Đặt vấn đề Từ lâu, hoa lan đã trở thành 1 trong những loài hoa không chỉ đẹp mà còn được ưa chuộng, phổ biến bậc nhất thế giới. Với cấu trúc rất kiêu kỳ và phức tạp, từ tất cả các bộ phận, từ thân, lá, cành hay đặc biệt là hoa đều được pha trộn 1 cách hài hòa, cân đối, khi thì hiện lên những nét tương phản rõ nét, khi thì chìm lắng 1 cách lặng lẽ, vừa có nét mềm mại, vừa có nét duyên dáng. Không chỉ được thiên nhiên ban tặng 1 cấu trúc vô cùng đặc biệt, lan còn được coi là loài hoa có sức sống mãnh liệt, thể hiện đẳng cấp của người chơi lan, bởi vậy, không phải ngẫu nhiên lan được mệnh danh là: “Món tráng sức đẹp nhất” hay: “Nữ hoàng của các loài hoa”. Trầm mặc nhưng thanh cao, thượng lưu nhưng tao nhã, đó là đặc tính của loài lan, nên người xưa có câu: “Vua chơi lan, quan chơi trà”, ý nói thú chơi lan thường chỉ giành cho vua chúa, giới vương giả, nhưng với xã hội phát triển như hiện nay, thú chơi lan dần trở nên phổ biến, không khó gì để bắt gặp lan được trồng ở bất kì vùng nào, ở thành phố hay trong hộ gia đình nào cả.
Ngoài vẻ đẹp kiêu kỳ, quyến rũ khiến bao người mê đắm, lan còn có các đặc điểm mà nhiều loài hoa khác không có được là mùi hương, với hương thơm đặc biệt, đa dạng mà hầu như không có loại hương liệu nhân tạo nào sánh được, vì vậy giá trị lan ngày càng lớn, dần dần lan trở thành 1 loại mặt hàng được ưa chuộng trên thị trường. Theo vườn thực vật hoàng gia Kew liệt kê 880 chi và gần 22.000 loài được chấp nhận, nhưng số lượng chính xác vẫn không rõ (có thể nhiều tới 25.000 loài) do các tranh chấp phân loại học. h 2 Số lượng loài lan cao gấp 4 lần số lượng loài động vật có vú hay hơn 2 lần số lượng loài chim. Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa.
(Yohan Pillon and Mark W.Chase, 2007) [34] Còn tại Việt Nam có 137-140 chi gồm trên 800 loài lan rừng. (Trần Hợp, 2007) [12] Số lượng và sự phân bố vô cùng lớn, nhưng những năm gần đây, do nhu cầu thưởng lan ngày càng lớn kèm với đó là sự khai thác quá mức của con người, đã khiến nguồn lan ngày 1 cạn kiệt. Để khai thác một số lượng lớn lan rừng, những người khai thác lan buộc phải cưa đổ những cây rừng lớn. Khi cây đổ xuống nhiều tán rừng xung quanh sẽ bị hư hại nặng.
Điều này cũng đồng nghĩa không chỉ nguồn lan rừng ở đây bị khai thác cạn kiệt mà nhiều khoảnh rừng sẽ bị tàn phá tan hoang. Ngoài ra việc khai thác lan ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học, sự tàn phá nghiêm trọng khiến số lượng và chất lượng lan giảm đi nhanh chóng, dẫn đến hạn chế nguồn gen, có lẽ chỉ thêm 1 thời gian nữa, lan rừng sẽ có nguy cơ biến mất vĩnh viễn. Một số loài lan đang ngày càng bị cạn kiệt, không chỉ vì chúng là loài hoa cho hương, cho sắc mà còn vì chúng còn có nhiều tác dụng khác như: Làm thuốc, mĩ phẩm, nước hoa,… Lan Ngọc điểm đai châu, Thạch hộc hoa trắng và Hạc đính rừng cũng nằm trong số những loài lan quý hiếm, vô cùng có giá trị, nên vào thời điểm hiện tại đều là những loài lan cần được bảo vệ và nhân giống. Vì vậy, tôi nghiên cứu khóa luận: "Nghiên cứu kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng Ngọc điểm đai châu (Rhynchostylis gigantea), Thạch hộc hoa trắng (Flickingeria albopurpurea), Hạc đính rừng (Phaius mishmensis) tại vườn lan Hồ Núi Cốc để tìm hiểu một số kỹ thuật gây trồng và chăm sóc kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại của các loài lan từ đó có thể phát triển nguồn lan hiện có.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Xác định được kỹ thuật gây trồng lan: Ngọc điểm đai châu (Rhynchostylis gigantea); Thạch hộc hoa trắng (Flickingeria albopurpurea); Hạc đính rừng (Phaius mishmensis). - Đánh giá được khả năng sinh trưởng và phòng trừ sâu bệnh hại của lan: Ngọc điểm đai châu (Rhynchostylis gigantea); Thạch hộc hoa trắng (Flickingeria albopurpurea); Hạc đính rừng (Phaius mishmensis). - Đề xuất các biện pháp gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu hại lan: Ngọc điểm đai châu (Rhynchostylis gigantea); Thạch hộc hoa trắng (Flickingeria albopurpurea); Hạc đính rừng (Phaius mishmensis).
Yêu cầu - Xác định được các phương pháp trồng chăm sóc hợp lí cho 3 loại lan: Ngọc điểm đai châu (Rhynchostylis gigantea); Thạch hộc hoa trắng (Flickingeria albopurpurea); Hạc đính rừng (Phaius mishmensis). - Xác định được loại bệnh, tình hình bệnh hại 3 loại lan: Ngọc điểm đai châu (Rhynchostylis gigantea); Thạch hộc hoa trắng (Flickingeria albopurpurea); Hạc đính rừng (Phaius mishmensis). - Đề xuất biện pháp tối ưu để phòng trừ bệnh hại. - Số liệu thu thập phải khách quan trung thực.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu kỹ thuật chăm sóc phòng trừ sâu bệnh hại lan nhằm: - Cung cấp các dẫn liệu khoa học về các chỉ tiêu cơ bản cho một giống lan đạt năng suất chất lượng cao cũng như ảnh hưởng từ các điều kiện gây trồng (nhiệt độ, ánh sáng, giá thể, phân bón,.) đến sinh trưởng phát triển, sự hình thành hoa và chất lượng hoa. h 4 - Tìm hiểu, phân tích được những đặc trưng cơ bản của từng loài lan từ đó lựa chọn ra các biện pháp kĩ thuật phù hợp với từng loài, phục vụ công tác bảo tồn loài lan, đặc biệt là giống lan rừng, giống lan quý hiếm. - Bổ sung các thông tin khoa học làm cơ sở nghiên cứu cho ngành khoa học sau này.
- Bổ sung tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về 3 loài: Ngọc điểm đai châu (Rhynchostylis gigantea); Thạch hộc hoa trắng (Flickingeria albopurpurea); Hạc đính rừng (Phaius mishmensis). Ý nghĩa thực tiễn - Giúp tìm hiểu các kỹ thuật gây trồng và chăm sóc lan: Ngọc điểm đai châu (Rhynchostylis gigantea); Thạch hộc hoa trắng (Flickingeria albopurpurea); Hạc đính rừng (Phaius mishmensis) tại vườn lan Hồ Núi Cốc. - Hiểu rõ được đặc tính, quá trình sinh trưởng phát triển của từng loài lan, từ đó cũng hiểu được giá trị của lan đối với sự đa dạng sinh học của thiên nhiên, giá trị kinh tế đối với con người. - Ứng dụng kiến thức đã học vào thực tiễn: Đề xuất được các biện pháp kỹ thuật nuôi trồng làm tăng khả năng sinh trưởng, phát triển, tăng tỷ lệ ra hoa cho các giống lan tuyển chọn.
Các biện pháp kỹ thuật có tính khả thi cao, có khả năng ứng dụng cho sản xuất đại trà đem lại hiệu quả thiết thực cho người trồng lan. - Nâng cao tầm quan trọng của công tác chăm sóc bảo tồn của loài hoa lan. h 5 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2.
Cơ sở sinh học Việc nắm rõ các đặc điểm sinh học cơ bản của Ngọc điểm đai châu (Rhynchostylis gigantea); Thạch hộc hoa trắng (Flickingeria albopurpurea); Hạc đính rừng (Phaius mishmensis) rất quan trọng, được coi là bước đầu để đem lại hiệu quả trong quá trình nghiên cứu. Có thể nói cơ sở sinh học là yếu tố cơ bản để phát triển các cơ sở tiếp theo. Cơ sở trồng, chăm sóc, bảo vệ lan rừng Lan rừng là 1 loài hoa quý, có giá trị thẩm mỹ cao cũng như ý nghĩa đặc biệt, lan rừng có nguy cơ tuyệt chủng cao do việc quá trình khai thác bừa bãi để buôn bán trên thị trường. Do đó, việc cấp thiết là bảo tồn và duy trì lan cũng như nhân giống các giống lan quý trong tự nhiên để thay thế các nguồn khai thác lan trong rừng.
Thông qua quá trình nghiên cứu, có thể nắm vững được các kiến thức cơ bản về các loài lan cũng như cách trồng, cách chăm sóc và cách nhân giống. Như vậy, vừa có thể bảo vệ các giống lan quý trong rừng, vừa có thể đảm bảo nhu cầu của thị trường về lan. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu lan trên thế giới 2.
Tình hình nghiên cứu lan trên thế giới Lan (Orchidaccac) là 1 trong những đỉnh cao của sự tiến hóa của các loài cây có hoa, được con người biết đến rất sớm. Ở châu Á danh từ lan là tên có từ xa xưa trong Tứ thư, ngũ kinh và cả trong Kinh kịch của Bạch Gia Chư Tứ (Trung Quốc 551- 479 trước công nguyên). Khổng Tử hết lời ca ngợi và có lẽ là người đầu tiên coi hoa lan là vua của các loài hoa. (Bùi Thanh Vân, 2008) [24] h 6 Người ta tưởng rằng cây lan được biết đến đầu tiên ở châu Âu qua bản viết tay bằng chữ Hy Lạp (Enenquiry into plans) của Theophrastus khoảng 379 đến 285 TCN) nhưng thực ra cây lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông khoảng từ 551 – 497 trước công nguyên.
[37] Theo Bretchneider, từ đời vua thần Nông- Trung Quốc (2800 TCN) trong 1 tài liệu về cây thuốc, còn ghi lại 2 loài hoa lan được dùng làm thuốc trị bệnh. (Phan Thúc Huân, 2005) [13] Nói chung tại các nước Châu Á, hoa lan được biết đến và đưa vào trồng rất sớm. Từ năm 1957, Thái Lan, Indonexia bắt đầu phát triển nuôi trồng lan quy mô ngày càng lớn, phục vụ cho xuất khẩu. Sau thành công của Thái Lan, nhiều người từ các nước Ấn Độ, Srri Lanka, Philippin đã lần lượt đến Thái Lan học hỏi kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh lan.
(Phan Thúc Huân, 2005) [13] Từ 1957, Thái Lan và Indonexia bắt đầu phát triển nuôi trồng lan qui mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu. Các loại lan rừng và lan lai, lan cắt cành của Thái lan được xuất khẩu qua nhiều nước trên thế giới. Có thể nói Thái Lan là nước điển hình cho ngành nuôi trồng và xuất khẩu hoa lan ở các nước Châu Á. (Phan Thúc Huân, 2005) [13] Hiện nay, tại Đài Loan trong ngành công nghiệp hoa lan được đánh giá là sự nổi bật trên cơ sở phát huy ngành công nghiệp nuôi cấy mô và lai tạo hoa lan Hồ Điệp.
Sản xuất hoa lan đã trở thành chiến lược trọng điểm của nền kinh tế nông nhiệp Đài Loan, đặc biệt là các nỗ lực tạo sự đa dạng cho xuất khẩu đã giúp Đài Loan trở thành quốc gia hàng đầu của ngành công nghiệp hoa lan. Tại Nhật Bản, được đánh giá là một trong những nhà sản xuất hoa lan, nhập khẩu và tiêu thụ hoa cắt cành đứng thứ ba trên thế giới sau Hà Lan và Mỹ.