CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP VỚI BẠN BÈ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè của học sinh Trung học Cơ sở 1. Lịch sử nghiên cứu xung đột tâm lý và kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trong giao tiếp với bạn bè trên thế giới. Trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu về xung đột tâm lý và kỹ năng giải quyết xung đột tâm lý trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Mỗi nhà nghiên cứu tiếp cận giải quyết xung đột dưới một góc độ khác nhau nhưng đa phần các tác giả đều thống nhất giải quyết xung đột được thể hiện thông qua việc chủ thể giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các tình huống khác nhau của đời sống. Và quá trình giải quyết xung đột là một quá trình đòi hỏi chủ thể phải tích cực tư duy để tìm giải pháp và thực hiện giải pháp. Từ đó, các tác giả tập trung nghiên cứu về xung đột và kỹ năng giải quyết xung đột, cấu trúc, các thao tác của quá trình giải quyết xung đột và đặc biệt là cơ chế giải quyết, đồng thời ứng dụng kỹ năng giải quyết xung đột trong đời sống con người trên các khía cạnh khác nhau. Các nhà tâm lý học trên thế giới bao gồm các nhà tâm lý học phương Tây và các nhà tâm lý học Liên Xô cũ đã đưa ra 2 hướng nghiên cứu chính về xung đột tâm lý: Hướng thứ nhất: Nghiên cứu xung đột tâm lý của chính sự phát triển nhân cách cá nhân.
Nghiên cứu xung đột tâm lý của chính sự phát triển nhân cách cá nhân được các nhà tâm lý học nổi tiếng thuộc nhiều trường phái khác nhau đề cập đến như: J. Freud và các nhà phân tâm học xung đột cho rằng xung đột tâm lý là sự đấu tranh giữa các lực lượng tâm lý: cái tôi, cái siêu tôi và cái ấy. Kurt Lewin cũng đã nhấn mạnh đến vấn đề xung đột động cơ cá nhân trong công trình nghiên cứu theo hướng phân tâm xã hội của mình.Piaget và các nhà tâm lý học nhận thức (1987) nghiên cứu xung đột tâm lý như là một trạng thái thiếu hụt, mất cân bằng giữa các quá trình đồng hóa và điều ứng các kích thích từ các môi trường. Ông chỉ ra sự nguyên lý của sự phát triển nhận thức bắt nguồn từ sự đan xen thường xuyên giữa đồng hóa và điều ứng.
Trong tâm lý học học hoạt động, L. Rubinstein và một số nhà tâm lý học cùng hướng tiếp cận đều cho rằng xung đột là mâu thuẫn giữa các yêu tố tâm - sinh lý bên trong của cá nhân với các yếu tố bên ngoài thuộc về môi trường. Sự phát triển của các yếu tố bên trong và điều kiện khách quan bên ngoài không thống nhất với nhau sẽ dẫn đến xung đột tâm lý, làm cho cá nhân đó sẽ bị khủng hoảng trong quá tình phát triển, tạo nên hoạt động chủ động và cấu tạo tâm lý mới ở trẻ. (Lê Minh Nguyệt, 2016) Như vậy, dưới góc độ tâm lý, sự hình thành và phát triển các chức năng tâm lý là hình thành và phát triển các cấu trúc tâm lý mới.
Trong quá trình phát triển đó, thường xuyên xuất hiện các trạng thái xung đột giữa cấu trúc mới và cũ, giữa khả năng thực tế của cá nhân, đáp ứng yêu cầu về biến đổi của môi trường. Trong các nghiên cứu của J. Frued và các nhà tâm lý học trị liệu phân tâm cho thấy, việc giải quyết không đúng các xung đột tâm lý của cá nhân dẫn đến các lệch lạc tâm lý, hành vi. Hướng thứ hai: Nghiên cứu xung đột Tâm lý của cá nhân trong mối quan hệ liên nhân cách.
Nhìn chung, trong thời kỳ này, các nhà nghiên cứu tập trung giải thích và gọi tên hiện tượng xung đột xảy ra ở trẻ với nhiều hướng tiếp cận khác nhau nhằm tạo ra tiền đề cho việc tìm ra phương thức giải quyết xung đột. Đa số nghiên cứu trong thời kì này đều xem xét nguyên nhân xảy ra xung đột xuất phát từ sự thay đổi về tâm sinh lý của học sinh Trung học Cơ sở. Trên cơ sở đó, một số nhà tâm lý học bắt đầu đề cập đến những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết xung đột của thiếu niên nhưng chưa đi sâu vào cách giải quyết cụ thể. Anna (2015) cho rằng xung đột giữa cha mẹ và con cái là “biểu hiện bình thường của một quá trình tách ra và là một kích thích cần thiết cho quá trình phát triển”.
Các nhà phân tâm học xem “sự hòa hợp với cha mẹ là dấu hiệu của sự chưa Luan van 13 trưởng thành về mặt tâm lý bên trong (Phạm Thị Cường, 2017). Như vậy, xung đột của học sinh Trung học Cơ sở trong gia đình được nhìn nhận như nhân tố thúc đẩy sự phát triển và có vai trò quan trọng trong sự trưởng thành về mặt nhận thức của thiếu niên. Peter Blos trong thuyết “Quá trình cá thể hóa”của mình đã nêu lên quan điểm giai đoạn khủng hoảng tuổi dậy thì của thiếu niên chính là cơ hội để các em tích lũy những khác biệt và khoảng cách với người khác để vượt qua ràng buộc từ thời thơ ấu”. Nhận định này đã góp phần lý giải cho những mối bất hòa trong quan hệ bạn bè của tuổi học sinh Trung học Cơ sở.
Trong quá trình cá thể hóa, học sinh Trung học Cơ sở được “hình thành cảm giác nhạy bén để phân biệt mình với người khác và nâng cao nhận thức về những giới hạn của bản thân”. (Lê Minh Nguyệt, 2016) Quan điểm của Vưgotsky khi nhìn sự phát triển tâm lý gắn liền với các yếu tố văn hóa lịch sử được quan tâm trong thế kỷ XXI. Nhiều nghiên cứu đã bác bỏ quan điểm tuổi thiếu niên là thời kỳ đầy bão táp và giông tố, sự nhìn nhận bi quan về lứa tuổi này và xây dựng khái niệm mới thay thế (Dương Thủy Nguyên, 2016). Các nhà tâm lý học hiện đại nhận thấy có sự liên quan giữa mức độ gần gũi trong quan hệ bạn bè với khuynh hướng xảy ra xung đột.
Trong giai đoạn này, các lĩnh vực của xung đột giữa học sinh Trung học Cơ sở với bạn bè như: nguyên nhân, giải pháp, kết quả, biểu hiện. được nghiên cứu sâu hơn. Nghiên cứu về kết quả của xung đột, các nhà tâm lý đưa ra khái niệm về “xung đột có lợi” và “xung đột có hại”. Theo Barrera & Stice (1998), Fuller & Krupinski (1994), Shek (1991), xung đột có hại liên quan đến sự lo âu, buồn khổ của mỗi cá nhân nói chung và đặc biệt là tính khó kiểm soát ở học sinh Trung học Cơ sở nói riêng.
Mặt khác, Montemayor (1983) cho rằng xung đột với mức độ thấp hoặc trong quá trình xảy ra xung đột có sự giao tiếp hiệu quả,có giải pháp giải quyết xung đột và không để lại hậu quả học sinh Trung học Cơ sở được xem là xung đột có lợi – tạo điều kiện để thiếu niên và thỏa mãn nhu cầu độc lập của bản thân. Nghiên cứu về biểu hiện và nguyên nhân xung đột, D. Way, Brett laursen (1987) đã nghiên cứu về xung đột tuổi thiếu niên. Tác giả đã đưa ra hàng loạt biểu hiện xung đột của trẻ.
Ông cho rằng biểu hiện xung đột của trẻ rất đa dạng và phong Luan van 14 phú. Cùng xuất phát từ một nguyên nhân nhưng biểu hiện hành vi xung đột lại rất khác nhau: Cãi lí, lí sự, bỏ đi lang thang hoặc mắc bệnh trầm cảm. Trong xung đột tâm lý vợ chồng, tác giả John Gary (2009) đã đưa ra các nguyên nhân dẫn đến xung đột tâm lý cơ bản nhất là do nhận thức chưa đúng về sự khác nhau. Ông nhấn mạnh sự khác nhau theo câc yếu tố: Giá trị bản thân, phản ứng khi bị căng thẳng, việc khích lệ, sự bất đồng về ngôn ngữ, về tình yêu.
Ông cho rằng, nguyên nhân sâu xa nhất của việc xung đột tâm lý là do cảm thấy mình không được yêu thương. Nghiên cứu về các mức độ và bản chất của xung đột, Murnich Zamnes, V. Sysenko đã chỉ ra các mức độ xung đột tâm lý cụ thể như: Sự đồng nhất, sự khác nhau, sự đối lập, mâu thuẫn và cuối cùng là xung đột bùng nổ. Ông đã đưa ra các trình tự của quá trình gây nên xung đột, từ sự đồng nhất tiêu cực, xung đột được ẩn dấu đến khi xung đột trở nên gay gắt đến mức không thể điều hòa được giữa các cá nhân, giữa cá nhân với nhóm về nhận thức, quan điểm, thái độ, hành động, lúc này xuất hiện sự phản kháng mạnh mẽ từ cả hai bên xung đột.
(dẫn theo Đỗ Hạnh Nga, 2014) Cùng quan điểm và mục đích nghiên cứu về mức độ xung đột, Zắcke đã đưa ra ba mức độ của xung đột đi kèm với những dấu hiệu dựa vào cường độ căng thẳng trong quan hệ: Thái độ tiêu cực kéo dài trong quan hệ, sự căng thẳng tiêu cực và mức độ cuối cùng là xung đột đi kèm với những dấu hiệu. Trong đó, xung đột có những dấu hiệu rõ nhận biết nhất như: bùng nổ, cắn dứt, xúc phạm đến nhau, cãi nhau, dùng vũ lực, từ bỏ công việc,.so với những dấu hiệu khó nhìn thấy, thông thường ở thời kỳ đầu như: lo lắng, giọng nói không thân thiện, không hiểu nhau, ý kiến khác nhau,.(dẫn theo Lê Sơn, 2016) Nghiên cứu về ảnh hưởng và phương thức giải quyết xung đột, A. Becrcovich đã nghiên cứu sâu về sự ảnh hưởng của của xung đột tới bầu không khí tâm lý trong tập thể. Các nhà nghiên cứu cho rằng xung đột thường nảy sinh trong nhóm và tập thể.
Trong những tập thể phát triển nhanh, có tính ổn định thì xung đột có vẻ ít xuất hiện hơn. Ngược lại trong những nhóm, tập thể đang ở gia Luan van 15 đoạn hình thành và phát triển thì mâu thuẫn kết thúc bằng sự xung đột là không ít. Nadetxki (Phạm Thị Cường, 2017) đã khuyên các nhà giáo dục không nên bỏ qua những tình huống xung đột trong quan hệ của trẻ mà phải chú ý đến và biến nó trở thành phương tiện giáo dục hiệu quả. Nhiệm vụ của các nhà giáo dục là phải biết điều chỉnh những xung đột, xác định nguyên nhân xung đột và thông qua đó điều chỉnh mối quan hệ của trẻ.