CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về TĐG. Hầu hết các tác giả đều cho rằng TĐG là hình thức phát triển cao của tự ý thức. Đồng thời, các tác giả cũng quan tâm nghiên cứu về quá trình hình thành, đặc điểm, nội dung và vai trò của TĐG.
Franz đã nghiên cứu về “Khả năng TĐG phù hợp đối với thái độ học tập và thái độ tập thể ở học sinh các lớp 5 – 7 – 9”. Đến năm 1982, ông cho xuất bản cuốn “Phát triển TĐG của học sinh” [17], trong đó tác giả đã phân tích sâu khái niệm TĐG và vai trò của nó trong sự hình thành, phát triển nhân cách.Signer nghiên cứu “Mối quan hệ giữa đánh giá bên ngoài và TĐG đối với thái độ trong giờ học” [16, tr. Opperman nghiên cứu “Tính bền vững của khoảng cách giữa TĐG và đánh giá bên ngoài dưới ảnh hưởng của xã hội” [22].Lipkina đã xuất bản cuốn “TĐG của học sinh”, trong đó bà đã nêu khái niệm TĐG “Là thái độ của con người đối với những năng lực, khả năng, phẩm chất của nhân cách cũng như với bộ mặt bên ngoài của mình”. Andrusenco nghiên cứu “Những điều kiện tâm lý để hình thành sự TĐG của học sinh cấp I” [16, tr.
Ông chia TĐG thành bốn nhóm: - Nhóm TĐG dựa trên sự phân tích đối tượng. - Nhóm TĐG dựa trên sự phân tích hoạt động của bản thân. - Nhóm TĐG dựa trên sự phân tích những điều kiện của hoạt động. - Nhóm TĐG dựa trên sự phân tích thành công hay thất bại trong kinh nghiệm đã qua hoặc dựa vào sự đánh giá bên ngoài.
Ivasenco nghiên cứu “Những đặc điểm TĐG của học sinh lớn trong học tập – lao động” [24]. Tác giả cho rằng những học sinh có thành tích học tập khác nhau có sự TĐG khác nhau. Sự TĐG của cá nhân không chỉ khác nhau về mức độ phù hợp mà còn khác nhau trong việc lựa chọn luận cứ đánh giá. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu TĐG đã bắt đầu được quan tâm trong những năm gần đây.
Có thể kể ra một số công trình như sau: Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Ngọc Lan về mối quan hệ giữa khả năng TĐG phù hợp của học sinh đối với thái độ học tập và động cơ học tập, tác giả cho rằng: TĐG có mối liên quan với những yếu tố tâm lý khác của nhân cách. Sự TĐG thái độ học tập có liên quan chặt chẽ với động cơ học tập. Khả năng TĐG phù hợp đối với thái độ học tập ở học sinh lớp 6 và lớp 8 còn chưa cao. TĐG thái độ học tập ở các em gái phù hợp hơn ở các em trai [23].
Công trình nghiên cứu “Những tổn thương tâm lý của TN do bố mẹ ly hôn” của nhóm tác giả thuộc Viện Tâm lý học thực hiện năm 2002 dưới sự chủ trì của tác giả Văn Thị Kim Cúc, đã so sánh TĐG giữa trẻ trong các gia đình ly hôn và trẻ trong các gia đình bình thường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các các em trong gia đình ly hôn và trong gia đình bình thường đều có điểm số trung bình của cái “Tôi” xã hội, cái “Tôi” trường học khá cao và điểm trung bình của cái “Tôi” cảm xúc tiêu cực đều thấp. Các em trong gia đình ly hôn có điểm số cái “Tôi” thể chất thấp hơn các em trong gia đình bình thường [6, tr. Trong luận án Tiến sỹ Tâm lý học của Đỗ Ngọc Khanh, tác giả đã tìm hiểu về thực trạng TĐG của học sinh Trung học cơ sở ở Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của các em như cách ứng xử của cha, mẹ và yếu tố môi trường xung quanh [17].
Tác giả Ngô Thị Đẹp trong luận văn thạc sỹ của mình đã nghiên cứu đề tài “Những yếu tố tác động đến TĐG của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh”. Tác giả đã tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố trong gia đình, ảnh hưởng của bạn bè và ảnh hưởng của thầy cô đến TĐG của sinh viên [9]. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ đề cập đến các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến TĐG của sinh viên mà chưa đi sâu vào tìm hiểu các yếu tố bên trong cũng như chưa nghiên cứu về TĐG như là một kỹ năng. Như vậy, đã có không ít các công trình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài nghiên cứu về TĐG.
Tuy nhiên, các công trình chủ yếu đi vào tìm hiểu thực trạng TĐG và các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của đối tượng. Có rất ít các công trình, nhất là ở Việt Nam đi sâu vào nghiên cứu về KN TĐG. Do vậy, nghiên cứu KN TĐG của TN tại các trung tâm bảo trợ xã hội sẽ góp phần giải quyết được vấn đề này. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.
Khái niệm Hiện nay, trong Tâm lý học, khi nghiên cứu về KN có hai quan niệm: Quan niệm thứ nhất, coi KN là mặt kỹ thuật của thao tác. Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng KN là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có KN. Từ điển Tâm lý học của Mỹ do tác giả J.Chaplin chủ biên (1968) định nghĩa KN là “thực hiện một trật tự cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn” [17]. Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “KN là giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo” [7].Levitovxam xét KN gắn liền với kết quả hành động.
Theo ông, người có KN hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Ông nhấn mạnh, muốn hình thành KN con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế [7]. Quan niệm thứ hai, coi KN là một biểu hiện năng lực của con người. Từ điển tiếng Việt (1992) định nghĩa “KN là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [20, tr.
Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2008) định nghĩa “KN là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [8, tr. Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng quan niệm KN là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả [16].Platonov (1963) khẳng định “KN luôn được nhận thức. Cơ sở tâm lý của nó là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động” [7].Petrovski cho rằng: Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định được gọi là KN [7]. Tác giả Đỗ Thị Châu (1999) xem xét KN một cách toàn diện trên cả hai khía cạnh: thứ nhất, KN là mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động nhất định (không có KN chung chung, trừu tượng, tách rời hành động); thứ hai, KN là một biểu hiện của năng lực con người nên vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt và tính mục đích.
Để có KN hành động, cá nhân không chỉ hiểu sâu sắc về hành động (mục đích, phương thức, điều kiện hành động) mà phải mềm dẻo, linh hoạt triển khai hành động trong mọi hoàn cảnh theo đúng logic của nó với mọi điều kiện có thể có để đạt được mục đích của hành động. KN được hình thành trên cơ sở tri thức nên người có KN thì không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những điều kiện khác nhau [5, tr. Tác giả Nguyễn Thị Thúy Dung (2009) cho rằng “KN là một biểu hiện năng lực của con người thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách tiến hành đúng đắn kỹ thuật của hành động, trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vốn có về hành động đó” [7, tr. Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2009) quan niệm “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép.
KN không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người” [34, tr. Từ những quan niệm trên, chúng tôi xác định: KN là khả năng của con người vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và sử dụng đúng những kỹ thuật thao tác để thực hiện có kết quả một hành động, hoạt động nào đó. Để có KN, phải có cả hai yếu tố: - Thứ nhất, là những tri thức, hiểu biết của con người về hành động, hoạt động. Để con người có thể hành động, trước hết họ phải hiểu về mục đích, phương thức và điều kiện diễn ra hành động đó để có những phương án thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp.
Đây chính là mô hình tâm lý trước khi hành động. - Thứ hai, là kỹ thuật về thao tác. Mỗi hành động, hoạt động trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi những thao tác khác nhau. Do vậy, để thực hiện hành động một cách hiệu quả thì con người phải nắm chắc mặt kỹ thuật của thao tác hành động trong từng bối cảnh cụ thể.
Nếu thiếu một trong hai mặt trên thì con người sẽ rất khó thực hiện hành động, hoạt động có hiệu quả. Các mức độ và giai đoạn hình thành kỹ năng Về mức độ hình thành KN, có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này. Theo quan điểm của V. Bexpalko, có năm mức độ KN sau: - KN ban đầu: người học biết về nội dung một dạng KN nào đó, khi cần thiết có thể tái hiện những thao tác, hành động nhất định dưới sự hướng dẫn của người dạy.
- KN mức thấp: người học tự thực hiện được trình tự những thao tác cần thiết của một KN nào đó trong tình huống quen thuộc, tương tự nhưng chưa di chuyển được sang tình huống mới.