Chương 1: Những cơ sở để Đảng bộ huyện An Lão lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2015 Chương 2: Đảng bộ huyện An Lão lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2015 Chương 3: Nhận xét và những kinh nghiệm được rút ra trong quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới 7 z CHƢƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG BỘ HUYỆN AN LÃO LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015 1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa-xã hội 1. Điều kiện tự nhiên An Lão là một huyện ngoại thành, có vị trí quan trọng trên các lĩnh vực chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội và quốc phòng - an ninh của thành phố Cảng Hải Phòng. Địa danh An Lão có từ lâu đời nhưng trong lịch sử đã nhiều lần thay đổi do điều chỉnh địa giới hành chính, chia tách, sáp nhập và được tái lập vào ngày 8/8/1988 theo Quyết định số 100/HĐBT ngày 6/6/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng. Huyện An Lão nằm ở phía Tây Nam, cách trung tâm thành phố khoảng 18 km, gần trung tâm đô thị và các khu công nghiệp, có vị trí từ kinh độ 1060 27'30'' đến 1060 41'15'', vĩ độ Bắc từ 200 42'30'' đến 200 52'30'', phía Bắc giáp huyện An Dương, phía Nam giáp huyện Tiên Lãng, phía Đông giáp quận Kiến An, phía Đông Nam giáp huyện Kiến Thụy, phía Tây Tây Bắc giáp huyện Nam Thanh - Kinh Môn Hải Dương.
Đến năm 2003, An Lão có diện tích tự nhiên là 11.458,45 ha chiếm 7,4% diện tích Hải Phòng, gồm thị trấn An lão, thị trấn Trường Sơn và 15 xã: An Thái, An Thắng, An Thọ, An Tiến, Bát Trang, Chiến Thắng, Mỹ Đức, Quang Hưng, Quang Trung, Quốc Tuấn, Tân Dân, Tân Viên, Thái Sơn, Trường Thành, Trường Thọ. An Lão là huyện đồng bằng Duyên hải Bắc Bộ, đặc trưng địa lý của huyện là ở giữa vùng đồng bằng có 1 dãy núi chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam với nhiều điểm cao trên 100m. Trong đó có Núi Voi với diện tích gần 300ha nằm ở các xã An Tiến và Trường Thành bên bờ sông Lạch Tray. Khí hậu địa phương huyện An Lão thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 28,80C, độ ẩm 85%, lượng mưa 1.820mm/ năm, lượng mưa chênh lệch rất lớn vào hai mùa.
Bình quân có từ 3 - 5 trận bão/ năm vào tháng 5 - tháng 9, là vùng nhạy cảm với bão và xâm nhập 8 z mặn bởi vì huyện An Lão bao bọc trực tiếp bởi hệ thống sông Thái Bình (Văn Úc, Lạch Tray, Đa Độ) và chịu ảnh hưởng của thuỷ triều. Trên địa bàn huyện, hệ thống sông ngòi phân bố đều: phía bắc là sông Lạch Tray, chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều. Sông Đa Độ còn gọi là sông Cửu Biều, chảy từ tây - bắc xuống đông - nam uốn khúc theo nhiều vùng giữa huyện dài 33 km đổ ra biển ở cửa Cổ Trai, từ năm 1960 đã đắp đập ngăn lại mang tên đập Cổ - Tiểu để ghi tên hai cửa biển Cổ Trai, Cửa Tiểu của hai Tỉnh Kiến An - Gò Công kết nghĩa thời kỳ chống Mỹ. Đây là dòng dẫn nước chính của huyện, chiếm khoảng 4 đến 7 triệu m3.
Sông Văn Úc, ranh giới tự nhiên giữa An Lão và Tiên Lãng dài 23 km có lưu lượng lớn, nhất là về mùa mưa. Do ảnh hưởng của chế độ nhật triều, mực nước bình quân vụ chiêm xuân ở vùng trung tâm từ 1,36 m đến 1,76 m. Sông ngòi ở đây cung cấp nguồn nước tưới dồi dào, dẫn phù sa làm mầu mỡ đồng ruộng và là nơi nuôi thả, khai thác thủy sản đồng thời là hệ thống giao thông đường thủy thuận tiện phục vụ vận tải, du lịch. Về mạng lưới giao thông: đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đoạn qua huyện dài 13,6 km; tuyến QL 10 qua huyện dài 8,5 km; hệ thống tỉnh lộ 354, 360, 362, 357 và hàng chục tuyến đường phố và đường nông thôn được kiên cố hóa với tổng chiều dài gần 180 km.
Do huyện có đầy đủ các tuyến giao thông từ giao thông nội đồng đến giao thông liên tỉnh, cao tốc đi qua, trong đó lại có cả đường sông lẫn đường bộ mà hệ thống này đang ngày càng được nâng cấp và mở rộng. Điều này đã góp phần không nhỏ vào việc thu hút các khu công nghiệp, thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, tạo nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh, giúp các kênh, các luồng marketing hoạt động có hiệu quả. Huyện An Lão với tổng diện tích tự nhiên là 11.490,99 ha, trong đó diện tích đất nông, lâm nghiệp năm 2013 là 8.192 ,96 ha, chiếm 71,3% diện tích đất tự nhiên, tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp giảm dần trong tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2014 là 69,66%, năm 2015 là 68,78% [67, tr. Theo nguồn gốc phát sinh đất đai của huyện được chia thành các nhóm sau: 9 z - Đất phù sa được bồi đắp hàng năm: Chủ yếu là cửa sông Văn Úc và sông Đa Độ, đất khá tốt, rất thích hợp cho trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày.
Tuy vậy, thường xảy ra lũ lụt, cần xây dựng kế hoạch mùa vụ thích hợp. - Đất phù sa không được bồi thêm hàng năm: Lượng đất này có địa hình vàn cao, vàn trong đê của các con sông. Loại đất này khá tốt, có thành phần cơ giữ thịt, thịt trung bình, thịt nhẹ, hàm lượng chất dinh dưỡng khá, còn giữ được tính chất phù sa gốc, tơi xốp thích hợp cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây màu, các loại rau. - Đất bạc màu do thời tiết nóng, mưa tập trung theo mùa làm cho đất rửa trôi, bạc màu.
Loại đất này chiếm tỷ trọng nhỏ, độ dày tầng canh tác từ 10 - 20cm, một số chân ruộng ở sâu từ 40 - 50 cm độ có kết vón. Đất đai huyện An Lão thích hợp cho việc trồng cây lương thực, đảm bảo vững chắc cho việc giải quyết vấn đề lương thực trên địa bàn huyện. Những diện tích đất trống cần được cải tạo bằng biện pháp thuỷ lợi hoá, chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản. Vùng đất cao, xấu không thích hợp cho sản xuất lương thực lại thích hợp đối với cây trồng lâu năm như: nhãn, vải.
hoặc thuận lợi cho việc phát triển các ngành nghề khai thác, cung cấp vật liệu xây dựng. Như vậy với đặc điểm về điều kiện tự nhiên như trên đã tạo thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc tự nhiên từ nhiều nguồn địa lý khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện. Đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa - xã hội + Tình hình dân số và lao động: Trải qua lịch sử lâu dài hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc ta, miền đất An Lão, do điều kiện thiên nhiên thuận lợi đã sớm có người Việt sinh sống. Địa danh huyện An Lão và cùng Giang Nam Triệu là tên đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương cấp huyện cổ nhất của địa bàn Hải Phòng ngày nay.
Cư 10 z dân An Lão thuần Việt, có tính chất đặc trưng của dân tộc Việt: cần cù, siêng năng lao động, bất khuất kiên cường trong đấu tranh chống thiên tai, địch họa. Hầu hết những cuộc chiến tranh giữ nước chống các thế lực ngoại xâm của dân tộc ta, người dân An Lão đều tham gia đóng góp sức người, sức của. Địa bàn An Lão nhiều lần là chiến trường ác liệt, nóng bỏng. Ở vùng ven biển, sông nước bao quanh, đất đai chật hẹp, mật độ dân số cao nhưng dân An Lão bất chấp bão tố, hồng thủy, hạn hán đã cải tạo đất chua mặn thành ruộng vườn màu mỡ, xây dựng những thôn làng sầm uất, đông vui.
Huyện An Lão là một huyện tập trung đông dân cư, trong đó chủ yếu là dân tộc kinh.597 nhân khẩu, bình quân năm 2005 - 2007 tăng 1,34%, tổng số lao động là 74.390 người (trong đó số người có khả năng lao động là 71.740 người, số người mất khả năng lao động là 2. Trong đó, lao động nông lâm nghiệp thuỷ sản chiếm 62,19%, lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản chiếm 25,46%, lao động dịch vụ thương mại chiếm 12,35%. Tổng số lao động bình quân năm 2005-2006 tăng 1,55% [5, tr. Trong đó, lao động nông lâm nghiệp thuỷ sản, lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản và lao động dịch vụ đều tăng.
Tỉ lệ lao động CN - TTCN, XDCB, lao động TM - DV ngày càng tăng lên là một dấu hiệu đáng mừng trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn. Tuy nhiên, trình độ lao động còn thấp, lực lượng lao động chưa qua đào tạo rất lớn ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị sản xuất của các ngành. + Về tình hình kinh tế - xã hội: Giai đoạn 2005 – 2006, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10,85%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng nông nghiệp, thuỷ sản giảm còn 26,13%; công nghiệp - xây dựng tăng mạnh, đạt 51,97%; dịch vụ đạt 21,90%.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 đạt 20 triệu đồng/người/năm, gấp gần 2 lần so với năm 2005. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn trung bình hàng năm đạt trên 600 tỷ đồng, tăng bình quân từ 10 đến 12%/năm. Thu ngân sách trên địa bàn tăng 11 z bình quân 5 năm 2005 – 2010 là 9,94%/năm. Chi ngân sách cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ chi thường xuyên, phát sinh, đột xuất, chi phục vụ các nhiệm vụ chính trị và an sinh xã hội [5, tr.
Lĩnh vực văn hoá - xã hội được quan tâm, chất lượng nâng lên; công tác an sinh xã hội được đảm bảo, đạt hiệu quả rõ rệt. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, THCS và phổ cập giáo dục bậc trung học và nghề. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được chú trọng, đã có 28/55 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 11 trường so với năm 2010. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có chuyển biến tiến bộ.
Đội ngũ y, bác sỹ được tăng cường, bình quân có 04 bác sỹ/10.000 dân, gấp hơn 2 lần so với đầu nhiệm kỳ.