Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Y tế là lĩnh vực đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người, đến sự ổn định và phát triển của mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, vì thế, thu hút sự quan tâm của nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Đến nay, có nhiều công trình khoa học, từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, đã đề cập tương đối toàn diện về vấn đề này. Liên quan trực tiếp đến luận án có thể khái quát thành các nhóm công trình khoa học như sau: 1.
Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với y tế và các mặt công tác y tế ở Việt Nam * Nghiên cứu liên quan đến quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với y tế ở Việt Nam Đề cập đến quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với y tế ở Việt Nam có thể kể đến các công trình sau: Tác giả Đỗ Nguyên Phương trong các cuốn sách: Phát triển sự nghiệp y tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay [118], Một số vấn đề xây dựng ngành y tế phát triển ở Việt Nam [119] đã tập trung phân tích những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của ngành y tế. Tác giả đã đề cập tới những giá trị về đạo đức và truyền thống nghề nghiệp của ngành y; sự cần thiết phải đổi mới ngành y tế Việt Nam trong giai đoạn mới dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 8 Các công trình Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới [96], 20 năm đổi mới của y tế Việt Nam [99], Y tế Việt Nam: 60 năm trưởng thành [101] của tác giả Phạm Mạnh Hùng; Xây dựng y tế Việt Nam công bằng và phát triển [26] của tác giả Trần Thị Trung Chiến; Ngành y tế Việt Nam vững bước vào thế kỷ XXI [12], Y tế Việt Nam với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng [13], Toàn cảnh y tế Việt Nam giai đoạn đầu hội nhập WTO (Tổ chức thương mại thế giới) [14], Y tế Việt Nam đổi mới, hội nhập và phát triển [18] của Bộ Y tế phản ánh những bước đường trưởng thành trong suốt 60 năm của ngành y tế, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định để ngành y tế phát triển và có những đóng góp lớn vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Các công trình đã tập trung làm rõ những nét nổi bật: bản chất chính trị của nền y tế Việt Nam (kiên trì theo đuổi đường lối của một nền y tế xã hội chủ nghĩa, kết hợp với đổi mới một số nhận thức và quan điểm cho phù hợp với tình hình mới); ngành y tế luôn bám sát nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng để đề ra các chiến lược cũng như các giải pháp phù hợp, nhằm phục vụ tốt nhất sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân.
Dưới góc độ phân tích chính sách, dịch vụ y tế và sự quản lý của Nhà nước Việt Nam, các công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Trọng, Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ngành y tế ở Việt Nam theo quan điểm hệ thống [160]; Phạm Mạnh Hùng, Quản lý y tế tìm tòi học tập và trao đổi [97]; Nguyễn Trường Giang: Đổi mới cơ chế quản lý kinh phí ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước [70]; Nguyễn Huy Quang, Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế ở nước ta hiện nay [121]; Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Hiền Nhu, Quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân [38]; Đỗ Hoàng Ánh, Đổi mới tổ chức và quản lý các đơn vị sự nghiệp y tế công lập [5]; Đinh Thị Thanh Thùy: Pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay [146]; Phùng Thị Cẩm Châu, Hoàn thiện 9 pháp luật bảo hiểm y tế Việt Nam [21], v. đã nghiên cứu các cơ sở lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật ở Việt Nam trong lĩnh vực y tế (tính cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động y tế, nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế); đánh giá thực trạng công tác xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật về y tế, v. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế. Trong các công trình nghiên cứu nước ngoài và hợp tác quốc tế liên quan đến nhân tố lãnh đạo và chính sách y tế ở Việt Nam, có thể kể đến các nghiên cứu sau đây: Báo cáo SÉNAT của Thượng viện Pháp: La politique sanitaire du Vietnam à l’heure du “DOI MOI” (Renouveau Économique) (Chính sách y tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới (Đổi mới kinh tế)) [200].
Dưới góc nhìn tổng thể, đáng chú ý Báo cáo chỉ ra rằng: đến năm 2010, chính sách y tế của Việt Nam đã đem lại những kết quả tích cực và các chỉ số phát triển y tế của Việt Nam cao hơn một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Những thành công chủ yếu của chính sách y tế này thể hiện trong cuộc chiến chống lại các dịch bệnh lớn; giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và bệnh sốt rét; hệ thống y tế rộng khắp từ trung ương đến các trạm y tế xã, vai trò của y tế công lập được khẳng định, y học cổ truyền tiếp tục được quan tâm và phát huy tác dụng, v. Báo cáo cũng nêu lên những hạn chế của chính sách và việc thực hiện chính sách y tế của Việt Nam như: ngân sách còn hạn chế; sự thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng nha sĩ, kỹ thuật viên y học và điều dưỡng, tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em chưa được khắc phục, v. Công trình “Vietnam: Learning from smart reforms on the road to universal health coverage” (Việt Nam: Học hỏi từ những cải cách thông minh trên lộ trình bao phủ sức khỏe toàn dân) [192] của các tác giả Helene Barroy, Eva Jarawan, Sarah Bales phân tích về một số chiến lược thành công chính và 10 các chính sách mà Việt Nam đã thực hiện để mở rộng phạm vi bao phủ y tế và bảo vệ tài chính cho tất cả mọi người.
Từ đó khẳng định Việt Nam là một trong những quốc gia đã có những hành động tương đối nhanh chóng và hiệu quả để mở rộng phạm vi bao phủ y tế và cải thiện tài chính y tế trong hai thập kỷ (đến năm 2014). Adams (2005) trong nghiên cứu Vietnam’s Health Care System: A Macroeconomic Perspective (Hệ thống chăm sóc sức khỏe của Việt Nam: Một góc nhìn từ kinh tế vĩ mô) [190] và Bjon Ekman trong Investing in health for economic development: Report on oppotunities and constraints for a national macroeconomics and health program (Đầu tư vào y tế để phát triển kinh tế: Báo cáo về cơ hội và hạn chế cho một chương trình kinh tế vĩ mô và y tế quốc gia) [193] đã phân tích các chỉ số sức khỏe của Việt Nam là tốt và vượt qua một số nước lân cận. Hệ thống CSSK của Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ nhưng vẫn còn nhiều thách thức, đó là việc các hộ gia đình vẫn phải chi nhiều từ tiền túi cho việc khám, chữa bệnh. Các tác giả khuyến nghị chính phủ Việt Nam cần mở rộng các đối tượng hưởng thụ chính sách bảo hiểm y tế toàn dân, đặc biệt là bảo hiểm y tế cho người nghèo.
Nghiên cứu “User Fees, Financial Autonomy and Access to Social Services in Viet Nam” (Phí người dùng, tự chủ tài chính và sự tham gia các dịch vụ xã hội ở Việt Nam) [201] của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), phân tích những thành công trong cải cách chính sách tài chính y tế ở Việt Nam làm cho gần 50% dân số có bảo hiểm y tế (đến năm 2010), mang lại những kết quả thiết thực cho các đối tượng, đặc biệt là người nghèo và cận nghèo; đồng thời, chỉ ra những hạn chế: ngân sách đầu tư còn ít; thu nhập thấp dẫn đến thiếu hụt bác sĩ ở các trạm y tế. Tiếp cận từ góc độ nghiên cứu về các chính sách y tế đối với người nghèo, cận nghèo, những công trình như: User fees and health service 11 utilization in Vietnam: How to protect the poor? (Phí sử dụng và sử dụng dịch vụ y tế ở Việt Nam: Làm thế nào để bảo vệ người nghèo?) [194] của H.Le; Determining the impacts of hospital cost-sharing on the uninsured near-poor households in Vietnam (Xác định tác động của việc chia sẻ chi phí bệnh viện đối với các hộ cận nghèo không có bảo hiểm ở Việt Nam) [204] của Duong Anh Vuong and associates; Plan of action of the health sector within the framework of the comprehensive poverty reduction and growth strategy to 2010 (Kế hoạch hành động của ngành y tế trong khuôn khổ chiến lược tăng trưởng toàn diện và xóa đói giảm nghèo) [202] của Chương trình hợp tác y tế Việt Nam - Thụy Điển… đều chỉ ra phí người dùng dịch vụ chi trả là gánh nặng tài chính lớn đối với các hộ gia đình nghèo, cận nghèo không có bảo hiểm; khuyến nghị Chính phủ có thể thực hiện chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho đối tượng này để bảo đảm phần lớn dân số có thể trang trải phí dịch vụ y tế thông qua bảo hiểm.