Chương 1. Thực trạng nông thôn tỉnh Thái Nguyên trước năm 2008. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013. Nhận xét chung và kinh nghiệm.
6 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1: THỰC TRẠNG NÔNG THÔN THÁI NGUYÊN TRƢỚC NĂM 2008 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên 1. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ có nhiều lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế. Diện tích tự nhiên của Thái Nguyên là 3.541 km2, chiếm 1,13% diện tích cả nước.
Phía Bắc tỉnh Thái Nguyên giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và Tuyên Quang, phía Đông giáp với tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang, phía Nam giáp với thủ đô Hà Nội. Vị trí địa lý này tạo điều kiện thuận lợi cho Thái Nguyên trong việc giao lưu, buôn bán hàng hóa với các tỉnh lân cận. Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính, bao gồm: Thành phố Thái Nguyên; thị xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương. Tổng số gồm 143 xã, trong đó có 75 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du.
Thái Nguyên có 3 mặt được bao bọc bởi hệ thống núi cao, địa hình phân chia thành 3 vùng khác nhau, gồm: vùng núi cao (các huyện Định Hóa, Võ Nhai, phía Tây Phổ Yên và Bắc Phú Lương). Vùng đồi thấp (nhiều đồi, ít ruộng) ở phía Nam Đại Từ, phía Nam Phú Lương, Đồng Hỷ, Phía Bắc Phú Bình và phía Tây thành phố Thái Nguyên. Vùng ruộng nhiều, đồi ít bao gồm: Phổ Yên, Phú Bình, Sông Công và vùng giữa Đại Từ. 7 z Thái Nguyên nằm ở vị trí có hai con sông chính chảy qua là sông Cầu và sông Công.
Chính nhờ có hệ thống sông này mà Thái Nguyên hình thành các tuyến đường thủy nối liền Thái Nguyên với các trung tâm kinh tế của miền Bắc. Đó là tuyến Đa Phúc - Hải Phòng dài 161 km, tuyến Đa Phúc - Hòn Gai dài 211 km, rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế - thương mại- du lịch với các tỉnh góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế của Thái Nguyên. Đặc biệt, với hai hệ thống sông này còn là nơi cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp của địa phương. Khí hậu: khí hậu Thái Nguyên có bốn mùa, trong đó có 2 đặc điểm ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, đó là: Mưa nhiều bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung chủ yếu vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8, với lượng mưa bình quân đạt 350mm.
Nhiệt độ trung bình trong tháng từ 23 độ C đến 28 độ C, lượng mưa chiếm 85% cả năm. Mùa khô (mùa đông) bắt đầu từ tháng 11 của năm trước đến tháng 3 năm sau. Đặc trưng của thời tiết trong những tháng này là lạnh, mưa ít, nhiệt độ trung bình dưới 20 độ C, tháng lạnh nhất là tháng 1 (15,2 độ C). Số giờ nắng trong năm giao động từ 1.750 giờ, phân bố đều cho các tháng trong năm.
Độ ẩm trung bình toàn tỉnh từ 82 - 84%. Nhưng do địa hình chia cắt nên đã ảnh hưởng và hình thành 3 tiểu vùng khí hậu rõ rệt trong mùa khô. Đó là vùng lạnh nhiều phía Bắc huyện Võ Nhai, Định Hóa; vùng lạnh vừa là phía Bắc Đại Từ, Bắc Phú Lương, Nam Võ Nhai, Tây Bắc Đồng Hỷ; vùng lạnh ít là Nam Đại Từ, Phổ Yên, Sông Công, Phú Bình, TP. Thái Nguyên, Nam Đồng Hỷ.
Qua đặc điểm khí hậu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cho thấy mùa khô không kéo dài, giữa các địa phương có sự phân bố khác nhau. Tuy có một số khó khăn nhưng sẽ là thích hợp cho việc đa dạng hóa cây trồng ngắn hạn thích nghi với mùa khô ở các địa phương. Mùa mưa kéo dài, khí hậu mát mẻ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu và trồng cây dài 8 z ngày. Khí hậu thuận lợi cũng chính là điều kiện để tỉnh Thái Nguyên tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa, lễ hội phong phú.
Điều kiện đất đai: Thái Nguyên có diện tích đất tự nhiên là 353.150 ha, diện tích đất nông nghiệp là 96.673,37 ha, trong đó diện tích đất lúa, đất mùa là 52. Đất núi có nguồn góc hình thành do sự phong hóa trên các đá Macma, đá biến chất và trầm tích. Đất đồi thành phần chủ yếu là các dạng Feralit đỏ, nâu, vàng phát triển trên đá mẹ Gabrô biến chất và phiến thạch sét. Đất ruộng phần lớn hình thành do bồi tụ, dốc tụ và chịu ảnh hưởng trực tiếp của đá mẹ.
Vì vậy, đất ruộng của Thái Nguyên nhìn chung có thành phần cơ giới nhẹ, pha cát, đất xốp và nghèo dinh dưỡng. Quy mô phân bố diện tích đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng giữa các huyện không đồng đều và thành phần các loại đất cũng khác nhau. Mặt khác, diện tích đất chưa sử dụng vẫn còn lớn 49.049 ha chiếm 13,84% tổng diện tích. Từ điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu của tỉnh Thái Nguyên có thể phân ra các vùng sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản như sau: - Vùng có ưu thế phát triển kinh tế từ ruộng, gồm: Phú Bình, Phổ Yên, Sông Công, Đại Từ.
- Vùng có ưu thế phát triển kinh tế vườn đồi, gồm: Đại Từ, TP. Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Lương, Định Hóa, Phú Bình, Phổ Yên, Sông Công. - Vùng có ưu thế phát triển kinh tế lâm nghiệp, vườn rừng: Võ Nhai, Định Hóa, Đồng Hỷ, Đại Từ. - Vùng có ưu thế phát triển nuôi trồng thủy sản: Định Hóa, Phú Lương, Đại Từ.
Tài nguyên rừng: Với diện tích đất lâm nghiệp là 152.000 ha (chiếm 43% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh), Thái Nguyên có lợi thế trong việc khai thác và phát triển kinh tế rừng. Tuy nhiên, diện tích rừng của Thái Nguyên ngày càng thu hẹp, tài nguyên rừng bị suy giảm. Các loại cây như: 9 z vầu, nứa và các lại đặc sản rừng, dược liệu và động vật rừng bị giảm sút nghiêm trọng. Thực trạng này đặt ra cho tỉnh Thái Nguyên một nhiệm vụ rất nặng nề trong việc bảo vệ và trồng rừng.
Tài nguyên khoáng sản: Thái Nguyên có nguồn tài nguyên khoáng sản và tiềm năng đất đai khá lớn, đã và đang được khai thác có hiệu quả. Trong lòng đất Thái Nguyên chứa đựng nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng. Theo tài liệu điều tra của Sở Tài nguyên và Môi trường khoáng sản phân bố tập trung tại các huyện: Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai. Khoáng sản nhiên liệu: Sau Quảng Ninh, Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ 2 trong cả nước, đáp ứng nhu cầu cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng, nhiệt điện và các nhu cầu khác không chỉ trong tỉnh Thái Nguyên.
Khoáng sản kim loại: Thái Nguyên là tỉnh giàu tài nguyên kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm và phong phú với các chủng loại: chì, kèm, thiếc, vofram, titan. Trong đó, chì, kẽm có 19 mỏ và điểm quặng, tập trung ở các khu vực: vùng Langhit (Đồng Hỷ), trữ lượng trên 130.000 tấn, vùng Nam núi Pháo, trữ lượng trên 23. Thiếc tập trung ở vùng La Bằng, phía tây núi Pháo, trữ lượng dự kiến khoảng 13,1 nghìn tấn thiếc và 2. Thiếc sa khoáng tập trung ở vùng Phục Linh.
Qua đánh giá sơ bộ, trữ lượng thiếc sa khoáng C1+ C2 vào khoảng 1130 tấn. Kim loại quý hiếm có vàng với 20 mỏ và điểm quặng, trong đó có 10 điểm quặng và vàng gốc. Khoáng sản phi kim: Thái Nguyên có rất nhiều khoáng sản phi kim phục vụ cho công nghiệp xây dựng, như: đá vôi, đá vôi trợ dung, đá vôi ốp lát. Bên cạnh đó còn có Đôlômít có 3 mỏ đã được thăm dò, khai thác ở Võ Nhai.
Đất sét có tổng trữ lượng đã được thăm dò là hơn 60 triệu tấn, tập trung ở cùng Cúc Đường (La Hiên), Khe Mo (Đồng Hỷ). Sét cao lanh có nhiều nơi, trong đó có một mỏ sét trữ lượng lớn, chất lượng cao phát hiện ở 10 z Đại Từ, loại sét này có thể sử dụng để sản xuất gốm sứ, gạch chịu lửa. Ngoài ra, Thái Nguyên còn có trữ lượng cát, cuội, sỏi khá lớn, phân bố chủ yếu ở sông Cầu, sông Công. Với lượng khoáng sản phong phú chính là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế của Thái Nguyên, đặc biệt là phát triển các nghành công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến khoáng sản.
Kinh tế phát triển và được mở rộng cũng là điều kiện để phát triển đời sống nhân dân ở Thái Nguyên. Tài nguyên du lịch: Thái Nguyên có nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên, như Hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng, các di tích lịch sử như: An toàn khu Việt Bắc - ATK, có rừng Khuôn Mánh và di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đá cũ ở huyện Võ Nhai. Bên cạnh đó, còn có các di tích kiến trúc nghệ thuật chùa, đình, đền tại nhiều địa phương trong tỉnh: bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Đền Đuổm, chùa Hang, chùa Phủ Liễn, đền Xương Rồng, đền Đội Cấn. Hiện nay, Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch khi du lịch hang Phượng Hoàng, suối Mở Gà, hồ Suối Lạnh.
và hệ thống khách sạn chất lượng cao. Năm 2007, Thái Nguyên đã tổ chức thành công năm du lịch quốc gia hướng về cội nguồn chiến khu Việt Bắc, năm 2011 và 2013 tổ chức thành công Liên hoan Trà quốc tế lần thứ nhất và thứ hai Thái Nguyên - Việt Nam thu hút hàng triệu khách du lịch đến thăm quan, trong đó có nhiều khách nước ngoài. Thái Nguyên nằm trong khu vực có điều kiện tự nhiên xã hội thuận lợi cho phát triển kinh tế. Với những lợi thế đó nhân dân Thái Nguyên từ lâu đời đã gắn bó với nông nghiệp, phát triển công nghiệp khai khoáng, du lịch.
Trong những năm kháng chiến, Thái Nguyên là một căn cứ địa cách mạng nên sản xuất luôn được duy trì, nông nghiệp có trình độ thâm canh cao, đạt năng suất lương thực khá, không chỉ phục vụ nhu cầu lương thực tại chỗ mà còn phục vụ cho tiền tuyến. Sau đổi mới Thái Nguyên tăng 11 z cường phát huy tối đa những lợi thế chuyển sản xuất tự cấp, tự túc sang một nền sản xuất hàng hóa. Điều kiện kinh tế - xã hội Với điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi, Thái Nguyên có điều kiện phát triển đồng đều cả ba lĩnh vực kinh tế là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.