Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Các công trình trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu về XTDL theo nhiều góc độ khác nhau; trong đó có những công trình nghiên cứu chú trọng đến góc độ kinh tế, có công trình chú trọng đến góc độ quản lý nhà nước về XTDL, có công trình nghiên cứu dưới góc độ hành vi pháp lý XTDL thông qua hành vi xúc tiến thương mại. Tựu chung, các công trình có thể phân nhóm và đánh giá như sau: 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về lý luận xúc tiến thương mại và lý luận pháp luật về xúc tiến thương mại cũng như pháp luật về xúc tiến du lịch Nguyễn Thị Dung (2005), “Khái niệm quảng cáo trong pháp luật Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến việc hoàn thiện pháp luật về quảng cáo”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 năm 2005 [38].
Nội dung bài viết chủ yếu tập trung phân tích về các khái niệm quảng cáo của một số quốc gia, trong đó, tác giả nhấn mạnh cần thiết phải thay đổi khái niệm quảng cáo trong pháp luật Việt Nam theo hướng quảng cáo đương nhiên là quảng cáo thương mại. Nội dung của Luật Quảng cáo hiện nay vẫn hiểu quảng cáo bao gồm cả quảng cáo thương mại và quảng cáo phi thương mại. Luận văn thạc sĩ “Chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam” của tác giả Trịnh Thị Liên Hương (2006). Tác giả đã phân tích những cơ sở lý luận và pháp lý về quyền tự do cạnh tranh của các chủ thể trong nền kinh tế.
Khẳng định quảng cáo là một trong những công cụ hữu hiệu để cạnh tranh và có thể trở thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi hành vi này vượt ra khỏi khuôn khổ mà pháp luật cho phép. Luận văn cũng phân tích về các hành vi quảng cáo bị cấm như: Quảng cáo so sánh, quảng cáo đưa thông tin gian dối, hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng, hoạt động bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng.; những thiếu 10 sót của pháp luật khi chưa quy định cụ thể hơn về hành vi quảng cáo so sánh, nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng. Nguyễn Thị Dung (2007), “Pháp luật về xúc tiến thương mại ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Chính trị Quốc gia [40]. Nội dung tác phẩm có nêu ra một số giải pháp để giải quyết bất cập trong lĩnh vực quảng cáo.
Tác giả đã phân tích những bất cập lớn về các quy định của pháp luật hiện nay trong hoạt động XTTM nói chung và hoạt động quảng cáo nói riêng. Nhận định về sự bất cập tồn tại hai văn bản quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh về quảng cáo thương mại là không hợp lý và không thể tránh khỏi những chồng chéo trong quá trình áp dụng và cần thiết phải có Luật Quảng cáo. Thay đổi khái niệm quảng cáo theo hướng chỉ thừa nhận quảng cáo thương mại và phân tích những ảnh hưởng của việc thay đổi này đến hiệu quả xây dựng và áp dụng pháp luật về quảng cáo. Trịnh Xuân Dũng (2009), với ấn phẩm sách "Tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch" [42] giới thiệu những vấn đề cơ bản nhất về tuyên truyền, quảng cáo và XTDL từ những khái niệm, sự cần thiết, nguyên tắc, cách thức tuyên truyền quảng bá và xúc tiến, các phương tiện quảng cáo, cũng như những quy định của pháp luật sao cho đạt hiệu quả cao.
Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Lê Thành Công (2010), “Hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc thực trạng và giải pháp” [34], tác giả tập trung hệ thống hóa một số vấn đề về điểm đến du lịch và đề xuất những điều kiện đảm bảo thành công của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch cho một thị trường nhất định. Đồng quan điểm với Lê Thành Công, tác giả Cao Như Hoàng (2014) với luận văn “Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Hà Tĩnh” [56] đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về xúc tiến điểm đến du lịch, thực trạng hoạt động XTDL Hà Tĩnh, đưa ra các đề xuất nhằm thúc đẩy và hoàn thiện hoạt động XTDL Hà Tĩnh. Phan Minh Châu (2013), trong luận văn “Định hướng xúc tiến quảng bá du lịch của huyện đảo Phú Quốc, Kiên Giang” [35], đã định hướng và hệ thống 11 hóa những lý luận về xúc tiến quảng bá du lịch biển đảo, đánh giá tổng thể hoạt động XTDL biển đảo thông qua các nguyên tắc, tiêu chí, các yếu tố ảnh hưởng và sự khác biệt giữa XTDL biển đảo. Luận văn đã mở ra một hướng đi cho các doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch nói chung và XTDL biển đảo nói riêng.
Võ Minh Tín (2015), với luận văn “Xúc tiến du lịch tỉnh Ninh Thuận” [85], tác giả đã đúc kết lại nội dung của hoạt động XTDL cho một địa phương (Ninh Thuận) bao gồm các nội dung: Trưng bày sản phẩm du lịch, giới thiệu hình ảnh, con người Việt Nam; nâng cao nhận thức cho cộng đồng về du lịch; xây dựng môi trường du lịch văn minh; xây dựng sản phẩm du lịch dưới góc độ Luật Du lịch. Luận văn thạc sĩ của các tác giả Bùi Văn Mạnh (2010),“Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Ninh Bình giai đoạn 2003 đến 2009” [67], Đào Thị Ngọc Lan (2011), “Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010” [63], Trần Thị Thủy (2012), “Hoạt động xúc tiến điểm đến cấp tỉnh Việt Nam nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An” [82], đã hệ thống hóa các bước xây dựng một chương trình XTDL cụ thể cho các doanh nghiệp du lịch địa phương; nghiên cứu các sản phẩm quảng cáo, trưng bày, giới thiệu du lịch tại địa phương tập trung vào: Ấn phẩm, tài liệu thông tin du lịch, quảng cáo, quan hệ công chúng, xúc tiến bán, hội chợ triển lãm du lịch và tiếp thị trên mạng internet và website. Phan Thị Thái Hà (2013), với luận văn “Phát triển hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch của các trung tâm xúc tiến du lịch tại các địa phương. Nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội” [55].
Tác giả nghiên cứu sâu về thực trạng của hoạt động tuyên truyền quảng cáo du lịch do trung tâm XTDL tại địa phương thực hiện, từ đó đưa ra nhận định và giải pháp nhằm điều chỉnh hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch tại địa phương. Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Chu Khánh Linh (2013),“Hoạt động xúc tiến du lịch MICE ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” [64], Nguyễn Thu Thủy (2006), với luận văn “Xây dựng chiến lược xúc tiến du lịch MICE cho điểm đến Hà Nội” [79], đã nghiên cứu và sử dụng các công cụ của hoạt động XTDL để 12 phát triển loại hình du lịch MICE tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hà Nội. Đinh Thị Trà Nhi (2010), với luận văn “Xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch Đà Nẵng” [70], tập trung nghiên cứu xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch, hoạch định chiến lược cụ thể từ thiết kế logo cho đến slogan nhằm quảng cáo cho các sản phẩm du lịch một địa phương. Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Huỳnh Thị Hòa (2021) ,“Xúc tiến du lịch nhằm thu hút khách quốc tế đến cụm du lịch Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam” [59].
Về mặt lý luận, luận án đã làm sâu hơn nội hàm của cụm du lịch theo nghĩa cụm ngành du lịch địa phương, được thực hiện ở góc độ liên kết chủ thể vĩ mô là chính quyền các địa phương. Về thực tiễn, luận án đã phân tích kinh nghiệm của các liên kết cụm du lịch ở trong và ngoài nước, cũng như thực tế tại cụm du lịch Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam. Từ đó, luận án đã đưa ra một số giải pháp về XTDL nhằm đạt mục tiêu tăng cường thu hút khách quốc tế đến cụm du lịch Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam. Luận án có cách đánh giá, tiếp cận về chủ thể chính quyền địa phương trong hoạt động XTDL, làm cơ sở để người nghiên cứu tiếp sau có thể đi sâu nghiên cứu, tiếp cận chủ thể thương nhân trong XTDL.
Ngoài ra, một số tác giả nghiên cứu hoạt động XTDL ở cấp độ vi mô theo các hoạt động xúc tiến của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ du lịch như: Vũ Hoài Nam (2008), “Hoàn thiện công tác quảng bá du lịch của Công ty Cổ phần Du lịch Việt Nam tại Hà Nội đối với thị trường du lịch quốc tế trọng điểm Hoa Kỳ”; Hoàng Lê Minh (2008), “Tiếp thị trong kinh doanh du lịch”; Nguyễn Văn Dung (2009),“Chiến lược, chiến thuật quảng bá marketing du lịch”; Trần Ngọc Nam và Hoàng Anh (2009), “Cẩm nang nghiệp vụ tiếp thị du lịch và quy định pháp luật mới về kinh doanh du lịch, nhà hàng, khách sạn”. Ở cấp độ vi mô này, các tác giả đã đi sâu phân tích lý luận ở một số nội dung cụ thể dưới góc nhìn maketing về quảng cáo, giới thiệu dịch vụ du lịch, tiếp thị với khách du lịch. Dưới góc độ này, các công trình nghiên cứu nước ngoài mà tác giả biết đến đó là: Thu hút khách du lịch là một trong những mục tiêu của các chiến lược marketing du lịch, theo đó, nhiều tác giả đã đi sâu phân tích lý luận các yếu tố 13 trong du lịch có thể ảnh hưởng tới ý định sử dụng mua dịch vụ du lịch tại một điểm đến nhất định nào đó. Hầu hết các nghiên cứu về vấn đề này đều áp dụng mô hình “Kim cương” của Porter và đã khảo sát tiềm năng cạnh tranh của ngành du lịch bằng cách sử dụng bốn loại lực lượng: Điều kiện cung, điều kiện cầu, bối cảnh cho chiến lược doanh nghiệp và sự cạnh tranh, các ngành công nghiệp thượng nguồn và hạ nguồn.
Các bài nghiên cứu: “Tourist destination management”, (Eric law, 1995) [123]; “The international marketing of travel and tourism”, (Francois vellas, 1999) [131]; “Uban tourism”, (Stephen Page, 1995), chủ yếu nghiên cứu XTDL theo cách tiếp cận vùng, khu du lịch và nhấn mạnh cấu trúc của mỗi điểm đến du lịch; công nhận tầm quan trọng của các điểm du lịch là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tính cạnh tranh của điểm đến. Điểm hấp dẫn du lịch được coi là các thuộc tính của điểm đến du lịch, với các đặc điểm cụ thể của chúng, thu hút hoặc thúc đẩy khách du lịch đến thăm điểm du lịch cụ thể.