Đặt vấn đề Chúng ta đang sống trong một xã hội mà ở đó vai trò của Nhà nước ngày cảng trở nên quan trọng, cùng với đó là sự gia tăng các khoản công phí (chỉ tiêu công) để khẳng định vai trò của Nhà nước đối với xã hội. Tuy nhiên, điều nghịch lý là ở chỗ, trong khi Nhà nước có xu hướng can thiệp ngày càng mạnh mẽ hơn vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội bằng các hoạt động có tính cách “công ích” và đương nhiên điều đó sẽ làm gia tăng các khoản công phí thì các nguồn lực để Nhà nước i trợ cho các hoạt động của minh (ví dụ: thuế và các khoản vay nợ) lại có xu hướng ngày càng trở nên khan hiếm. Thực tế nay đặt Nhà nước vào tình huống phải tim kiếm các nguồn thu khác ngoài thuế và vay ng. Trong số các nguồn thu đó, phi va lệ phí được xem như là những “phát in mới” của Nhà nước trong địa hạt tài chính công lúc đáp nhu cầu cân i giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi của Ngân sách Nhà nước hang năm.
Cơ sở lý luận cũa việc ban hành Luật phí, lệ phí Đối với mỗi quốc gia, mọi khoản chỉ tiêu của Nhà nước hàng năm hầu như đều được tài trợ bởi các khoản thu cơ bản như: thuế, lệ phí, phí, các khoản. hoa lợi công sản, các khoản vay nợ và/hoặc đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân cho Nhà nước”. Trong số các khoản thu này, thuế tuy được coi là nguồn thu lớn nhất của Nhà nước nhưng trước nhu cầu gia tăng công phí hàng năm thì khoản thu về thuế chưa bao giờ được coi là đủ để đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của "Nhà nước. Chính vì vậy, việc tìm kiếm các nguồn thu khác để góp phan gia tăng.
ˆ Tho ng sách nà nude bao zim các khoản th từ thuỷ, nhị, lệ pl: các khoản thu từ hoạ động kh tế củ “Nhà nước, các khoản đồng gp của các tổ chức à cá nhân; ede khoản viento ác khon thu khá theo quy dn cửa hập ust, lượng tải nguyên cho quốc gia đã ngày càng trở nên cấp bách hơn, trong đó có việc khai thác các nguồn thu từ lệ phí và phí. Vay, cần phải hiểu thế nào là “lệ phí” và thế nào là “phí”? Giữa “lệ phí” và “phí” có những điểm tương đồng và khác biệt “Trước hết, về khái niệm “lệ phí” va “phí”. “Trong Từ điển Hán Việt hiện tại, không có một định nghĩa chính thức nào. về các thuật ngữ “lệ phí” và “phí”.
Tuy nhiên, trong tác phẩm “Nhập môn Luật thuế đại cương và lý thuyết thuế”, tác giả Michel Bouvier đã nêu quan điểm cho rằng: “Lệ phi” là khoản tiền ma bên cung cắp dịch vụ nhận được vào thời điểm cung cấp dịch vụ, do đó “lệ phí” có tính chất của một khoản thủ lao địch vụ, khác với thuế có tính chất là một khoản “đóng gốp bắt buộc” va không có đối khoản! Cũng trong tác phẩm này, học giả Michel Bouvier tiếp tục nêu quan điểm cho rằng, “phí” là khoản tiền trả cho các dịch vụ đã nhận được, do đó “phí” có tính chất như là “giá ca” của địch vụ được cung cấp và điều quan trọng hơn là số. tiền phí nhất thiết phải “ngang bằng” hoặc “tương đương” với giá trị của các dich vụ đã nhận được”. Đối với các khoản phí và lệ phí được nộp vào Ngân sách nhà nước, chúng đều có tính chất như là những “đối khoản”rmà Nhà nước được. quyền thu khi cung cấp các dịch vụ công cho khách hàng là td chức, cá nhân (Với tư cách là bên nộp phí, lệ phi), “Trong một tác phẩm khác, cuốn Từ điển Luật học do NXB Từ điển Bách.
khoa và NXB Tư pháp đồng phát hành năm 2006 lại đưa ra một định nghĩa về “phi” như sau: “Phi là khoản thu mà người thụ hưởng lợi ích phải nộp do việc đầu tư, bảo dưỡng công trình công cộng, hoạt động dich vụ của tổ chức, cá nhân. khác”5, Theo cách định nghĩa này, “phi nộp vào Ngân sách nhà nước không hoàn toàn có tính chất như là “giá cả” của địch vụ được cung cấp, bởi lẽ khoản {Xem thêm: Michel Bouvier, nhệp món Lat dé đi cương và lý thar du, NXB Chính i Qube gh, tr 35 * Tiêu chí này đã được Toa Hành chính ôi cao Phip dim ra trong Quyết định ngày 21/11/1958 la xế xế vụ tranh chấp bình chính liền quan đến Công đoôn vận di bàng không quốc gia. Ngubn: Michel Bouvier, Sad, tr 3. Ê Xem thêm: Bp Tu phip, Viện Khoa bye pháp lý, Từ dn Lud hoe, NXB Từ điễn Bách khoa, NXB Tư pháp 2006, w.
618 phí pl nộp không nhất thiết phải trơng xứng với giá trị của dịch vụ công được. nha nước cung cắp cho người nộp phí. “Thứ hai, về sự tương đồng và khác biệt giữa “lệ phí” và “phi”. ‘Theo tác giả Michel Bouvier, điểm giống nhau giữa “lệ phí” và “phí” là ở chỗ, cả hai khoản thu này đều gắn với các dịch vụ được cung cấp.
Tuy nhiên, giữa “lệ phí” và “phi” khác nhau ở hai điểm: (i) Lệ phí không chỉ thu của những người sử dụng dịch vụ thực tế, mà còn thu của cả những người sử dụng dịch vụ `m năng (ví dụ: trường hợp lệ phí thu gom rác thải sinh host); (ii) Lệ phí không đồi hỏi giá trị di ‘vy được cung cấp và số tiền lệ phí phải bằng nhau”, ‘Nhu vậy, có thé cho rằng về phương diện học thuật, có sự khác biệt mang tính bản chất giữa khoản thu truyền thống của Nhà nước lâu nay là thuế và các. khoản vay nợ từ dân cư với các khoản thu có tên gọi “lệ phí” và “phí”. Trước hết, về sự khác nhau giữa “lệ phí” và “phí” với khoản thu từ thuế, Theo quan niệm của các tài chính gia, thuế là nguồn tài nguyên quan. trọng nhất đễ tài trợ cho các chỉ tiêu của quốc gia (Nhà nước) hàng năm.
nguồn tài nguyên này trở nên dn định và có khả năng khai thác được dễ dang, ‘Nha nước phải tạo ra cho thuế một thuộc tính là “sự cưỡng bức” hay “bắt buộc”, bằng cách gán cho thuế tinh chất của một nghĩa vụ pháp lý ~ nghĩa vụ tài sản mà. bat kỳ người nộp thuế nào cũng không thể từ chối thực hiện. Hơn thế nữa, sau yp thuế, người nộp thuế không có quyền yêu cầu Nhà nước pl trả trực tiếp” cho mìnhmột khoản lợi ích vật chất tương đương với số mà minh đã nộp cho Nhà nước. Trong trường hợp này, người ta nói rằng thuế không có tính chất “đối khoản” hay “đối giá”, giống như một khoản vay nợ thông thường.
Trái lại, cả“lệ phí” và “phí” đều là những khoản thu có tinh chất“đối giá” hoặc “đối khoản”, đồng thời cñng không có tính chất “cưỡng bức” một cách đơn phương từ phía Nhà nước như thuế, “Thứ hai, về sự khác nhau giữa “lệ phí” và “phi” với khoản thu từ vay nợ. Trong quan niệm của các tài chính gia thuộc trường phái cỗ dién, khoản thu về vay nợ của Nhà nước từ trong nước hay nước ngoài luôn có tính cách " Xem tiêm: Michel Bouvier, Sdd, NXB Chính tị Quốc gia tr 33, & “bất thường”, nghĩa là Nhà nước chỉ nên sử dụngđến biện pháp này khi không còn cách nào khác dé có thé tìm kiếm nguồn thu nhằm tai trợ cho các khoản chỉ tiêu củaNhà nước hang năm. Các tài chính gia thuộc trường phái cổ điển có ý chỉ trích việc Nhà nước lạm dụng biện pháp vay nợ trong nước và nước ngoài để. tạo nguồn thu cho quỹ ngân sách nhà nước mà không chú ý tới dụng biện pháp thu thuế.
Trong khi đó, các tai chính gia thuộc trường phái hiện đại lại cho rằng khoản thu về vay nợ, cũng giống như thuế hay phí và lệ phí, boàn toàn có tính cách “bình thường” trong xã hội hiện đại, nghĩa là Nhà nước có thé sử dụng các khoản thu này bất cứ lúc nào xét thấy cần, miễn sao là đảm. bao khả năng trả được nợ cho bên chủ nợ khi đến hạnỄ.Các học giả theo trường. phái này cũng cho rằng việc sử dụng biện pháp vay nợ đôi khi còn có tác dụng thúc đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế và các hoạt động đầu tr, đặc biệt là việc đầu tư cho cơ sở ha ting về kinh tế - xã hội, tạo nền tang để phát triển một quốc gia hưng thịnh về kinh tế và én định về xã hội. “Xét về mặt lý thuyết, có lẽ điểm khác nhau cơ bản giữa khoản thu về lệ phí và phí với khoản thu về vay nợ là ở chỗ: khoản thu vẻ lệ phí và phí (nộp vào.
quỹ ngân sách nhà nước) không được hình thành theo cơ chế hợp đồng, trong khi khoản thu về vay nợ luôn được xác lập và thực hiện theo cơ chế hợp đồng. Ngoài ra, nếu khoản thu về vay ng chi được sử dung dé chỉ cho hoạt động đầu tư phat triển thì khoản thu về lệ phí và phí lại chủ yếu được dùng để chỉ thường xuyên, ngoại trừ một số khoản phí đặc thi được sử dụng để chi đầu tư phát triển (vf dụ: lệ phí giao thông, phí bảo tri đường bộ. “Tóm lại, từ kết quả phân tích trên đây về lệ phí và phí, đặt trong quan hệ với các khoản thu khác, có thé đưa ra một số kết luận như sau: Thủ: nhất cần khẳng định rằng lệ phí va phí (nộp vào quỹ ngân sách nhà. nước) vốn di đều là những khoản thu gắn liễn với các dịch vụ công do Nhà nước.
cung cấp cho xã hội. Vì thé, cơ sở để Nhà nước tăng cường các khoản thu về lệ phí và phí bằng cách ban hành Luật phí, lệ phí là Nhà nước phải tăng cường cung cấp cácdịch vụ công cho xã hội về cä số lượng và chất lượng địch vụ. * Xem tiên: Lê Dinh Chân, 7i chánh cing, Sti Gòn, 1974, «151, Thứ bai, do tính chất của “phi” đòi hỏi có sự ngang bằng về giá trị khoản phí phải nộp với giá trị dịch vụ công mà Nhà nước cung ứng cho người dân và doanh nghiệp nên Nhà nước phải quy định mức phí dựa trên chất lượng. dich vụ và giá trị tương ứng của dich vụ công được Nhà nước cung cấp cho cộng đồng.
Sự tương ứng giữa giá trị dịch vụ công được Nhà nước cung cấp với giá trị khoản phi mà người dân phải nộp cho Nhà nước cần được coi là nguyên tic ơ bên để xây dựng biểu phí thu vào quỹ ngân sách nhã nước trong thời gian tới.