ĐẶT VẤN ĐỀ Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) hiện nay đang rất phát triển ở Việt Nam. Với kỹ thuật này, mặc dù phôi đã đƣợc nuôi cấy thành công ngoài cơ thể, nhƣng khi cấy vào tử cung, khả năng bám vào niêm mạc tử cung làm tổ của phôi chỉ đạt trung bình khoảng 20%, tỷ lệ thai lâm sàng khoảng 35% và tỷ lệ em bé sinh ra còn thấp hơn nữa [66]. Có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng làm tổ của phôi. Trong đó, một yếu tố quyết định là phôi phải thoát ra khỏi đƣợc màng trong suốt.
Năm 1989, Cohen và cộng sự đã chứng minh rằng việc tạo một lỗ thủng trên màng trong suốt sẽ giúp phôi TTTON thoát màng dễ hơn và tỉ lệ làm tổ của phôi sẽ cao hơn. Kỹ thuật này đƣợc các tác giả đặt tên là kỹ thuật ―hỗ trợ thoát màng‖ (assisted hatching- AH) [trích dẫn 39]. Có ba cơ chế có thể giải thích hiệu quả của hỗ trợ phôi thoát màng: (1) Trong điều kiện nuôi cấy nhân tạo kéo dài hoặc đông lạnh, màng trong suốt bị cứng chắc bất thƣờng hoặc không mỏng đi trong quá trình phôi phát triển, làm cho phôi không thể thoát ra ngoài và bám vào nội mạc tử cung để làm tổ [33], [41]. Có nhiều phƣơng pháp hỗ trợ phôi thoát màng, có thể làm mỏng hay làm thủng màng trong suốt của phôi bằng cơ học, hóa chất hoặc bằng tia laser.
Tuy nhiên, kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng bằng tia laser hiện đƣợc nhiều trung tâm ƣa chuộng vì tính tiện dụng và an toàn của nó. Mặc dù hỗ trợ phôi thoát màng có thể sử dụng rộng rãi cho nhiều trƣờng hợp, nhƣng nói chung, kỹ thuật này thƣờng đƣợc dùng cho một số chỉ định của bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm [38], [156]. Tại Việt Nam, kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng bằng tia laser mới đƣợc áp dụng. Bệnh viện Phụ Sản Trung Ƣơng bắt đầu thực hiện hỗ trợ phôi thoát màng vào năm 2009.
Cho đến nay, có nhiều nghiên cứu trên thế giới và một số rất ít nghiên cứu trong nƣớc đánh giá hiệu quả của kỹ thuật hỗ trợ thoát màng trong TTTON. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng hỗ trợ thoát màng nói chung giúp làm tăng tỉ lệ phôi làm tổ và tỉ lệ có thai của TTTON [38], [156]. Bên cạnh đó cũng có không ít nghiên cứu cho thấy kỹ thuật này không đem lại hiệu quả [38], [141], [163]. Nhìn chung, vẫn tồn tại một số vấn đề mà các nghiên cứu trƣớc đây còn chƣa đề cập đến hoặc còn chƣa thống nhất.
Đó là hỗ trợ phôi thoát màng trên 3 nhóm đối tƣợng TTTON nào sẽ có hiệu quả? Nếu có hiệu quả thì cách thức đục lỗ hay làm mỏng sẽ tốt hơn? Nếu đục lỗ hay làm mỏng thì kích thƣớc bao nhiêu là tối ƣu? Để góp phần trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với Đề tài “ Nghiên cứu kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng bằng tia laser trong một số chỉ định trên bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng bằng tia laser diode 1.48µm với hai phƣơng pháp đục lỗ và làm mỏng màng trong suốt của phôi ở bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm trên 38 tuổi chuyển phôi tƣơi. Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật hỗ trợ phôi thoát màng bằng tia laser diode 1.48µm với hai phƣơng pháp đục lỗ và làm mỏng màng trong suốt của phôi trên các bệnh nhân chuyển phôi đông lạnh.
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) [39], [57] TTTON có nghĩa là cho tinh trùng thụ tinh với noãn và nuôi cấy thành phôi trong ống nghiệm. Sau đó, một số phôi sẽ đƣợc chuyển trở lại vào buồng tử cung. Quá trình phát triển của phôi và thai sẽ diễn ra hoàn toàn bình thƣờng trong tử cung ngƣời mẹ.
Kỹ thuật này đƣợc thực hiện thành công trên thế giới lần đầu tiên vào năm 1978 và lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1998. Một chu kỳ TTTON bao gồm: kích thích nang noãn, chọc hút lấy noãn ra ngoài cho kết hợp với tinh trùng trong phòng thí nghiệm, nuôi cấy thành phôi để chuyển trở lại vào buồng tử cung. Có 3 phác đồ KTBT thƣờng đƣợc sử dụng: Phác đồ dài (thƣờng dùng trong IVF cổ điển): dùng GnRH đồng vận (GnRH a) bắt đầu từ ngày thứ nhất của chu kỳ kinh hoặc từ ngày thứ 21 của chu kỳ và liên tục trong 14 ngày. Sau đó, dùng FSH phối hợp với GnRH cho đến khi tiêm hCG.
Phác đồ ngắn: GnRHa đƣợc tiêm cùng với FSH từ đầu chu kỳ. Phác đồ ngắn thƣờng đƣợc chỉ định cho những phụ nữ có dự trữ buồng trứng kém. Có thể sử dụng GnRH đối vận (GnRH-antagonis) từ ngày 5-6 của chu kỳ để đề phòng đỉnh LH nội sinh hoặc để giảm nguy cơ quá kích buồng trứng. Từ ngày thứ 8-13 của FSH, 4 chỉ định cho thuốc rụng noãn (thƣờng dùng hCG) khi siêu âm có > 1 nang 18mm hoặc > 3 nang noãn kích thƣớc > 16 mm.
Chọc hút noãn sau tiêm hCG 34-36 giờ. Noãn thu đƣợc sẽ ủ ấm trong tủ cấy CO2, 370C khoảng 3-6h trƣớc khi đƣợc cấy với tinh trùng hoặc cho thụ tinh bằng kỹ thuật ICSI. Đánh giá thụ tinh đƣợc tiến hành 18-20h sau cấy với tinh trùng trong kỹ thuật IVF cổ điển, 14-16h sau tiêm tinh trùng vào bào tƣơng noãn. Đánh giá thụ tinh bình thƣờng khi thấy hai tiền nhân.
Hiện nay, các trung tâm hỗ trợ sinh sản trên thế giới đánh giá chất lƣợng phôi chủ yếu dựa vào hình thái và tốc độ phân chia của phôi. Hình thái của phôi đƣợc theo dõi và đánh giá từ hình thái noãn, hợp tử rồi đến phôi phân chia. Đánh giá hình thái phôi giai đoạn phân chia sớm (ngày 2, 3) dựa vào các chỉ tiêu chính là số lƣợng phôi bào, độ đồng đều giữa các phôi bào, tỷ lệ các mảnh vỡ (fragment). Các chỉ tiêu phụ gồm có sự phân chia phôi bào đồng thời (synchronise - phân chia 2-4-8), mật độ hạt trong bào tƣơng, số lƣợng hạt nhân, không bào trong phôi bào.
Đánh giá hình thái phôi nang dựa vào độ nở rộng của phôi, hình thái của khối tế bào nội phôi (ICM) và nguyên bào lá nuôi (TE). Kích thích nang noãn Chọc hút noãn qua âm đạo Chuyển phôi Nuôi cấy phôi Hình 1. Quy trình thụ tinh ống nghiệm. (Nguồn http://www.
Các phôi tốt nhất sẽ đƣợc chọn để chuyển phôi. Hiện nay đa số các trung tâm lớn ở Mỹ và Châu Âu thƣờng chuyển 1-2 phôi ngày 5 (phôi nang). Hai tuần sau khi chuyển phôi, ngƣời phụ nữ đƣợc lấy máu để thử thai. Nếu kết quả thử thai dƣơng tính (hCG > 50 IU/l), 2-3 tuần sau, sản phụ sẽ đƣợc siêu âm để xác định túi ối và tim thai trong buồng tử cung.
5 Tỉ lệ thành công của mỗi chu kỳ điều trị TTTON trung bình trên thế giới hiện nay khoảng 25%-70%. Tỉ lệ này phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, chỉ định điều trị và phác đồ điều trị của từng trung tâm. Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thông dụng kèm theo TTTON 1. Đông lạnh phôi Đây là kỹ thuật phổ biến ở hầu hết các trung tâm làm thụ tinh trong ống nghiệm.
Nguồn phôi đông lạnh chủ yếu từ các phôi thừa sau chu kỳ chuyển phôi tƣơi, hoặc từ phôi của các bệnh nhân vì một số lý do không chuyển đƣợc phôi tƣơi hay từ phôi của ngƣời hiến tặng. Phôi có thể đƣợc đông lạnh ở các giai đoạn phát triển khác nhau của phôi và bằng các phƣơng pháp đông lạnh khác nhau nhƣ đông lạnh chậm, đông phôi thuỷ tinh hoá. Trong đó, phƣơng pháp đông phôi thủy tinh hóa là phổ biến nhất hiện nay. Đông tinh trùng Kỹ thuật này đƣợc chỉ định cho các trƣờng hợp chồng khó lấy tinh trùng hoặc trƣớc khi đi xa hay điều trị tia xạ, hoá chất.
Tuy nhiên, cần phân tích chất lƣợng tinh trùng trƣớc đông để khi rã đông sẽ có những chỉ định thích hợp cho mẫu tinh trùng đó. Đông noãn Đông noãn thƣờng đƣợc chỉ định cho các trƣờng hợp: Chồng không lấy đƣợc tinh trùng trong ngày vợ chọc hút noãn mà không muốn xin tinh trùng của ngƣời khác; Các trƣờng hợp xin noãn mà chƣa chuẩn bị niêm mạc tử cung phù hợp; trƣớc khi điều trị tia xạ, hoá chất; Bảo tồn khả năng sinh sản. Noãn sau khi rã đông muốn thụ tinh đƣợc phải làm ICSI để khắc phục khả năng thụ tinh thấp do thay đổi cấu trúc màng trong suốt khi đông lạnh. Tỷ lệ thai lâm sàng từ các chu kỳ đông noãn còn thấp.
Xin, cho phôi, noãn, tinh trùng Có nhiều trƣờng hợp không có tinh trùng hoặc không có noãn, do vậy cần phải dùng noãn hoặc tinh trùng của ngƣời cho. Một số trƣờng hợp không có phôi của chính mình mà muốn có con có thể xin phôi hiến. Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) ICSI (intra-cytoplasmic sperm injection) là kỹ thuật dùng hệ thống vi thao tác xử lý tiêm tinh trùng vào bào tƣơng noãn. Kỹ thuật này giúp kiểm soát đƣợc tỷ lệ thụ tinh, đảm bảo khả năng có phôi.
Do vậy, ICSI góp phần trong sự ổn định và gia tăng hiệu quả của một chu kỳ TTTON. Kỹ thuật lấy tinh trùng từ tinh hoàn và mào tinh Các kỹ thuật này thực hiện cho các bệnh nhân vô sinh nam xuất tinh không có tinh trùng (azoospermia) do tắc hoặc không tắc ống dẫn tinh. Tinh 6 trùng thu đƣợc chƣa trƣởng thành hoàn toàn, do vậy phải tiến hành ICSI để thụ tinh với noãn. Hỗ trợ phôi thoát màng (AH) Kỹ thuật này giúp phôi dễ thoát màng nhằm tăng tỷ lệ có thai và làm tổ của phôi.
Đến nay, trên thế giới đã có 4 phƣơng pháp đƣợc áp dụng để hỗ trợ phôi thoát màng: Làm mỏng hoặc làm thủng màng trong suốt bằng cơ học, bằng men pronase, bằng axit Tyrode và bằng tia laser. Có nhiều tranh cãi xung quanh chỉ định của kỹ thuật cho đối tƣợng TTTON nào thì hiệu quả. Chẩn đoán di truyền tiền làm tổ (PGD) Chẩn đoán di truyền trƣớc làm tổ đƣợc tiến hành nhằm sàng lọc phôi không có bất thƣờng về di truyền trƣớc khi chuyển phôi, đôi khi có thể thực hiện trên noãn trƣớc khi cho thụ tinh. Kỹ thuật này cho phép các cặp vợ chồng có nguy cơ truyền bệnh di truyền cho con có cơ hội sinh con không mắc bệnh, không phải bỏ thai khi thai đã lớn, tránh đƣợc những hậu quả xấu ảnh hƣởng lên tâm lý của ngƣời mẹ và gia đình.
Nuôi cấy noãn non (IVM) Trƣởng thành noãn non là kỹ thuật nuôi noãn non đến giai đoạn trƣởng thành ở môi trƣờng nuôi cấy chuyên biệt ngoài cơ thể.