Tổng quan luận án
Công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước nhằm xây dựng hệ thống cơ quan quản lý nhà nước vững mạnh từ trung ương đến cơ sở là một đòi hỏi thực tiễn của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Theo Điều 109 Hiến pháp năm 1992, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Việc đổi mới, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ giữ vị trí trọng tâm nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh. Để phục vụ mục tiêu này, việc nghiên cứu lịch sử tổ chức và hoạt động của Chính phủ qua các giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn 1945 - 1954, là yêu cầu cấp thiết nhằm kế thừa bài học kinh nghiệm và khắc phục các điểm bất cập.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù đã có các công trình lịch sử, luật học và hồi ký đề cập đến từng khía cạnh, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống, toàn diện ở cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1945 - 1954 từ góc độ sử học.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung cụ thể:
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử và lý luận liên quan đến quá trình hình thành, biến đổi, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam trong thời kỳ lịch sử 1945 - 1954.
- Phân tích, rút ra những nhận định về bản chất, hình thức tổ chức, phương thức và hiệu quả hoạt động của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong điều kiện Chính phủ vừa mới ra đời đã phải song song thực hiện hai nhiệm vụ: vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.
- Bước đầu đúc kết một số bài học kinh nghiệm có thể tham khảo khi nghiên cứu vấn đề đổi mới cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước đang được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cách thức thành lập, cơ cấu tổ chức, quá trình biến đổi và những hoạt động đối nội, đối ngoại của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được trình bày từ góc độ lịch sử.
Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Trọng tâm từ ngày 2-9-1945 (Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân) đến ngày 20-7-1954 (ký kết Hiệp định Giơnevơ kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp). Luận án cũng khảo cứu ngược thời gian về giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 để làm rõ quan điểm lý luận và các hình thức tiền chính phủ.
- Không gian: Phạm vi lãnh thổ Việt Nam và các địa bàn triển khai hoạt động đối ngoại của Chính phủ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trước đây theo 4 nhóm tư liệu và công trình chính:
- Các công trình, hồi ký của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và thành viên Chính phủ:
- Tác giả Võ Nguyên Giáp (nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam) với các hồi ký: Những năm tháng không thể nào quên (1970), Những chặng đường lịch sử (1977), Chiến đấu trong vòng vây (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam. Các tác phẩm tái hiện bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành và hoạt động chỉ đạo của Chính phủ.
- Tác giả Lê Văn Hiến với công trình Nhật ký của một Bộ trưởng ghi chép đầy đủ về nội dung, thành phần, địa điểm, thời gian các phiên họp của Hội đồng Chính phủ.
- Tác giả Vũ Đình Hòe với công trình Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh phân tích tổ chức, hoạt động của Chính phủ và tư tưởng nhà nước pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Các công trình tổng kết lý luận của Trường Chinh (Cách mạng dân chủ nhân dân Việt Nam), Lê Duẩn (Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới), Phạm Văn Đồng (Một số vấn đề về nhà nước).
- Các công trình nghiên cứu tổng quan lịch sử dân tộc, lịch sử quân sự:
- Tập thể tác giả Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Hoàng Văn Thái, Hoàng Phương, Nguyễn Đình Thảo, Trịnh Vương Hồng, Nguyễn Anh Dũng...) với công trình Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 (1994).
- Các giáo trình lịch sử: Lịch sử Việt Nam, tập 2 (1985), Đại cương lịch sử Việt Nam - tập III (2001), Lịch sử Đảng CSVN (sơ thảo), tập 1 (1981), Giáo trình Lịch sử Đảng CSVN (2001).
- Các công trình nghiên cứu về nhà nước, pháp luật và cơ quan quyền lực:
- Viện Luật học với công trình Sơ thảo lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam (từ Cách mạng tháng Tám đến nay) (1983).
- Tập thể giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội với giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam (1998).
- Nhóm tác giả Lê Mậu Hãn, Nguyễn Văn Thư, Trần Duy Khang với công trình Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960 (2000).
- Chuyên khảo Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam (Văn phòng Quốc hội và NXB Chính trị quốc gia) và Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
- Sách tư liệu do Thông tấn xã Việt Nam phối hợp Văn phòng Chính phủ phát hành: Chính phủ Việt Nam 1945-1998 (1999).
- Bài viết trên các tạp chí chuyên ngành: Văn Tạo (Tạp chí Văn Sử Địa số 1-1959, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 8-1965), Lê Mậu Hãn - Ngô Đăng Tri (Tạp chí Khoa học số 6-7, 1990), Cao Văn Lượng (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4-2000).
- Các luận án có liên quan: Luận án Phó Tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Tố Uyên (Công cuộc bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân 1945-1946, 1996), Luận án Phó Tiến sĩ Quân sự của Nguyễn Minh Đức (Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp trong giai đoạn 1945-1954: Vai trò của Hồ Chí Minh trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện, 1996).
- Các công trình của học giả nước ngoài:
- Archimedes L.A. Patti: Why Viet Nam? (Tại sao Việt Nam, 1980).
- Philippe Devillers: Paris - Saigon - Hanoi (1988).
- Lăng Kỳ Hàn: Nhớ lại 16 năm cuộc đời quan chức ngoại giao cũ.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trên hoặc chỉ tiếp cận Chính phủ ở mức độ cung cấp dữ liệu biên niên sự kiện (như cuốn Chính phủ Việt Nam 1945-1998), hoặc tiếp cận thuần túy dưới góc độ luật học, quân sự, ngoại giao riêng lẻ. Luận án đi sâu hệ thống hóa toàn bộ tiến trình hình thành, cơ cấu tổ chức và hoạt động thực tiễn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ 1945 - 1954 dưới góc độ lịch sử, kết hợp phân tích lý luận về xây dựng bộ máy hành pháp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu sau:
- Cơ sở lý luận:
- Nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và cách mạng, tiêu biểu qua các tác phẩm: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (Ph. Ăng-ghen), Nhà nước và cách mạng (V.I. Lênin).
- Học thuyết về sự phân chia quyền lực (tam quyền phân lập của Montesquieu, Rousseau, Voltaire trong các nhà nước tư sản) và nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa có sự phân công, phối hợp chức năng hành pháp, lập pháp, tư pháp.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền, nhà nước của dân, do dân, vì dân, đề cao yếu tố dân tộc và chính thể cộng hòa dân chủ.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu chủ đạo: Kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp logic nhằm tái hiện quá trình phát triển của Chính phủ gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể, đồng thời rút ra các quy luật, nhận định bản chất.
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng kiến thức và thành quả nghiên cứu của các ngành Luật học, Quản lý nhà nước, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Chính trị học.
- Kỹ thuật xử lý: Thu thập, phân loại, so sánh, đối chiếu văn bản, phân tích và tổng hợp dữ liệu lịch sử.
- Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Tư liệu gốc tại các trung tâm lưu trữ: Chủ yếu khai thác tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III và Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, bao gồm biên bản các phiên họp Hội đồng Chính phủ; bản gốc các sắc lệnh, nghị định, thông tư của Chủ tịch nước và các Bộ trưởng; báo cáo thường niên của Chính phủ trước Quốc hội; báo cáo của các phái đoàn thanh tra; Công báo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Văn kiện Đảng và tác phẩm kinh điển: Văn kiện Đảng toàn tập, Hồ Chí Minh toàn tập, các tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin.
- Hồi ký và báo chí đương thời: Hồi ký của các thành viên Chính phủ (Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Hiến, Vũ Đình Hòe...); các báo Cứu quốc, Sự thật, Cờ giải phóng.
- Các công trình chuyên khảo, luận án, bài báo nghiên cứu trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chương 1 khái quát vị trí, chức năng của chính phủ trong bộ máy nhà nước, khảo cứu tổ chức bộ máy hành pháp thời phong kiến nhà Nguyễn và thời kỳ thuộc địa Pháp, làm rõ quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chính thể mới cùng các hình thức tiền chính phủ dẫn tới sự ra đời của Chính phủ lâm thời.
- Vị trí, chức năng của chính phủ trong bộ máy nhà nước:
- Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, nắm quyền hành pháp, tổ chức thực hiện các chính sách đối nội và đối ngoại.
- Luận án phân tích sự khác biệt giữa mô hình chính phủ tư sản (tổ chức theo thuyết tam quyền phân lập) và mô hình chính phủ xã hội chủ nghĩa (tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, quyền lực tập trung thống nhất nơi nhân dân nhưng có sự phân công, phối hợp khoa học giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp).
- Khái quát về Chính phủ thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945:
- Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XIX): Chính thể quân chủ chuyên chế tập quyền. Vua nắm toàn bộ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Bộ máy trung ương gồm Lục bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) do các Thượng thư đứng đầu; bổ sung Nội các (năm 1829) và Viện Cơ mật (năm 1834); áp dụng lệ "tứ bất" (không đặt tể tướng, không lấy trạng nguyên, không lập hoàng hậu, không phong vương tước).
- Thời kỳ Pháp thuộc: Thực dân Pháp chia Việt Nam thành ba xứ với ba quy chế chính trị khác nhau nằm trong Liên bang Đông Dương (thành lập theo Sắc lệnh ngày 17-10-1887): Nam Kỳ (thuộc địa, do Thống đốc đứng đầu), Bắc Kỳ (nửa bảo hộ, do Thống sứ đứng đầu), Trung Kỳ (bảo hộ, do Khâm sứ giám sát). Đứng đầu Liên bang là Toàn quyền Đông Dương, nắm toàn bộ quyền lực tối cao về lập pháp, hành pháp, tư pháp và quân sự. Giúp việc có Hội đồng Chính phủ Đông Dương (thành lập theo Sắc lệnh ngày 20-10-1911). Chính quyền phong kiến Nam triều bị thu hẹp quyền hạn, phụ thuộc hoàn toàn vào Pháp.
- Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam:
- Nguyễn Ái Quốc khảo sát các cuộc cách mạng tư sản (Mỹ năm 1776, Pháp năm 1789) và Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chỉ rõ hạn chế của nhà nước tư sản và khẳng định con đường cách mạng vô sản.
- Xác định nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền: thể hiện qua Bản Yêu sách của nhân dân An Nam (1919), yêu cầu thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật, ban hành Hiến pháp và lập Nghị viện.
- Chuyển hướng tư duy: Thay thế hình thức Xô viết công nông bằng chính thể cộng hòa dân chủ phù hợp với tính chất cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân.
- Dự kiến tiến trình 3 bước thành lập chính phủ: (1) Khởi nghĩa lấy được một địa phương thì lập chính phủ nhân dân địa phương; (2) Khởi nghĩa lấy được một địa phương khá to thì lập chính phủ nhân dân lâm thời toàn quốc; (3) Khởi nghĩa thắng lợi toàn quốc thì lập chính phủ nhân dân chính thức do toàn dân bầu ra.
- Các hình thức tiền chính phủ và sự thành lập Chính phủ lâm thời:
- Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931): Hình thức chính quyền sơ khai đầu tiên do "xã bộ nông" điều hành, quản lý trật tự, xóa bỏ sưu thuế đế quốc, chia lại ruộng công. Thất bại do chưa có tình thế cách mạng trực tiếp và phạm vi liên minh hẹp, để lại bài học về tập hợp lực lượng toàn dân.
- Mặt trận Việt Minh (thành lập ngày 19-5-1941): Đảm nhiệm chức năng chính quyền cách mạng từ cơ sở ("xã hoàn toàn", "tổng hoàn toàn") đến Trung ương thông qua Chương trình Cứu quốc.
- Ủy ban Dân tộc Giải phóng và UBND cách mạng (từ tháng 3 đến tháng 8-1945): Thành lập Khu giải phóng Việt Bắc (ngày 4-6-1945 gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang) với Ủy ban lâm thời Khu giải phóng, thủ đô là Tân Trào.
- Quốc dân Đại hội Tân Trào (ngày 16-8-1945): Hơn 60 đại biểu tham dự, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa và bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch.
- Cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 28-8-1945): Nhằm mở rộng đại đoàn kết, mời thêm nhân sĩ trí thức ngoài Việt Minh. Cơ cấu gồm 15 thành viên: 7 đảng viên cộng sản (Việt Minh), 3 thành viên Đảng Dân chủ, 5 nhân sĩ không đảng phái.
- Ngày 30-8-1945, phái đoàn Chính phủ nhận ấn kiếm thoái vị của vua Bảo Đại tại Huế. Ngày 2-9-1945, Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân tại Quảng trường Ba Đình và Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.
Chương 2: Tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau Cách mạng tháng Tám (9 - 1945) đến ngày Toàn quốc kháng chiến (19 - 12 - 1946)
Chương 2 phân tích quá trình củng cố, điều chỉnh cơ cấu tổ chức và các hoạt động đối nội, đối ngoại của Chính phủ trong giai đoạn 16 tháng sau ngày độc lập.
- Bối cảnh lịch sử:
- Tình thế đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn ("ngàn cân treo sợi tóc"): Nạn đói làm hơn 2 triệu người chết, hơn 90% dân số mù chữ, ngân quỹ quốc gia kiệt quệ.
- Quân đội nước ngoài tràn vào: Hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch ở phía Bắc vĩ tuyến 16 kéo theo lực lượng tay sai Việt Quốc, Việt Cách; quân đội Anh và Pháp ở phía Nam vĩ tuyến 16.
- Quá trình biến đổi cơ cấu tổ chức Chính phủ:
- Chuyển đổi từ Chính phủ lâm thời sang Chính phủ liên hiệp lâm thời (thành lập ngày 1-1-1946) nhằm mở rộng đoàn kết, hòa giải với các đảng phái đối lập.
- Tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (ngày 6-1-1946). Tại kỳ họp thứ nhất (ngày 2-3-1946), Quốc hội thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, có sự tham gia của đại diện Việt Quốc, Việt Cách và các nhân sĩ độc lập.
- Kỳ họp thứ hai của Quốc hội (tháng 11-1946) thông qua Hiến pháp năm 1946 và thành lập Chính phủ mới không còn các phần tử chống đối phản động.
- Hoạt động đối nội và đối ngoại của Chính phủ:
- Hoạt động đối nội: Giải quyết nạn đói thông qua phát động phong trào tăng gia sản xuất, lập "Hũ gạo cứu đói"; giải quyết nạn mù chữ thông qua Nha Bình dân học vụ; ban hành Sắc lệnh xây dựng chính quyền các cấp (Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 quy định tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp); giải quyết khó khăn tài chính qua phong trào "Tuần lễ vàng", Quỹ Độc lập và phát hành đồng tiền Việt Nam (tiền tài chính).
- Hoạt động đối ngoại: Thực hiện sách lược ngoại giao mềm dẻo nhằm bảo vệ chính quyền non trẻ; phân hóa kẻ thù (hòa hoãn với Tưởng ở miền Bắc để đối phó Pháp ở miền Nam); ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946 với Chính phủ Pháp nhằm tranh thủ thời gian hòa bình chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Chương 3: Tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ tháng 12-1946 đến tháng 7-1954
Chương 3 trình bày tổ chức và hoạt động của Chính phủ trong suốt cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp.
- Đường lối kháng chiến và chuyển hướng tổ chức thời chiến:
- Ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Chính phủ ban hành Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh.
- Cơ quan Chính phủ di chuyển an toàn lên căn cứ địa Việt Bắc, tổ chức làm việc theo phương thức thời chiến, tinh giản biên chế, thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao.
- Hợp nhất Ủy ban Kháng chiến và Ủy ban Hành chính thành Ủy ban Kháng chiến Hành chính (UBKCHC) từ cấp liên khu đến cơ sở theo Sắc lệnh số 91/SL (năm 1947), tập trung sự lãnh đạo và điều hành thống nhất giữa quân sự và hành chính.
- Mở rộng thành phần Chính phủ, bổ sung nhiều nhân sĩ, trí thức ngoài Đảng tham gia gánh vác công việc điều hành quốc gia.
- Hoạt động chỉ đạo toàn diện của Chính phủ:
- Quân sự - Quốc phòng: Chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích); phối hợp tổ chức và chỉ đạo hậu cần cho các chiến dịch lớn: Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, Chiến dịch Biên giới 1950, các chiến dịch đồng bằng và trung du Bắc Bộ, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
- Kinh tế - Tài chính: Xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự cấp tự túc; thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (năm 1951); phát hành giấy bạc Ngân hàng; chỉ đạo chính sách giảm tô, giảm tức và thực hiện Luật Cải cách ruộng đất (năm 1953) nhằm bồi dưỡng sức dân.
- Văn hóa - Giáo dục - Y tế: Triển khai cải cách giáo dục năm 1950; duy trì phong trào xóa nạn mù chữ; xây dựng mạng lưới y tế phục vụ chiến trường và nhân dân vùng căn cứ.
- Ngoại giao: Phá vỡ thế cô lập, thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc, Liên Xô và các nước Dân chủ Nhân dân (năm 1950); cử phái đoàn tham gia Hội nghị Giơnevơ, đấu tranh ngoại giao buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (ngày 20-7-1954), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Bảng tổng hợp các mốc chuyển đổi cơ cấu tổ chức Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1945 - 1954:
| Thời gian thành lập |
Tên gọi cơ cấu Chính phủ |
Đặc điểm cơ cấu và nhân sự |
Bối cảnh và nhiệm vụ chủ yếu |
| 28-8-1945 (ra mắt 2-9-1945) |
Chính phủ lâm thời nước VNDCCH |
15 thành viên (Chủ tịch kiêm Ngoại giao, 12 Bộ trưởng phụ trách bộ, 2 Bộ trưởng không bộ). 7 Việt Minh/Cộng sản, 3 Đảng Dân chủ, 5 nhân sĩ không đảng phái. |
Khởi nghĩa thắng lợi; lãnh đạo toàn dân giữ vững độc lập, giải quyết giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. |
| 1-1-1946 |
Chính phủ liên hiệp lâm thời |
Mở rộng thành phần liên hiệp với Việt Quốc, Việt Cách; chuẩn bị Tổng tuyển cử. |
Đối phó sức ép quân Tưởng và các lực lượng đối lập; củng cố khối đoàn kết. |
| 2-3-1946 |
Chính phủ liên hiệp kháng chiến |
Được Quốc hội khóa I phê chuẩn; Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch. |
Lãnh đạo kháng chiến ở miền Nam, đàm phán ngoại giao với Pháp (Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946). |
| 3-11-1946 |
Chính phủ mới (sau Hiến pháp 1946) |
Quốc hội khóa I kỳ họp thứ hai thông qua; tập hợp nhân sĩ, trí thức yêu nước, loại bỏ các phần tử phản động. |
Chuẩn bị kháng chiến toàn quốc; xây dựng thể chế nhà nước theo Hiến pháp 1946. |
| 1947 - 1954 |
Chính phủ kháng chiến (thời kỳ chiến khu) |
Cơ cấu tinh gọn; thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao; sáp nhập UBKCHC các cấp; bổ sung các nhân sĩ, trí thức. |
Lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ; ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954. |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 4 đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử và thực tiễn:
- Đóng góp về nguồn tư liệu và hệ thống hóa lịch sử: Luận án nghiên cứu và trình bày một cách chân thực, có hệ thống toàn bộ quá trình ra đời, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gắn với bối cảnh lịch sử 1945 - 1954. Qua đó, bổ sung tư liệu và các nhận định khách quan cho các công trình nghiên cứu lịch sử Chính phủ Việt Nam nói riêng và lịch sử Nhà nước - Pháp luật Việt Nam nói chung.
- Đóng góp về phân tích lý luận bộ máy nhà nước: Không dừng lại ở việc mô tả sự kiện, luận án tập trung phân tích, lý giải bản chất, hình thức tổ chức, phương thức và hiệu quả hoạt động của Chính phủ trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Luận án làm sáng tỏ quá trình vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng cơ quan hành pháp trong điều kiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
- Đóng góp về so sánh lịch sử: Bước đầu thực hiện việc so sánh, đối chiếu cách thức tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam giai đoạn này với mô hình chính phủ của một số quốc gia trên thế giới, đưa ra các kết luận gắn liền với thực tiễn Việt Nam.
- Đúc kết bài học kinh nghiệm phục vụ cải cách hành chính: Từ thực tiễn lịch sử 1945 - 1954, luận án đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay:
- Bài học về quán triệt nguyên tắc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững pháp chế cách mạng.
- Bài học về đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc trong cơ cấu thành phần Chính phủ; trọng dụng nhân tài và trí thức.
- Bài học về xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, linh hoạt, thích ứng với hoàn cảnh thực tiễn và biến động của lịch sử.
- Bài học về phân công, phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương, thống nhất chỉ đạo điều hành hành chính và quốc phòng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình:
- Luận án được thực hiện chủ yếu dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, do đó việc đối chiếu, so sánh mô hình Chính phủ Việt Nam thời kỳ 1945 - 1954 với chính phủ các nước khác trên thế giới mới chỉ dừng lại ở mức độ bước đầu và còn hạn chế.
- Khối lượng tư liệu lưu trữ gốc về hoạt động của các bộ, ngành và chính quyền địa phương trong thời kỳ chiến tranh vô cùng lớn và phân tán, một bộ phận tư liệu chưa được khai thác, xử lý triệt để trong khuôn khổ một luận án.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu liên ngành giữa Sử học, Luật học và Khoa học Quản lý hành chính công để phân tích chuyên sâu về cơ chế ban hành văn bản quy phạm pháp luật và kiểm soát quyền lực của cơ quan hành pháp giai đoạn 1945 - 1954.
- Đi sâu khai thác các phông lưu trữ chuyên ngành của từng Bộ, ngành thành viên Chính phủ và tài liệu lưu trữ của Ủy ban Kháng chiến Hành chính các Liên khu (Liên khu 1, 2, 3, 4, 5, Nam Bộ) để làm rõ hơn hiệu quả thực thi chính sách ở cấp cơ sở.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Khoa học Quản lý, Hành chính học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử bộ máy nhà nước trung ương và thể chế hành chính Việt Nam.
- Cán bộ làm công tác hoạch định chính sách, cải cách hành chính nhà nước: Tham khảo các bài học lịch sử về tinh giản bộ máy, kết hợp quản lý hành chính với nhiệm vụ thực tiễn, quy trình ban hành sắc lệnh và phương thức phát huy khối đại đoàn kết trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
- Độc giả quan tâm đến lịch sử Việt Nam hiện đại: Cung cấp nguồn tư liệu xác thực về quá trình hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp.
Câu hỏi thường gặp
-
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập trên cơ sở nào và cơ cấu thành phần ra sao?
Chính phủ lâm thời được cải tổ từ Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (do Quốc dân Đại hội Tân Trào bầu ra ngày 16-8-1945) vào ngày 28-8-1945. Chính phủ gồm 15 thành viên: 1 Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Ngoại giao (Hồ Chí Minh), 12 Bộ trưởng phụ trách các bộ và 2 Bộ trưởng không bộ. Cơ cấu chính trị gồm 7 đảng viên cộng sản (Việt Minh), 3 thành viên Đảng Dân chủ và 5 nhân sĩ không đảng phái.
-
Vì sao mô hình Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931) không được lựa chọn làm mô hình chính quyền sau Cách mạng tháng Tám năm 1945?
Mô hình Xô viết Nghệ Tĩnh mang tính chất chính quyền chuyên chính công nông binh, cơ cấu hẹp hòi, cô lập và loại bỏ các giai cấp, tầng lớp tiến bộ khác. Trong khi đó, yêu cầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, đòi hỏi phải đoàn kết toàn dân. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã thay thế bằng mô hình chính thể cộng hòa dân chủ, đại diện cho quyền lợi của toàn thể dân tộc.
-
Tiến trình thành lập Chính phủ cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng dự kiến gồm những bước nào?
Quá trình thành lập Chính phủ được dự kiến qua 3 bước: (1) Khi vũ trang khởi nghĩa giành được một địa phương thì lập ngay chính phủ nhân dân ở địa phương đó; (2) Khi vũ trang khởi nghĩa lấy được một địa phương khá to thì lập chính phủ nhân dân lâm thời toàn quốc; (3) Khi vũ trang khởi nghĩa thắng lợi trên phạm vi toàn quốc thì lập chính phủ nhân dân chính thức do toàn dân bầu ra.
-
Tổ chức bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam trước năm 1945 được cấu trúc như thế nào?
Thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương (năm 1887), đứng đầu là Toàn quyền Đông Dương nắm toàn bộ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Việt Nam bị chia cắt thành ba xứ với ba quy chế: Nam Kỳ là xứ thuộc địa (đứng đầu là Thống đốc), Bắc Kỳ là xứ nửa bảo hộ (đứng đầu là Thống sứ), Trung Kỳ là xứ bảo hộ (đứng đầu là Khâm sứ). Bộ máy phong kiến Nam triều vẫn được duy trì nhưng bị tước bỏ thực quyền và đặt dưới sự kiểm soát của Pháp.
-
Luận án đã khai thác những nguồn tư liệu gốc chủ yếu nào tại các trung tâm lưu trữ?
Luận án khai thác nguồn tư liệu gốc tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III và Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, bao gồm: biên bản gốc các phiên họp Hội đồng Chính phủ; bản gốc các sắc lệnh, nghị định, thông tư của Chủ tịch nước, Chính phủ và các Bộ trưởng; các báo cáo thường niên của Chính phủ trước Quốc hội; báo cáo thanh tra Chính phủ và Công báo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Thị Rồi là công trình khoa học lịch sử nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về sự ra đời, biến đổi cơ cấu tổ chức và hoạt động đối nội, đối ngoại của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1945 - 1954. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử, phương pháp logic và khai thác nguồn tư liệu lưu trữ gốc phong phú, luận án đã làm rõ bản chất của một chính phủ cách mạng vừa kháng chiến vừa kiến quốc dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Công trình không chỉ góp phần bổ sung tư liệu xác thực cho lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam mà còn đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn phục vụ sự nghiệp cải cách nền hành chính nhà nước hiện nay.