Giáo Trình Kỹ Thuật Audio Video Phần 2: Tùy Chọn Trong Kỹ Thuật Truyền Hình

Giáo trình kỹ thuật audio video phần 2 trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh cung cấp kiến thức chuyên sâu và ứng dụng thực tiễn trong ngành.

Trường đại học

Trường Đại Học Kỹ Thuật

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Truyền Hình

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

bài giảng

2023

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

6. CHƯƠNG 6: CÁC TÙY CHỌN TRONG KỸ THUẬT TRUYỀN HÌNH

6.1. Đại cương

6.2. Tùy chọn tỉ lệ khuôn hình

6.3. Tùy chọn số hình/giây – tần số quét dọc

6.4. Số dòng quét/hình và chất lượng kỹ thuật hình

6.5. Chọn tần số quét ngang

6.6. Chọn dải tần của video

6.7. Chọn âm thanh hay chọn kênh sóng

6.8. Chọn truyền hình đen trắng hay màu

6.9. Tín hiệu màu RGB (RGB color video)

6.10. Video thành phần Y, R-Y, và B-Y (component video)

6.11. Tín hiệu màu Chói Sắc hay Y,C (S video)

6.12. Tín hiệu màu tổng hợp (composite color video)

7. CHƯƠNG 7: MÃ HÓA HAY ĐỊNH DẠNG VIDEO

7.1. Đại cương

7.2. Tín hiệu Đen Lóe (BB)

7.3. Tin tức xóa ngang và dọc (Horizontal & Vertical Blanking)

7.4. Tin tức đồng bộ ngang và dọc

7.5. Tin tức Lóe màu

7.6. Tín hiệu màu chói sắc (y,c)

7.7. Sóng mang màu hay tín hiệu sắc NTSC

7.8. Điều biên nén

7.9. Điều biên nén vuông góc

7.10. Sự cần thiết của lóe màu (color burst hay burst)

Tóm tắt

I. Tổng quan về Kỹ Thuật Truyền Hình Hiện Đại

Kỹ thuật truyền hình đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ truyền hình đen trắng đến truyền hình màu và hiện nay là truyền hình độ nét cao (HD) và 4K. Sự phát triển này không chỉ mang lại chất lượng hình ảnh tốt hơn mà còn cải thiện trải nghiệm người xem. Các công nghệ mới như truyền hình vệ tinh và truyền hình trực tuyến đã mở ra nhiều cơ hội cho người tiêu dùng.

1.1. Lịch sử phát triển của Kỹ Thuật Truyền Hình

Kỹ thuật truyền hình bắt đầu từ những năm 1930 với các hệ thống truyền hình đen trắng. Sau đó, vào những năm 1950, truyền hình màu ra đời, mang lại trải nghiệm hình ảnh sống động hơn. Gần đây, công nghệ truyền hình 4K đã xuất hiện, cung cấp độ phân giải gấp bốn lần so với HD.

1.2. Các tiêu chuẩn truyền hình hiện nay

Các tiêu chuẩn truyền hình hiện nay bao gồm NTSC, PAL và SECAM. Mỗi tiêu chuẩn có những đặc điểm riêng về số dòng quét và tần số quét, ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh và âm thanh.

II. Vấn đề và Thách thức trong Kỹ Thuật Truyền Hình

Mặc dù có nhiều tiến bộ, kỹ thuật truyền hình vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như độ trễ tín hiệu, chất lượng hình ảnh và âm thanh, cũng như sự tương thích giữa các thiết bị là những yếu tố cần được giải quyết.

2.1. Độ trễ tín hiệu trong truyền hình

Độ trễ tín hiệu có thể gây ra sự không đồng bộ giữa hình ảnh và âm thanh, ảnh hưởng đến trải nghiệm người xem. Các công nghệ mới đang được phát triển để giảm thiểu độ trễ này.

2.2. Chất lượng hình ảnh và âm thanh

Chất lượng hình ảnh và âm thanh là yếu tố quan trọng trong truyền hình. Các tiêu chuẩn như HD và 4K đã cải thiện đáng kể chất lượng, nhưng vẫn cần có các giải pháp để nâng cao hơn nữa.

III. Phương pháp và Giải pháp trong Kỹ Thuật Truyền Hình

Để giải quyết các vấn đề trong kỹ thuật truyền hình, nhiều phương pháp và giải pháp đã được đề xuất. Các công nghệ mới như truyền hình trực tuyến và truyền hình vệ tinh đang trở thành xu hướng.

3.1. Truyền hình vệ tinh và truyền hình trực tuyến

Truyền hình vệ tinh cung cấp tín hiệu mạnh mẽ và ổn định, trong khi truyền hình trực tuyến cho phép người dùng xem nội dung mọi lúc, mọi nơi. Cả hai đều đang thay đổi cách thức tiêu thụ nội dung.

3.2. Công nghệ truyền hình 4K và HDR

Công nghệ 4K và HDR mang lại hình ảnh sắc nét và màu sắc sống động hơn. Việc áp dụng các công nghệ này trong sản xuất và phát sóng đang ngày càng phổ biến.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Kỹ Thuật Truyền Hình

Kỹ thuật truyền hình không chỉ được sử dụng trong giải trí mà còn trong giáo dục, y tế và truyền thông. Các ứng dụng này đang mở rộng và mang lại nhiều lợi ích cho xã hội.

4.1. Truyền hình trong giáo dục

Truyền hình đã trở thành một công cụ quan trọng trong giáo dục, giúp truyền tải kiến thức đến học sinh và sinh viên một cách hiệu quả. Các chương trình giáo dục trực tuyến đang ngày càng phổ biến.

4.2. Truyền hình trong y tế

Kỹ thuật truyền hình cũng được ứng dụng trong y tế, từ việc truyền hình trực tiếp các ca phẫu thuật đến việc cung cấp thông tin sức khỏe cho cộng đồng.

V. Kết luận và Tương lai của Kỹ Thuật Truyền Hình

Kỹ thuật truyền hình đang tiếp tục phát triển với nhiều công nghệ mới. Tương lai của truyền hình hứa hẹn sẽ mang lại nhiều trải nghiệm mới cho người xem, từ chất lượng hình ảnh đến cách thức tiêu thụ nội dung.

5.1. Xu hướng phát triển trong tương lai

Các xu hướng như truyền hình 8K, thực tế ảo và trí tuệ nhân tạo đang được nghiên cứu và phát triển. Những công nghệ này sẽ định hình lại cách thức mà người tiêu dùng tiếp cận nội dung.

5.2. Tác động của công nghệ đến truyền hình

Công nghệ không ngừng thay đổi cách thức sản xuất và phát sóng truyền hình. Sự phát triển của internet và các thiết bị di động đang tạo ra những cơ hội mới cho ngành công nghiệp truyền hình.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 6 CÁC TÙY CHỌN TRONG KỸ THUẬT TRUYỀN HÌNH 6. Đại cương Ảnh thật khi được hội tụ trên mặt bia của camera sẽ được đổi thành tín hiệu hình (video). Việc chuyển đổi sẽ được thực hiện từng điểm một. Số điểm tối đa trên một hình, số hình được truyền đi trong một giây là bao nhiêu và ở máy thu chuyển đổi ngược lại như thế nào để có được ảnh giống như ảnh thật thu được bởi camera? Đây là những thông số tùy chọn của hệ thống truyền hình.

Tùy chọn tỉ lệ khuôn hình Đầu tiên, vào năm 1935, khi bắt đầu có hệ thống truyền hình đen trắng, khuôn hình được chọn tỉ lệ 3-4-5. Trong đó 3 là chiều cao, 4 là chiều rộng và 5 là kích thước của đường chéo (theo định lý Pythagone). Như vậy, khi muốn nói kích thước của khuôn hình chỉ cần nói kích thước của đường chéo là đủ. Tỉ lệ khuôn hình 3-4-5 có nhược điểm là khi ngồi cách xa màn hình khoảng 5 lần chiều cao màn hình thì tầm nhìn của mắt có góc rộng khoảng 200 0 theo chiều rộng và 1200 theo chiều cao.

Khi xem tivi, mắt sẽ đồng thời thấy nhiều không gian dư thừa chung quanh, để thấy rõ hình trên màn ảnh phải tăng độ sáng màn ảnh cao hơn chung quanh nhiều lần và điều này làm cho mắt mau mỏi. Ở các hệ truyền hình mới và truyền hình độ nét cao (HDTV), tỉ lệ khuôn hình được đổi thành 16x9. Điều này giúp tận dụng trường quan sát của mắt theo chiều ngang, khoảng cách ngồi xa màn ảnh được thu ngắn lại khoảng 2 lần chiều cao. Như vậy, màn ảnh chiếm tỉ lệ cao hơn trong trường hợp của mắt nên độ sáng không cần cao hơn chung quanh mà mắt vẫn thấy rõ hơn và đỡ mỏi mắt hơn.

Tùy chọn số hình/giây – tần số quét dọc Việc chọn số hình/ giây nhằm mục đích mắt nhìn thấy hình cử động liên tục và tránh hiện tượng nhấp nháy (flicker) trên màn ảnh xuống mức có thể chấp nhận được. Hiện tượng flicker Khi truyền hết một đường từ trái sang phải sẽ có thời gian xóa hồi ngang, khi truyền xong một hình sẽ có thời gian xóa hồi dọc. Thời gian xóa hồi dọc chiếm khoảng 10% thời gian truyền hình, nếu tính cả thời gian xóa khoảng 25% thời gian truyền 113 hình. Khi truyền hình chỉ truyền từng điểm một (trong điện ảnh truyền từng hình và có khoảng 24 hình/giây), khi truyền đến điểm dưới cùng của màn hình thì các điểm đầu màn hình đã bị mờ.

Độ sáng trên màn hình tỉ lệ với mức điện áp DC cung cấp từ nguồn. Nguồn DC lấy từ lưới xoay chiều công nghiệp nên sẽ có dợn sóng theo tần số của lưới (50Hz hay 60Hz). Khi điện áp bị giảm do gợn sóng sẽ làm độ sáng của hình hơi bị tối đi. Tất cả các hiện tượng trên sẽ làm cho hình ảnh thu được có hiện tượng nhấp nháy (flicker).

Chọn tần số quét dọc Trong ba nguyên nhân trên, điện áp dợn sóng của nguồn là quan trọng nhất. Để giảm hiện tượng flicker, tần số quét dọc được chọn bằng tần số của lưới điện 50Hz (hay 60Hz). Khi điện áp dợn sóng giảm xuống cũng là lúc thời gian hồi dọc và không vó hình nên mắt không nhìn thấy được. Chọn cách quét liên tục hay quét xen kẽ Trong điện ảnh chỉ cần thiếu 24 hình/giây cũng đủ thấy ảnh cử động liên tục.

Nếu tần số quét dọc là 50Hz hay 60Hz mà quét liên tục từ trên xuống dưới thì mỗi giây phải truyền 50 hình hay 60 hình. Cách này làm hình có thể bị mờ vì thời gian trở lại điểm quét cũ dài. Chọn cách quét xen kẽ, mỗi lần quét chỉ quét được một bán ảnh (còn gọi là mành = field), quét bán ảnh lẻ trước, bán ảnh chẵn sau. Cách quét này làm ảnh không bị mờ và số ảnh quét trong mỗi giây chỉ là 25 hình hay 30 hình.

Số ảnh quét trong mỗi giây gọi là m. Chọn số dòng quét/hình – tần số quét ngang 6. Số dòng/hình và chất lượng kỹ thuật hình Chọn số dòng có trong một hình là định nghĩa về khả năng chất lượng kỹ thuật của mình. Số dòng/hình càng cao thì hình càng mịn và sắc nét.

Đông Âu và Liên Xô cũ dùng tiêu chuẩn theo OIRT quét 625 dòng/hình, 50 mành/giây (gọi tắt 625/50) cho hệ màu PAL và SECAM. Bắc Mỹ và Nhật dùng tiêu chuẩn FCC quét 525 dòng/hình, 60 mành/giây (525/60) cho hệ màu NTSC. Đến năm 1981, tổ chức CCIR quốc tế hóa các thông số của hai tiêu chuẩn quét này trong khuyến nghị CCIR 601 nên thường được gọi chung là Video 601. - OIRT: Organization International Radio Televison = Hiệp hội quốc tế Phát thanh Truyền hình.

- FCC: Federal Comunication Committee = Hiệp hội Viễn thông Liên bang Mỹ. - CCIR: Consultative Committee on International Radio = Hội Tư vấn 114 Sóng điện Quốc tế. - SECAM: Sequentiel Couleur A Memoire = Tuần tự màu có nhớ. - NTSC: National Television System Committee = Hội hệ thống truyền hình Quốc gia Mỹ.

- PAL: Phase Alternative Line = Pha thay đổi từng dòng. Ngày nay, người ta có tiêu chuẩn 1125 dòng/hình cho hệ HDTV của Nhật và 1225 dòng/hình cho hệ HDTV của châu Âu. Để mắt không còn nhận ra các dòng quét nữa thì phải ngồi xa màn hình một khoảng cách nhất định. Đối với hệ truyền hình tiêu chuẩn SDTV thì phải ngồi xa khoảng 5 lần chiều cao màn hình (tức là khoảng 3 lần đường chéo).

Đối với hệ truyền hình độ nét cao HDTV thì chỉ cần ngồi xa khoảng cách 2 lần chiều cao màn hình. Chọn tần số quét ngang Nếu hệ thống truyền hình khi phân tích ảnh có N hàng ngang, tần số quét ngang fH (quét dòng) và quét dọc fV (quét mành) quan hệ theo biểu thức: 1 𝑓𝐻 = 𝑁𝑓𝑉 ℎ𝑎𝑦 𝑓𝐻 = 𝑁.1) 2 Thí dụ: hệ PAL có N = 625 hàng, số ảnh truyền trong một giây là 50 bán ảnh thì: fv = 50Hz, fH = ½ *625*50 = 15625Hz.2) Hệ NTSC có N = 525 hàng, số ảnh truyền trong một giây là 60 bán ảnh thì: 1 fv = 60Hz, 𝑓𝐻 = ∗ 525 ∗ 60 = 15750𝐻𝑧. Chọn dải tần của video Theo cách tái lập hình tại đèn hình máy thu, hai điểm sáng tối sát nhau theo chiều ngang, tương ứng ½ chu kỳ sóng của video. Hình càng sắc nét đòi hỏi chu kỳ video càng ngắn tức tần số video càng cao.

Điều này đòi hỏi dải tần video càng rộng. Tính theo chiều dọc, hai điểm sáng tối sát nhau nhất chính là khoảng cách d của hai dòng quét. Tương tự, để có độ nét dọc và ngang như nhau, hai điểm sát nhau theo chiều ngang cũng có khoảng cách như hình 6-1. Tùy tỷ lệ của màn hình là 4x3 hay 16x9 sẽ xác định được thời gian của một dòng quét, từ đó tần số video cao nhất (hay dải tần video) được tính như sau: Gọi D là chiều ao màn hình, nếu có 625 hàng ngang (575 dòng hình) thì: d=D/575 => D=575.d Nếu có tỉ lệ 4x3 thì chiều ngang màn hình là: 4𝐷 4 = ∗ 575.

𝑑 3 3 Thời gian để quét một hàng ngang là 52𝜇𝑠 (một hàng ngang quét 64 𝜇𝑠 nhưng trừ 12 𝜇𝑠 xóa ngang). Ta có thể tính được tần số video max theo công thức: 1 1 𝑓𝑚𝑎𝑥 = = 𝑑 ≅ 7,5 𝑀𝐻𝑧 (6.4) 𝑇 2 Tính tương tự: Tiêu chuẩn 525 hàng và 60 mành/giây thì 𝑓𝑚𝑎𝑥 = 6,3 𝑀𝐻𝑧 Tiêu chuẩn 1125 hàng và 60 mành/giây thì 𝑓𝑚𝑎𝑥 = 39𝑀𝐻𝑧 Hình 6-1. Khoảng cách giữa hai điểm sát nhau là d = 1/2T 6. Chọn âm thanh hay chọn kênh sóng 6.

Chọn tần số FM cho âm thanh Khi truyền hình phải truyền cả âm thanh kèm theo. Để thuận tiện, âm thanh được điều tần rồi ghép chung vào tín hiệu video, truyền chung trên một đường. Sóng mang FM được chọn có tần số cao hơn và sát cạnh tần số cao nhất của video, do đó, sóng âm FM có thể nhập chung với video mà không bị lẫn lộn nhau. - Theo OIRT, dải tần video 0Hz đến 6MHz, sóng FM là 6,5MHz - Theo FCC, dải tần video 0Hz đến 4,2MHz, sóng FM là 4,5MHz.

- Theo CCIR, dải tần video 0Hz đến 5MHz, sóng FM là 5,5MHz. Chọn kênh sóng Tần số sóng FM sẽ quyết định độ rộng của mỗi kênh truyền hình theo từng tiêu chuẩn. Mỗi kênh sẽ có sóng mang cao tần để truyền tín hiệu video, tần số sóng mang của các kênh phải cách nhau một khoảng gọi là độ rộng kênh truyền hình. Độ rộng kênh truyền hình tùy thuộc theo tiêu chuẩn truyền hình sử dụng bởi các quốc gia khác nhau.

Thí dụ: - Kênh 9 OIRT có khoảng tần số từ 199,25 MHz đến 205,75MHz (rộng 6,5MHz). - Kênh 11 FCC có khoảng tần số từ 199,25 MHz đến 203,75MHz (rộng 4,5MHz). Chọn truyền hình đen trắng hay màu Đầu tiên chỉ có truyền hình đen trắng, chỉ cần một đầu đọc đổi hình ra tín hiệu 116 hình đen trắng (B&W video), phản ánh cường độ sáng của từng điểm trên cảnh. Đúng ra phải gọi là video thang xám (Grayscale Video) để phân biệt với B&W video trong đồ họa, chỉ có hai màu đen và trắng.

Tín hiệu này có điện áp là EY phản ánh biên độ trung bình của toàn phổ (toàn dải sóng ánh sáng). Để truyền hình màu, trước hết phải tách riêng ba thành phần ánh sáng đỏ R, ánh sáng xanh lá cây G và ánh sáng xanh lơ B có trong nguồn sáng. Ba tín hiệu này được ba đầu đọc riêng đổi thành ba loại video đỏ ER, video xanh lá cây EG và video xanh lơ EB. Việc tách màu có nghĩa là chia phổ ra làm ba quãng và ba điện áp ER, EG, EB chính là ba mức trung bình của ba quãng phổ riêng.

Chọn tín hiệu màu 6. Cảm giác màu sắc của mắt người Cảm sắc màu mắt người có được, nhờ ba nhóm tế bào thần kinh thị giác nằm trong hốc mắt, gọi là nhóm đỏ (Red), nhóm lá cây (Green) và nhóm lơ (Blue). Gọi nhóm R vì các tế bào thuộc nhóm này nhạy cảm nhất với ánh sáng đỏ. Tương tự, nhóm G nhạy cảm nhất với màu xanh lá cây, nhóm B nhạy cảm nhất với màu lơ.

Khi đem 3 nguồn sáng đỏ, xanh lá và lơ chiếu lên màn ảnh bằng vải trắng, vùng giao nhau giữa đỏ và xanh lá sẽ thấy màu vàng (Yellow), vùng giao nhau giữa màu xanh lá cây và màu lơ sẽ thấy màu lam (Cyan), vùng giao nhau giữa màu lơ và màu đỏ sẽ thấy màu tía (Magnenta). Tại vùng chính giữa, nơi cả 3 vòng màu giao nhau sẽ cho ra màu trắng. Vẫn tại vùng chính giữa, nếu thay đổi cường độ sáng của 3 màu với tỉ lệ khác nhau, mắt có thể cảm nhận được hầu hết các màu có trong thiên nhiên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ