Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Kế hoạch quản lý rừng KHQLR là một công cụ hữu hiệu để thực hiện quản lý rừng bền vững về cả kinh tế, xã hội và môi trường bảo đảm tính cạnh tranh sản phẩm. Lập KHQLR vừa để đáp ứng đòi hỏi xin cấp chứng chỉ rừng theo nguyên tắc FSC quốc tế đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua cải thiện và nâng cao năng lực quản lý của các doanh nghiệp, công ty.
Lập KHQLR là một hoạt động không thể thiếu trong QLRBV, là công việc đầu tiên cần tiến hành trước khi thực hiện quản lý một khu rừng. Kế hoạch quản lý rừng thuộc nguyên tắc 7 trong 10 nguyên tắc quản lý rừng bền vững của FSC. QLRBV đòi hỏi một phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng lồng ghép và việc giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp với các nhiệm vụ chính là: + Đánh giá tiềm năng nguồn rừng + Lập bản đồ chức năng rừng + Những tiêu chí và chỉ số cần đạt được trong kế hoạch quản lý rừng. + Khoanh vùng rừng thành khu vực sản xuất và khu bảo vệ.
+ Điều tra quản lý rừng và tính khối lượng được phép khai thác hàng năm + Viết kế hoạch điều chế rừng trung hạn + Lập kế hoạch triển khai + Thực hiện và giám sát kế hoạch từng lô. + Đánh giá nội bộ các hoạt động lâm nghiệp và tiến độ thực hiện giữa kỳ. + Đánh giá độc lập về tính bền vững. + Kế hoạch quản lý rừng sẽ được định kỳ điều chỉnh nhằm kết hợp các kết quả giám sát hoặc các thông tin khoa học kỹ thuật mới, cũng như đáp ứng những thay đổi về môi trường và kinh tế – xã hội.
+ Cơ sở của việc định mức khai thác rừng hàng năm và việc chọn loài. Quản lý rừng bền vững 1. Khái niệm về phát triển bền vững và quản lý rừng bền vững Vấn đề phát triển bền vững là một nhu cầu tất yếu nếu con người muốn tồn tại lâu dài, hài hoà với tự nhiên và duy trì các hệ sinh thái phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế bền vững của mình cho các thế hệ sau này. - Khái niệm “Phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường của những năm thập niên 70 của thế kỷ 20.
Năm 1987 trong báo cáo “tương lai của chúng ta” của hội đồng thế giới về phát triển bền vững họp tại Brundland (WCED. 1987) “phát triển bền vững” được định nghĩa như sau: “Là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau” - Phát triển bền vững là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng việc mở rộng sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá. Phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: Phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy rừng và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Khái niệm này hiện đang là mục tiêu mà nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa.
riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo, tôn trọng những quá trình c 5 sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Do đó phát triển bền vững cần phải hiểu theo nghĩa là đáp ứng những mong mỏi, nguyện vọng của con người ở thế hệ hiện tại về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển tốt, đồng thời cũng không làm ảnh hưởng đến những mong muốn, nguyện vọng của những con người ở thế hệ tương lai. Tức là sự phát triển này cần là sự phát triển xoáy chôn ốc, tiến theo hướng mở rộng và ổn định.
Trải qua các giai đoạn lịch sử tiến hoá dài, nhận thức của con người về rừng ngày càng tốt hơn, đúng hơn. Đặc biệt từ hội nghị thượng đỉnh toàn cầu 1992 tại Rio deJaneiro (Brazil) thì rừng cần được quản lý tốt để cung cấp ổn định lâu dài cho con người các lợi ích kinh tế, các lợi ích môi trường và các lợi ích xã hội. Vấn đề mà toàn thế giới và từng quốc gia đều có sự quan tâm đặc biệt là làm thế nào để quản lý rừng cho tốt để đảm bảo bền vững mà trong đó các giá trị môi trường của rừng đối với con người là không thể thay thế được. Có nhiều định nghĩa về QLRBV mà ta có thể sử dụng được.
Tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO và trong tiến trình Hensinki: Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội” Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác” Nói ngắn gọn, mục tiêu của QLRBV là phải đạt được sự bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội ở những khu rừng được quản lý. Bằng giải pháp QLRBV rừng sẽ vừa đảm bảo đáp ứng các nhu cầu kinh tế vừa thoả mãn các lợi ích về môi c 6 trường và xã hội. QLRBV có thể được thiết lập và thực hiện ở những phạm vi khác nhau như: chủ rừng (lâm trường, doanh nghiệp hay công ty lâm nghiệp, hộ lâm nghiệp v.), huyện, tỉnh, quốc gia, vùng hoặc toàn cầu, tuy nhiên những quan điểm và nguyên tắc chủ yếu nói chung không có thay đổi lớn, cho dù là ở vùng rừng ôn đới hay nhiệt đới. Trên thế giới hiện đã có một số bộ nguyên tắc QLRBV cấp quốc gia (Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia v.) và cấp quốc tế như của: Tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal, hội đồng quản trị rừng (FSC), và của tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO), gồm một bộ cho rừng tự nhiên và một bộ cho rừng trồng được vận dụng rộng rãi để đánh giá quản lý rừng ở nhiều nước.
Điều quan trọng nhất cần giải thích là vì sao QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nước nông nghiệp tiên tiến và hàng loạt các quốc gia đang phát triển có rừng cần quản lý bền vững, tự nguyện tham gia, mặc dù không ai bắt buộc. Đây là vấn đề nhận thức của quốc gia là làm sao bảo vệ được rừng mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng, nhận thức của chủ rừng về quyền xuất khẩu vào mọi thị trường thế giới và quyền bán lâm sản với giá cao. Vai trò của rừng đối với cuộc sống của con người hiện tại được đánh giá và được thiết kế trong rất nhiều Chương trình, hiệp ước, Công ước quốc tế (CITES-1973, RAMSA-1998, UNCED-1992, CBD-1994, UNFCCC-1994, UNCCD-1995). Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) và các nguyên tắc QLRBV Vào những năm cuối thập niên 80 trước tình hình chặt phá và khai thác rừng bừa bãi.
Các Viện Nghiên cứu Môi trường của nhiều quốc gia đã dần nhìn thấy được những tác hại nghiêm trọng của việc này đối với đời sống con người như thế nào. Nhưng mãi đến năm 1992 lần đầu tiên Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) mới đề ra những tiêu chí cơ bản cho việc quản lý bền vững cho rừng nhiệt đới và kêu gọi các tổ chức quốc tế tham gia. Hưởng ứng mạnh mẽ các vấn đề quản lý rừng bền vững ngay sau đó các hiệp hội về rừng đã ra đời. + Hội tiêu chuẩn Canada (CSA) Năm 1993 + Hội đồng quản trị rừng (FSC) Năm 1994 + Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) năm 1994 c 7 + Tổ chức nhãn sinh thái Indonesia (LEI) năm 1998 + Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (MTCC) năm 1998 + Chứng chỉ rừng Chi lê (CertforChile) năm 1999 + Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC) năm 1999 Bên cạnh đó nhờ sáng kiến của những người sử dụng và kinh doanh gỗ về việc chỉ buôn bán sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu rừng đã được quản lý bền vững, từ đó một loạt tổ chức quản lý rừng bền vững đã ra đời và có phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới, và đề xuất nguyên tắc QLRBV với các tiêu chí như sau: + MONTREAL cho rừng tự nhiên (RTN) ôn đới: 7 tiêu chí + ITTO cho rừng tự nhiên: 7 tiêu chí + PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki): 6 tiêu chí + AFRICAL TIMBER ORGANIZATION INITIATIVE cho rừng khô châu Phi + CIFOR cho rừng tự nhiên nói chung: 8 tiêu chí + FSC cho mọi kiểu rừng toàn thế giới: 10 nguyên tắc v,v.
Trong số này, FSC là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng nhất toàn thế giới. Đây là một tổ chức phi chính phủ có uy tín nhất trong lĩnh vực quản lý rừng và buôn bán rừng với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế liên quan đến lĩnh vực quản lý rừng và buôn bán lâm sản.