kế” 3 l BỘ TƯ PHÁP s TRUONG DAI HOC LUAT HA NOI HOI THAO KHOA HOC -PHÁP LUAT TOTUNG Ở VIỆT NAM TRONG “TIỀNV TRINH LICH SỬ ` ve Hà Nội, tháng 12/2017 CHUONG TRINH HOI THAO “PHAP LUAT TO TUNG O VIET NAM TRONG TIEN TRINH LICH SU” Hà Nội, 7/12/2017 Thời gian Công việc Người thực hiện 8h-8h30 Dang ky dai biéu 8h30-8h40 Phat biéu dé dan Chủ trì hội thao: TS. Trần Thị Hiền 8h40- 8h50 | Tham luận 1: Pháp luật tổ tụng ở Việt Nam Ths. Trân Hong thoi phong kiến — đặc điểm và giá trị Nhung 8h50-9h Tham luận 2: Tham quyên của các cấp xét xử | Ths. Trần Thị Hoa trong pháp luật tố tụng triều Hậu Lê.
+ 9h-9h10 Tham luận 3: Giám sát tô tung thông qua hoạt Ths. Vũ Thị Yên động phúc thâm và chung thẩm trong nhà nước phong kiến triều Nguyễn 9h10-9h20 | Tham luận 4: Quyên và nghĩa vụ quan lại thời | Ths. Phạm Thị Thu | Minh Mệnh trong lĩnh vực tố tụng Hiền 9h20-9h30 'Tham luận 5: Triêu đại Lê Thánh Tông và Ths. Hà Thi Lan những thành tựu về pháp luật tố tụng trong lịch Phương sử lập pháp Việt Nam.
| Tham luận 6: Hệ thông toà án bản xứ ở Bắc kỳ | Ths. Nguyễn Khánh thời kì Pháp thuộc Huyền 9h40-10h Thảo luận 10h-10h10 Giai lao 10h10-10h20] Tham luận 7: Pháp luật tô tụng đầusự Việt | PGS.TS Trân Anh Nam dưới góc độ lịch sử và so sánh Tuấn 10h20-10h30 | Tham luận 8 : Pháp luật tô tụng hành chính | PGS.TS Bui Thị Dao năm 2015 với việc bảo dam quyền con người,. quyền công dân. 10h30-10h40 | Tham luận 9: Xét lại bản án quyết định của toà | Ts.
Nguyễn Hải Ninh án đã có hiệu lực pháp luật trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ 1945 đên nay. 10h40-10h50 Tham luận 10: Quá trình hình thành và phat Ts. Nguyễn Thị Thuỷ triên của pháp luật tô tụng hành chính Việt nam với việc bảo đảm quyền Con người 10h50-11h | Tham luận 11: Nguyên tắc hai cấp xét xử trong |_ Ths. Nguyễn Mai lịch sử lập hiến, lập pháp Việt Nam.
Thuyén 11h-11h20 'Thảo luận 11h20-11h30 Bê mạc We Trước thực trạng đó, nhà nước phong kiến không thể không chú trọng tới việc xây dựng những luật lệ về tố tụng nhằm “ tẩy sạch hết cả thói quen tệ hại, việc chính tri được thanh bình, ngục tụng được im bặt, trên có thể đáp được lòng muốn bình trị của thánh minh, dưới có thé làm thỏa được nguyện vọng vui sống của triệu họ và đối với sự hưởng tước lộc các quan cũng không hé then là mang tiếng ăn không” __ Luật lệ về tố tụng không những được quy định một cách khá toàn diện và cụ thể trong Quốc triéu hình luật và Hoàng Việt luật lệ, mà còn được pháp điễn thành một bộ luật riêng. Bộ Quốc triều khám tụng diéu lệ là một hiện tượng pháp lý độc đáo của pháp luật phong kiến Việt Nam. Ngoài các bộ luật trên, Nhà nước phong kiến còn tiến hành tập hợp hóa, hệ thống hóa các quy định pháp luật theo các lĩnh vực cụ thể hoặc theo thời gian để thuận tiện trong quá trình xét xử. Các triều đại còn ban rất nhiều văn bản đơn hành vẻ tố tụng.
Nếu chỉ điểm trong Lịch triều hiến chương loại chí, trong tong số 29 văn bản pháp luật mà Phan Huy Chú liệt kê, đã có 23 văn bản liên quan đến tố tụng”.Có thé kể đến 4 văn bản hiện còn lưu truyền như: Tir tung điêu lệ- tap hợp một số văn bản liên quan dến các điều lệ về từ tụng vào năm Quang Thuận thứ 9 (1468) đời vua Lê Thánh Tông; Nhán mạng tra nghiệm pháp- do Lâm quận công Phạm Trạc ở bộ Hình biên tập vào năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) gồm 49 mục, trình bày về phương pháp lấy chứng cứ pháp y xem xét các loại tử thi, các loại vết thương, phương pháp khám nghiệm hiện trường dé biết nạn nhân chết do nguyên nhân nào, hung khí gì., cuốn sách được đánh giá là “một tiến bộ đáng ghi nhận về điều tra pháp y”” của cha ông ta thời phong kiến; Quốc triều Hong Đức niên gian chư cưng thé thizc(thé thức làm don từ biên bản các vụ án dưới thời Hồng Đức 1470-1497) cung cấp những mẫu văn bản giúp người thi hành pháp luật và người dân nắm được thể thức làm đơn từ, biên ban các vụ án dân sự, hình sự, thé thức lấy cung, biên bản khám nghiệm các vụ án, các điều về luật Hình, Hộ. Quốc triểu chiếu lệnh thiện chính, là tập hội điền với 7 quyén biên soạn vào thé ki XVI, gồm những chiếu lệnh của vua Lê, chúa Trịnh về các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của các bộ, trong đó có một quyển riêng về Hình thuộc với hơn 30 điều điều quy định về xét xử, kiện tụng như lệnh cấm quan cai bắt bớ xét xử, lệnh về xử kiện, lệnh về lệ soát tụng, lệnh về giam giữ và tử hình, lệnh răn dạy quan nam giữ chức vụ xử kiện.Nội dung và những giá trị trong các văn bản này còn chưa được khai thác nhiều, rất cần một công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống các văn bản pháp luật tố tụng qua các triều đại để có hiểu biết sâu sắc hơn, đánh giá khách quan hơn về các quy định tố tụng thời phong kiến. Trong phạm vi bài viết của hội thảo, tác giả trình bày một cách khái quát những đặc điểm của pháp luật tố tụng thời phong kiến đồng thời nêu lên những giá trị, những điểm tiến bộ và một số bài học kinh nghiệm có thể kế thừa đối với Việt Nam hiện nay. Đặc điểm của pháp luật tố tụng ở Việt Nam thời phong kiến Đặc diém thứ nhất, trong pháp luật phong kiến chưa có sự tách bạch giữa tố tụng hình sự và tố tụng dân sự, cho nên những quy định về tố tụng là những quy định chung cho cả việc dân và việc hình.Sự không phân chia thành các ngành luật và chưa tách bạch cụ thể giữa tố tụng hình sự và tố tụng dân sự cũng là đặc điểm chung của các hệ thống pháp luật thời tiền tư bản.
3 Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp ki, tr 260 * Vũ Thị Nga, Giáo trình Lịch sử và pháp luật Việt Nam, NXB Tư pháp, H, 2014, tr 130 5 Nguyễn Ngọc Nhuận (chủ biên), Mét số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam từ thé ki XV đến thé ki XVIII, NXB Khoa học Xã hội, tập 2, tr 8 , 2 “y Phải đến thời Pháp thuộc (1884-1945), ở Việt Nam mới bắt đầu có sự phân biệt luật tố tụng hình sự và tố tụng dân sự. Thời điểm đó, một số bộ luật của chính quốc đã được áp dụng ở Việt Nam như Bộ luật dân sự, Bộ luật thương mại, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự của nước Pháp. Tiếp thu kĩ thuật lập pháp tư sản, triều Nguyễn cũng ban hành nhiều bộ luật mới trong đó có những bộ luật riêng tách bạch giữa tố tụng hình sự và tố tụng dân sự như Bộ luật dân sự,thương sự tố tụng Bắc Kỳ năm 1921, Bộ luật hình sự tố tụng Bắc Kỳ năm 1921, Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng Trung Kỳ năm 1935. Bộ luật hình sự tố tụng Trung Kỳ năm 1935.
Đặc điểm thứ hai, thời phong kiến, tư pháp chưa tách khỏi hành pháp. Các quan lại đứng đầu các cấp kiêm luôn việc xử án. Tất cả các khâu trong quá trình tiến hành tố tụng mà được luật thời nay gọi là khởi tố, điều tra (bắt người, khám nghiệm, tra hỏi,.), xử án, thi hành án, đều do quan xử án đảm trách và đương nhiên có các lại viên trợ giúp. Trong luật thời đó, khái niệm xử án (xét xử) là bao hàm tát cả các khâu trong quá trình tiến hành tố tụng.Đặc điểm này xuất phát từ oF nguyên tac cơ bản trong té chức quyền lực của nhà nước phong kiến Việt Nam là nguyên tắc Tôn quân quyền.
Theo nguyên tắc này, toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung trong tay một cá nhân là nhà vua mà không có sự phân biệt rạch ròi thành các nhánh quyền: hành pháp, lập pháp và tư pháp. Vua vẫn là người có quyền xét xử tối cao. Các vị quan giải quyết việc kiện tụng trong nước chỉ là những người đại diện của nhà vua thực thi quyền xét xử. Chính vì lẽ đó mà “cũng như Trung Hoa, nước ta không có một ngạch pháp quan riêng biệt như các nước Tây Âu cuối thế kỷ 18”6.
Pháp luật phong kiến quy định cụ thé về trình tự và thầm quyền xét xử của các cấp chính quyền như sau: Thời Lê sơ, điều 672 Quốc triéu hình Iuậ: quy định: “Nhân dân trong lộ, trong huyện có việc tranh kiện nhau, việc rất nhỏ, đến kiện ở xã quan; việc nhỏ đến kiện ở lộ quan; việc trung bình đến kiện ở quan phủ; các quan kế trên phải xét xử cho công bằng đúng pháp luật; còn việc lớn thì phải đến kinh. Nếu xã quan xử đoán không hợp lẽ thì kêu đến quan huyện; quan huyện xử đoán không hợp lẽ thì kêu đến quan lộ; quan lộ xử đoán không hợp lẽ thì mới đến kinh tâu bày. 3X Nếu trái Jud này thì xử tội trong hoặc tội biém. Tố cáo những việc mưu phản nghịch thì không theo /zá/ này”.
Như vậy, theo bộ luật này, cấp xã được tham gia vào quá trình tố tụng, có quyền xét xử những việc rất nhỏ gọi là tối tiểu sự thường là những tranh chấp nhỏ nhặt trong làng xã nhằm hoà giải các đương sự. Quan huyện xét xử những vụ việc nhỏ và những vụ rất nhỏ mà xã quan xử không hợp lệ. Quan lộ, quan phủ xét xử những vụ việc trung bình và xét xử lại những vụ việc mà cấp huyện xử lý không hợp lệ. Triều đình xét xử những vụ việc lớn và xử lại những vụ việc mà cấp 16, cấp phủ xử không hợp lệ.
Trong các lệnh dụ của các thế ki sau đó, năm 1645 hay 1658 đều quy định xã trưởng có quyền xét kiện các án về hộ hôn, điền sản, dân sự trong phạm vi xã mình phụ trách nhưng từ năm 1717, nhà nước định lệ “xã trưởng và phường trưởng không có nhiệm vụ xét xử kiện tụng”. Vì Nguyễn Minh Tuấn, Téa án và xét xử thời phong kién, http:/tuanhsl -blogspot.com/2007/11/xt-x-thi-k-phong- kin.html Lệnh về khám tụng năm 1645: Các vụ kiện về hộ hôn, điền sản, đầu tiên là cáo lên xã trưởng, thứ đến là quan huyện.