính, khoảng không gian giữa những tinh thể sẽ làm suy giảm tính carbon của vật liệu và cùng lúc đó, một số nguyên tử carbon sẽ tách rời khỏi tinh thể. Kết quả là xuất hiện những rãnh nứt xuyên qua vùng graphite và những vị trí bên trong cấu trúc của carbon hoạt tính. Những rãnh nứt bên trong cùng với những mặt graphene song song sẽ tạo nên cấu trúc xốp và tăng diện tích bề mặt của vật liệu.

Những rãnh nứt này có nhiều kích cỡ khác nhau và được phân loại thành 3 nhóm chính như đã đề cập ở trên. Ngoài ra, trong nhiều quá trình hấp phụ khác, những phân tử hay nguyên tử của cả chất khí và chất lỏng có thể hấp phụ trên bề mặt carbon bằng những tương tác vật lý (lực tĩnh điện hay sự phân tán) hay bằng những liên kết hóa học. Do đó, diện tích bề mặt riêng là một trong những thông số quan trọng nhất để đánh giá khả năng hút bám của carbon hoạt tính. Diện tích bề mặt BET của carbon hoạt tính thông thường nằm trong khoảng 500-1500m2/g, tuy nhiên cũng đã tìm thấy diện tích BET lên đến 4000m2/g trong một số carbon siêu hoạt tính.

Giá trị diện tích bề mặt tương đối cao của carbon hoạt tính là một đặc trưng của loại vật liệu này bởi vì có sự phân bố các lỗ xốp micro và quá trình hấp phụ hầu hết đều diễn ra trên những lỗ xốp này. Ít nhất từ 90-95% tổng diện tích bề mặt đều có thể liên quan đến những lỗ xốp micro. Tuy nhiên, những lỗ xốp meso và macro cũng đóng vai trò quan trọng trong bất kỳ quá trình hấp phụ nào, bởi vì chúng là cầu nối cho các chất khí hấp phụ có thể đến được các lỗ xốp micro. Mặc dù diện tích bề mặt lỗ xốp meso có giá trị thấp trong hầu hết các loại carbon hoạt tính, nhưng một số loại có thể có diện tích lỗ micro lên đến 200m2/g hoặc hơn.

Thêm vào đó, còn có sự phụ thuộc vào kích cỡ phân tử khí hấp phụ, đặc biệt là một số phân tử khí hữu cơ có kích thước lớn, hiệu ứng sàng lọc phân tử cũng có thể xảy ra bởi vì kích thước lỗ xốp hẹp hơn kích thước phân tử khí hấp phụ và không thể xâm nhập vào lỗ xốp micro và có thể làm bít lại các lỗ xốp micro. Điều này có nghĩa là diện tích bề mặt sẽ giảm xuống mặc dù khả năng hấp phụ vẫn không thay đổi. HVTH Huỳnh Sa Hoàng GVHD TS.Nguyễn Mạnh Tuấn 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ