CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VE CÁC TRAI NGHIEM THỜI THO AU TIÊU CỰC 1. Tổng quan nghiên cứu về các trải nghiệm thời thơ ấu tiêu cực 1. Diém luận một số nghiên cứu về các trải nghiệm thời thơ ấu tiêu cực Các trải nghiệm thời thơ ấu tiêu cực (ACEs) là những sự kiện gây căng thắng trong thời thơ ấu và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thê chất và tâm thần thời thơ ấu và cả khi đã trưởng thành. Các ACEs phổ biến bao gồm lạm dụng (thé chất, cảm xúc, tình dục); sao nhãng hoặc bỏ mặc; sống trong gia đình có bạo lực gia đình, người lạm dụng chất kích thích hoặc rượu, hoặc hành vi tội phạm; hoặc sống VỚI người chăm sóc bị bệnh tâm thần (Scott, 2020).
Lần đầu tiên vào những năm 1990, Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Ki va tập đoàn chăm sóc bảo hiểm Kaiser Permanente đã thực hiện một cuộc khảo sát trên tong số 17.337 người được bao hiểm dé đánh giá mối quan hệ giữa các hành vi nguy cơ sức khỏe của người trưởng thành với việc bị lạm dụng thời thơ ấu và rối loạn chức năng gia đình, kết quả khảo sát được trình bay trong báo cáo của Felitti và cộng sự (1998). QUA ĐỜI Qua đời sớm Bệnh không Lây nhiễm, khuyết tật, các vấn đề xã hội, năng suất Lao động thấp RA ĐỜI Hình 1: Tác động tiềm ẩn của ACEs trong suốt cuộc đời (Hardcastle K., 2018) Các nghiên cứu va báo cáo vê sức khỏe của một sô quôc gia hoặc khu vực sau nay cho thay mức độ phô biên của trải nghiệm ACEs trong dân sô. Trong nghiên cứu đầu tiên do Kaiser Permanente và Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh Hoa Ki thực hiện, trong số 17.337 người tham gia có 69,9% người tham gia có ít nhất một ACE (Felitti và cộng sự, 1998). Trong nghiên cứu mở rộng về ACE do Dự án Philadelphia ACEs thực hiện, 83,2% trong số 1.784 người tham gia có ít nhất một ACE (Merritt và cộng sự, 2013).
Một nghiên cứu phân tích tổng hợp (meta analysis) xem xét kết quả của 221 nghiên cứu khoa học về các trải nghiệm thời thơ ấu tiêu cực (ACEs — Adverse Childhood Experiences) ở châu Âu và Bắc Mỹ đã chỉ ra rang: theo kết qua của 10 nghiên cứu ở châu Âu, có khoảng 23.5% khách thé từng trải qua một và 18.7% trải qua từ 2 sự kiện tiêu cực thời thơ ấu trở lên; con số này ở Bắc Mỹ tương ứng là 35. Một nghiên cứu khác của Di Lemma và cộng sự cho thấy khoảng 50% người trưởng thành đã trải qua ít nhất một ACE và 13% trong số đó đã trải qua ít nhất 4 ACEs ( (Di Lemma và cộng sự, 2019). Trải nghiệm về sự xa cách của cha mẹ, lạm dụng trực tiếp bằng lời nói và thê chất, và bạo lực gia đình trong gia đình là những ACE được báo cáo nhiều nhất (Bellis và cộng sự, 2014a). Tại các nước dang phát triển, tỉ lệ người có ACEs dường như cao hơn ở các nước phát triển.
Marvin và Rosalind đã tiến hành một nghiên cứu phân tích tổng hợp, thu thập dé liệu từ 14 nghiên cứu khác nhau thực hiện trên 17 quốc gia dang phát triển với tong khách thé tham gia là 35.724 cho thấy tỉ lệ báo cáo có ít nhất 1 ACE dao động từ 30% (Trung Quốc) tới 98.1% (Lebanon), trong đó tỉ lệ báo cáo trải qua từ 4 ACEs trở lên là Saudi Arabia với 31. Một nghiên cứu khác khảo sát trên 1.068 người trưởng thành trên 35 tuổi tại Manila, Philippines chỉ ra rằng 75% số người được hỏi đã có ít nhất 1 ACEs, 9% có ít nhất 4 ACEs và rối loạn chức năng gia đình trở lên. Các loại ACEs được báo cáo phô biến nhất là lạm dung cảm xúc, bỏ bê (thé chất và cảm xúc) với các nhu cầu cơ bản. Phần lớn những người được hỏi cho biết đã từng sông với người sử dụng chất kích thích hoặc nghiện rượu và ở trong gia đình có bạo lực.
Hậu quả hành vi nguy cơ sức khỏe chủ yếu là hút thuốc, sử dụng rượu và hành vi tình dục nguy cơ (Laurie và cộng sự, 2010). Tuy nhiên, tình trạng kinh tế xã hội cao hơn không ảnh hưởng đến tác động của ACEs đối với sức khỏe và trình độ học vẫn (Houtepen và cộng sự, 2020). Trong thời kì thế giới trải qua đại dịch COVID 19, việc mất kết nối xã hội, cảm giác mat lòng tin vào người khác gia tăng và kha năng tiếp xúc lặp lại với những căng thăng trong nước mà không có lối thoát giữa các chính sách giãn cách xã hội của đại dịch không những có thể tạo ra một số yêu tố kích hoạt dẫn đến gia tăng các trường hợp lạm dụng và bỏ bê trẻ em mà còn có nguy cơ làm giảm dần khả năng phục hồi của người bệnh có ACEs (Daniel và cộng sự, 2020). Trải nghiệm ACEs có thé ảnh hướng trực tiếp tới bộ máy sinh học của cơ thể như các hệ thống điều hòa thần kinh, miễn dịch, nội tiết và di truyền, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ, dẫn đến các phản ứng căng thang bat thường.
Căng thắng độc hại (căng thắng kéo dài mà không được bảo vệ) được cho là kết quả của những trải nghiệm bat lợi. Căng thăng độc hại mạn tính có thé dẫn đến việc các phản ứng căng thăng được kích hoạt vĩnh viễn (Danese và McEwen, 2012). Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt lâu dài trong việc sản xuất cortisol (hormone gây căng thăng) ở những đứa trẻ từng trải qua ACEs (Peckins và cộng sự, 2015). Phơi nhiễm ACEs có liên quan đến rối loạn điều hòa các hormone liên quan đến căng thắng và những hormone điều chỉnh huyết áp, nhịp tim, quá trình trao đồi chất, cảm giác thèm ăn và sinh sản (Waehrer và cộng sự, 2020).
Về tác động của ACEs tới sức khỏe thé chat, tâm thần và các khía cạnh của đời sống cá nhân, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có bốn ACEs trở lên có nguy cơ mắc bệnh mạn tính (hen suyễn, ung thư, bệnh tim mạch hoặc hô hấp) cao gấp hai lần so với những người không có ACEs (Ashton và cộng sự, 2016); nguy cơ hút thuốc hoặc uống nhiều rượu cao gấp bốn lần; gấp ba lần nguy cơ bị béo phì; nguy cơ mắc các bệnh tâm thần cao gấp sáu lần; nguy cơ sử dụng heroin hoặc crack cocaine cao gấp 16 lần; và nguy cơ bị bắt giam cao gấp 20 lần (Di Lemma và cộng sự, 2019). Những người có điểm ACEs cao hơn có kết quả học tập và hiệu suất làm việc thấp hơn; tăng nguy cơ liên quan đến bạo lực, nguy cơ gây ra hoặc mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên và nguy cơ nhập viện nội trú (Bellis và cộng sự, 2014b). Mối quan hệ mạnh mẽ nhất đã được tìm thấy giữa các ACEs và việc sử dụng ma túy, ý định tự tử và tham gia vào các tương tác bạo lực 10 (Bellis và cộng sự, 2014b). Nghiên cứu về những bệnh nhân mắc chứng rối loạn lưỡng cực cho thấy ACEs có tác động tiêu cực đối với sức khỏe tâm thần lớn hơn so với những biến cố sang chan trai qua khi trưởng thành (Park và cộng sự, 2020).
Một nghiên cứu tại Vương quốc Anh đã xem xét mối quan hệ giữa ACEs và tỷ lệ tử vong sớm ở độ tuôi 50 trở xuống và nhận thấy nguy cơ tử vong tăng 57% đối với nam giới có hai ACEs trở lên và nguy cơ này tăng 80% đối với phụ nữ (Kelly-Irving va cộng sự, 2013). Những người có từ sáu ACEs trở lên có nguy cơ giảm 20 năm tuổi tho (Brown và cộng sự, 2009). Nghiên cứu về ACEs từ các báo cáo sức khỏe người dân Scotland năm 2019 thống kê, những người trưởng thành có bốn ACEs trở lên có nhiều nguy cơ gặp những vấn đề sau hơn những người không có ACE: béo phì (39% so với 29%), hút thuốc (27% so với 10%), bệnh mạn tính hạn chế hoạt động Limiting long-term illness (52% so với 26%), mắc bệnh tim mach (21% so với 14%), có sức khỏe tinh thần kém hơn (điểm số sức khỏe WEMWBS trung bình là 46,0 so với 52,0) và không đáp ứng các hướng dẫn hoạt động thé chất (41% so với 32%) (Scottish Population Health Directorate, 2019). Về tác động của ACEs tới chi phí xã hội, đặc biệt là ở lĩnh vực y tế, các nghiên cứu chỉ ra rằng mối quan hệ chặt chẽ giữa các ACEs và tình trạng sức khỏe kém sẽ dẫn đến việc những người trải qua ACEs có nhu cầu lớn hơn đối với các dịch vụ y tế.
Theo đó, người có ACEs được dự đoán tới gặp bác sĩ đa khoa nhiều hơn, sử dụng dịch vụ chăm sóc khẩn cấp nhiều hơn và nhập viện nhiều hơn và tác động của ACEs tới nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế đường như xuất hiện ở tuổi trưởng thành thay vì ngay khi còn nhỏ. ACEs liên quan đến việc tăng cường sử dụng các dịch vụ y tế ở cả cơ sở chăm sóc ban đầu và cơ sở y tế chính thức (DI Lemma và cộng sự, 2019). Dữ liệu từ các cuộc khảo sát của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy việc loại bỏ ACE sẽ làm giảm 29,8% các rối loạn sức khỏe tâm thần (Kessler, 2010). Dữ liệu của Vương quốc Anh cho thấy, chi phi hàng năm cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần và sử dụng chất gây nghiện ở người trưởng thành liên quan đến lạm dụng tình dục trẻ em ước tính khoảng 178 triệu bảng Anh (Saied-Tessier, 2014); bằng cách ngăn chặn ACEs trong tương lai có thể giúp giảm 15% tỉ lệ say rượu, 16% hút thuốc, 33% mang thai ngoài ý muốn ở tuôi 11 vị thành niên, 59% sử dụng heroin và crack cocaine, 52% bạo lực và 53% tỉ lệ bị bắt giam (Bellis và cộng sự, 2014b).
Ước tính cứ một trường hợp ngược đãi trẻ em không gây tử vong ở Hoa Ky dẫn đến chi phí cho nhu cau y tế trọn đời là 10.530 đô la và thêm 144.360 đô la do bị mat năng suất lao động (Fang và cộng sự, 2012). Hậu quả của ACEs thường là liên thế hệ; do đó, việc phòng ngừa có thể có tác động tích cực đến các thé hệ tương lai (Di Lemma và cộng sự, 2019). CDC Hoa kỳ cho rằng việc ngăn chặn ACEs có thể làm giảm số lượng lớn các ca bệnh ở đất nước họ: tương đương với 2] triệu ca trầm cảm, 1.9 triệu ca bệnh tim và tới 2.5 triệu ca béo phì, thừa cân. Việc giảm 10% số ACEs ở Bắc Mỹ có thé tương đương với khoản tiết kiệm hàng năm là 56 tỷ đô la (Teen Newsletter: Adverse Childhood Experiences (ACEs) , 2023).