Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện công tác tiễu phỉ của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc từ năm 1949 đến tháng 7 năm 1954. Chương 2: Đảng bộ Liên khu Việt Bắc lãnh đạo công tác tiễu phỉ từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 7 năm 1956. Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm. 11 Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC TIỄU PHỈ CỦA ĐẢNG BỘ LIÊN KHU VIỆT BẮC TỪ NĂM 1949 ĐẾN THÁNG 7 NĂM 1954 1.
Bối cảnh đất nƣớc và tình hình Liên khu Việt Bắc 1. Bối cảnh đất nước Những năm 1949 - 1952, tình hình trong khu vực và trên thế giới có nhiều biến động. Trong khu vực, năm 1949, cách mạng thành công, nước CHDCND Trung Hoa được thành lập (1/10/1949) đã tác động đến cán cân giữa lực lượng xã hội chủ nghĩa và lực lượng tư bản chủ nghĩa. Trên thế giới, Liên minh Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa được hình thành, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở Châu Á, Châu Phi, Khu vực Trung Cận Đông.
Tháng 01/1950, mối quan hệ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước trong hệ thống XHCN được xác lập, nó đã tác động mạnh mẽ đến cách mạng Việt Nam, tạo thế và lực cho cách mạng Việt Nam phát triển. Ở trong nước, với ý đồ can thiệp vào chiến tranh tại Đông Dương, Mỹ đã tăng cường viện trợ cho Pháp và quân đội. Sau thất bại ở Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh lâu dài”, bình định vùng chiếm đóng, thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Để thực hiện âm mưu bình định và ngăn lực lượng vũ trang của cách mạng xâm nhập vào vùng Pháp tạm chiếm, Pháp chia Đông Dương thành nhiều vùng và mỗi vùng lại chia thành các khu, phân khu và tiểu khu; số lượng quân địch tăng hàng năm, phần lớn là quân ngụy.
Ngoài lực lượng quân ngụy biên chế trong các đơn vị quân viễn trinh, còn lập các tiểu đoàn bảo an quân đội quốc gia của bù nhìn Bảo Đại, các tiểu đoàn xứ Thái tự trị ở Tây Bắc, ở Đông Bắc và lực lượng phỉ. Âm mưu của thực dân Pháp là tìm mọi cách bao vây biên giới phía Bắc, đánh chiếm trung du, lập hành lang phía Tây chia cắt Việt Bắc với khu 3, khu 4, củng cố những vùng chiếm đóng nằm sâu trong Việt Bắc và gây phỉ để chuẩn bị đánh trở lại. Về phía cách mạng, thế và lực của ta sau Chiến thắng Biên Giới (1950) có bước phát triển vượt bậc, bước sang giai đoạn mới, với những yêu cầu mới, đòi hỏi 12 Đảng phải có những hướng giải quyết phù hợp; Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II (2/1951) được triệu tập để giải quyết những vấn đề cấp bách trong giai đoạn mới. Đại hội xác định nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau. Nhiệm vụ chính lúc này là hoàn thành giải phóng dân tộc, phải tập trung lực lượng vào cuộc kháng chiến để quyết thắng quân xâm lược. Lực lượng của cách mạng Việt Nam gồm có giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Ngoài ra, còn có những thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ.
Cách mạng Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện thắng lợi những chủ trương đã đề ra và cụ thể hoá những nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Đảng luôn sáng suốt lựa chọn những thời điểm có tính quyết định để kịp thời chỉ đạo trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến. Tháng 3/1951, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất họp, bám sát nhiệm vụ của Đại hội II, hội nghị đã đề ra những công việc quan trọng và cấp bách trước mắt đó là: sản xuất lương thực, giảm chi, thuế, đấu tranh kinh tế tài chính với địch. Hội nghị đã tập trung giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, tài chính để bồi dưỡng sức dân và bảo đảm cung cấp đầy đủ mọi mặt cho quân đội; bởi, giải quyết vấn đề kinh tế chính là yếu tố quan trọng trong tiến hành công tác tiễu phỉ trên địa bàn Liên khu.
Tình hình Liên khu Việt Bắc 1949 - 1954 1. Sự hình thành và đặc điểm Liên khu Việt Bắc Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), Việt Bắc chính thức có 3 khu hành chính - quân sự gồm: Khu I (gồm 4 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phúc Yên), Khu X (gồm 6 tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên), Khu XII (gồm 6 tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Ninh, Quảng Yên, Hồng Gai). Tháng 7/1947, Khu XIV được thành lập, cũng nằm trong địa bàn của Việt Bắc (gồm 2 tỉnh: Sơn La, Lai Châu và một phần tỉnh Phú Thọ, châu Mai Đà của tỉnh Hòa Bình). 13 Để thống nhất việc chỉ huy và củng cố các cấp bộ Đảng, ngày 20/01/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh 120/SL về việc thống nhất Khu I và Khu XII thành Liên khu I (gồm 10 tỉnh vùng Đông Bắc là: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hải Ninh, Quảng Yên, Hồng Gai, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên); Khu X và Khu XIV hợp nhất thành Liên khu X (gồm 8 tỉnh vùng Tây Bắc và Trung du Bắc Bộ là: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Lai Châu, Sơn La và châu Mai Đà của tỉnh Hòa Bình).
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của cuộc kháng chiến, ngày 29/9/1949, Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 28 về việc thống nhất hai Liên khu I và X thành Liên khu Việt Bắc và ngày 27, 28/10/1949, LKVB chính thức được thành lập. Đến ngày 4/11/1949, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 127 về hợp nhất Ủy ban kháng chiến của hai Liên khu I và X thành Ủy ban Hành chính kháng chiến LKVB. Sự ra đời của LKVB đã thể hiện một bước phát triển mới của cuộc kháng chiến trên địa bàn trung du và vùng núi phía Bắc, đồng thời đặt ra những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thực hiện công tác của Đảng bộ liên khu trong khu vực này. Thời kỳ đầu, phạm vi hoạt động của LKVB trong 17 tỉnh, đến năm 1950 tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên hợp nhất thành Vĩnh Phúc.
Trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, ngày 27/7/1952, Trung ương Đảng ra Nghị quyết thành lập khu Tây Bắc, các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái của LKVB cắt ra thành lập khu Tây Bắc. Theo nghị quyết số 45 của Bộ Chính Trị ngày 28/8/1954 khu Tây Bắc cắt lại 2 tỉnh Lào Cai và Yên Bái về LKVB. * Địa hình LKVB trong lịch sử là một địa bàn rộng lớn ở phía Bắc Bắc bộ, phía Bắc là đường biên giới Việt - Trung, phía Nam giáp các tỉnh Liên khu 3, phía Đông là bờ biển Vịnh Bắc Bộ chạy dọc tỉnh Quảng Ninh, phía Tây là đường biên giới Việt - Lào. LKVB với những dãy núi đồ sộ chạy dài hình nan quạt từ Tây Bắc sang Đông Bắc, xuống trung du và ven biển.
Cả ba mặt: Bắc, Tây Nam và Đông Nam của Liên khu là những dãy núi đá cao bao bọc, tạo thành phòng tuyến thiên nhiên hùng vĩ, dãy Tam Đảo với đỉnh cao 1.591m là bình phong phía Tây, dãy Cứu Quốc chạy từ Cao Bằng tới Bắc Kạn che chắn phía Đông Bắc, dãy Bảo Đài có thung lũng Chi 14 Lăng chạy theo đường số 1 và đường sắt phía Nam. Dãy Yên Tử nhìn xuống đường số 18 và sông Bạch Đằng, vốn là căn cứ của các tỉnh trung du [4, tr. Mạng lưới đường sá trong lòng Việt Bắc thưa và ít. Đường số 1 chạy từ Mục Nam Quan qua Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh về Hà Nội dài 170km.
Đường số 4 dài 300km chạy dọc theo biên giới Việt - Trung từ Cao Bằng qua Lạng Sơn đến Tiên Yên - Quảng Ninh. Đường số 2 từ Hà Giang qua Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc về Hà Nội. Bên cạnh đó, Việt Bắc còn có những tuyến đường liên tỉnh như 1B, 2B, 3B. Việt Bắc còn có nhiều sông suối như sông Lô, Sông Thương, sông Gâm,… Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) xuyên dọc Hà Giang, chảy qua Tuyên Quang, xuôi về Phú Thọ, hợp với Sông Hồng tại Việt Trì (Phú Thọ).
Đây là tuyến đường thủy quan trọng nối liền nhiều tỉnh Việt Bắc với nhau, với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Việt Bắc là địa bàn chiến lược quan trọng, là “nơi dụng binh lợi hại”, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”. Đặc biệt từ Việt Bắc, cách mạng Việt Nam dễ dàng liên lạc với cách mạng thế giới, trước hết là với cách mạng Trung Quốc ở phía Bắc, cách mạng Lào ở phía Tây Bắc và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế để tiến hành liên minh chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược. * Khí hậu, tài nguyên Ở Việt Bắc mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 8, nước lũ hay dâng cao đột ngột, chảy xiết và ảnh hưởng đến sự cơ động lực lượng và giao thông vận tải.
Khí hậu ở Việt Bắc giống miền ôn đới, có gió mùa đông bắc gây mưa phùn, mây mù dày đặc khắp rừng núi từ tháng 1 đến tháng 4. Việt Bắc là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có và đa dạng. Với diện tích rừng rộng lớn, Việt Bắc có nhiều loại gỗ quý hiếm và bạt ngàn các loại cây tre, nứa, mây; các loại dược liệu như củ tam thất và các loại hạt có dầu; các đặc sản và các loài động vật quý hiếm. Việt Bắc còn có nhiều loại khoáng sản quý như sắt than, vàng bạc và các loại đá quý.
Việt Bắc còn có nguồn tài nguyên đất đai có thể trồng cây lương thực hoa màu, cây công nghiệp. Việt Bắc không chỉ có ruộng bậc thang đặc trưng của khu vực Tây Bắc mà còn có những cánh đồng lúa lớn trải dài, trong đó cánh đồng Mường Thanh diện tích lên tới 140km2. * Dân tộc Việt Bắc những năm đầu kháng chiến có khoảng 29 dân tộc anh em [4, tr.