Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Kinh tế tư nhân trong nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương" thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị học. Luận án giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp tại một địa bàn cấp tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ chủ trương của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII về việc "Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân" và xác định "kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Cùng với đó là việc kế thừa các quan điểm chỉ đạo xuyên suốt từ Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/04/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Mặc dù khu vực kinh tế tư nhân trong nông nghiệp đã có bước phát triển, thực tiễn quản lý nhà nước vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập: hệ thống cơ chế, chính sách chưa đồng bộ; tốc độ tăng trưởng kinh tế tư nhân có xu hướng giảm sút; quy mô sản xuất phổ biến là nhỏ lẻ; việc áp dụng máy móc, khoa học kỹ thuật hiện đại còn hạn chế; chất lượng sản phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ dẫn đến tình trạng nông sản mất an toàn; rủi ro sản xuất tự phát với hiện tượng "được mùa rớt giá"; hiệu quả kinh tế thấp và không ổn định khiến nhiều nông dân bỏ ruộng. Thực trạng này diễn ra trên cả nước và tại tỉnh Hải Dương, đòi hỏi một công trình nghiên cứu hệ thống nhằm tìm kiếm lời giải khoa học cho việc phát triển khu vực kinh tế này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra điểm mạnh và hạn chế của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó xây dựng định hướng và giải pháp phát triển khu vực kinh tế này trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Để hoàn thành mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án, từ đó kế thừa và làm sáng tỏ thêm vấn đề đặt ra chưa được nghiên cứu.
- Hệ thống hóa lý luận về bản chất, vai trò, xu hướng vận động của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của một số tỉnh về kinh tế tư nhân trong nông nghiệp để tỉnh Hải Dương có thể tham khảo.
- Phân tích thực trạng kinh tế tư nhân trong nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương từ năm 2008 đến năm 2017, đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển khu vực kinh tế này ở tỉnh Hải Dương đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào kinh tế tư nhân trong ngành nông nghiệp, bao gồm các hình thức tổ chức: hộ nông nghiệp, trang trại và các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân hoạt động trong tất cả các phân ngành nông, lâm, thủy sản.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các hình thức cụ thể gồm hộ nông nghiệp, trang trại và doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ liên quan đến nông, lâm, thủy sản. Luận án không bao gồm các hộ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ phi nông nghiệp và các doanh nghiệp chế biến nông sản (theo Quyết định số 10/QĐ-TTg ngày 23/01/2007, doanh nghiệp chế biến nông sản thuộc ngành công nghiệp chế biến).
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Hải Dương, bao gồm 11 huyện và 2 thành phố.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2017, tính từ mốc ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Các dự báo phương hướng và giải pháp được xác định đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu có liên quan theo hai nhóm chính ở ngoài nước và trong nước:
Các nghiên cứu ngoài nước tập trung vào ba hướng:
- Vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp: C. Mác và Ph. Ăngghen (1995) trong tác phẩm "Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức" chỉ ra tính khách quan của kinh tế tiểu nông và khuyến nghị định hướng sang hợp tác bằng nêu gương và hỗ trợ thay vì bạo lực. V.I. Lênin (1978) nhấn mạnh sự cần thiết phải thay đổi lối làm ăn sản xuất nhỏ tự cung tự cấp sang tổ chức công tác mới trên quy mô lớn. Hongliang Zheng và Yang Yang (2012) phân tích sự phát triển của khu vực tư nhân Trung Quốc trong 30 năm cải cách, mở cửa. Erich Sahan và Monique Mikhail (2012) lý giải sự cần thiết của đầu tư tư nhân vào nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực và dẫn số liệu tại Ấn Độ có 80% sản phẩm nông nghiệp được thúc đẩy bởi công ty tư nhân với 138 triệu gia đình nông dân tham gia. Marco Ferroni và Yuan Zhou (2017) khẳng định khu vực tư nhân đóng vai trò quyết định trong chuyển đổi nông nghiệp Ấn Độ.
- Xu hướng và kinh nghiệm phát triển: Hongliang Zheng và Yang Yang (2009) dự báo xu hướng đa dạng hóa cấu trúc doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của kinh tế tư nhân Trung Quốc. Bộ Nông nghiệp Kenya (2013) phân tích dự án hợp tác với Cộng hòa Liên bang Đức nhằm gắn kết nông dân với doanh nghiệp chế biến thực phẩm để vượt qua các rào cản tự nhiên và quản lý.
- Thực trạng và giải pháp phát triển: Johanna Nesseth Tuttle (2012) bàn về vai trò của các tập đoàn tư nhân như Monsanto, Syngenta, DuPont, PepsiCo, Walmart trong chuỗi giá trị nông nghiệp. Hội thảo của USAID (2012) tại Washington DC với 270 đại biểu từ 41 quốc gia nhấn mạnh hình thức đối tác công tư. Dan Acquaye và Frimpong - Manso (2012) phân tích cơ hội của kinh tế tư nhân trong ngành nông sản thực phẩm ở châu Phi.
Các nghiên cứu trong nước được tác giả phân chia theo các nhóm nội dung:
- Quan niệm về kinh tế tư nhân: Tác giả dẫn ra các quan điểm chưa đồng nhất giữa Nguyễn Thanh Tuyền (2006), Mai Tế và cộng sự (2006), chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan (2007) và Phạm Thị Lương Diệu (2012) về việc phân định kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế hay khu vực kinh tế.
- Vai trò của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp: Luận án của Nguyễn Văn Huân (1995) về kinh tế nông hộ; Đinh Thị Thơm (2005) về kinh tế trang trại và hộ nông dân; Mai Tế và cộng sự (2006) về chuyển dịch cơ cấu và huy động nguồn lực; Vũ Hùng Cường (2011) về vai trò động lực tăng trưởng.
- Xu hướng vận động: Nguyễn Thị Phương Thảo (2000) nghiên cứu kinh tế nông hộ miền Đông Nam Bộ; Lương Đình Hải (2005) về tích tụ, tập trung tư bản; Mai Tế và cộng sự (2006) về liên kết và tích tụ ruộng đất; Nguyễn Văn Sáng (2009) về 7 xu hướng của kinh tế tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh; Đặng Thị Thu Hiền (2015) về xu hướng chuyển từ kinh tế nông hộ lên sản xuất lớn và liên kết chuỗi giá trị.
- Thực trạng và giải pháp phát triển: Vũ Văn Yên (1994) về kinh tế hộ nông dân; Nguyễn Thị Minh Thọ (2000) về kinh tế nông hộ vùng cao Bắc Thái; Tạ Thị Lệ Yên (2003) về giải pháp tín dụng ngân hàng cho kinh tế trang trại; Trịnh Thị Hoa Mai (2005) về môi trường kinh doanh và hoàn thiện cơ chế; Đào Hữu Hoà (2008) về kinh tế trang trại Duyên hải Nam Trung Bộ; Chu Tiến Quang và Lưu Đức Khải (2010) về thực trạng kinh tế hộ nông thôn; các bài báo chuyên ngành của Nguyễn Xuân Đương (2014), Trang An (2015), Đỗ Thị Dinh và Tạ Thị Bẩy (2016).
- Các công trình liên quan đến tỉnh Hải Dương: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Trọng Thừa (2012) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; bài viết của Nguyễn Trọng Thừa (2012) về xây dựng nông thôn mới; luận án của Nguyễn Thị Thu Hiền (2014) về thu hút vốn đầu tư nông nghiệp; bài báo của Trung Sơn Hảo và Dũng Trị (2013) về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nông nghiệp; bài báo của Vũ Thanh Nguyên (2016) về phát triển nông nghiệp hiện đại, ứng dụng tiêu chuẩn GAP tại Hải Dương.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra:
- Về mặt lý luận: Dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị học, chưa có công trình nào đi sâu phân tích một cách hệ thống bản chất, đặc điểm, vị trí của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp; chưa làm rõ vai trò của khu vực này đối với ngành nông nghiệp và nền kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng một cách khoa học ở cấp tỉnh.
- Về mặt thực tiễn: Các công trình đã công bố chưa tổng kết, đánh giá một cách toàn diện và đồng thời cả ba chủ thể (hộ nông nghiệp, trang trại, doanh nghiệp tư nhân) của khu vực kinh tế tư nhân trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 10 năm (2008 - 2017). Do đó, thiếu cơ sở thực tiễn để dự báo và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khung phân tích kinh tế chính trị tập trung vào quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trong đó phân tích sâu ba mặt của quan hệ sản xuất: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối.
Về khái niệm lý thuyết, luận án xác định kinh tế tư nhân ở Việt Nam là một "khu vực kinh tế" chứ không phải là một "thành phần kinh tế" đơn lẻ. Luận án căn cứ vào Điều 15 Hiến pháp năm 1992 xác định ba chế độ sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Chế độ sở hữu tư nhân là nền tảng hình thành nên các thành phần kinh tế: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Vì vậy, khu vực kinh tế tư nhân bao hàm nhiều thành phần kinh tế có chung chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học, lôgic kết hợp với lịch sử, phân tích và tổng hợp, tổng kết thực tiễn được sử dụng xuyên suốt để nhận diện bản chất, đặc điểm và quy luật vận động của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp.
- Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng để xử lý số liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý và các cơ sở dữ liệu thống kê chính thức.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Tác giả áp dụng công thức xác định cỡ mẫu của Yamane Taro:
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$
Trong đó:
- $n$: cỡ mẫu cần xác định
- $N$: kích thước tổng thể
- $e$: mức sai số chấp nhận
Dựa trên số liệu từ Báo cáo sơ bộ kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản tỉnh Hải Dương năm 2016 của Cục Thống kê tỉnh Hải Dương, các thông số cỡ mẫu được xác định như sau:
| Đối tượng điều tra |
Quy mô tổng thể ($N$) |
Độ tin cậy |
Mức sai số ($e$) |
Cỡ mẫu tính toán ($n$) |
Cỡ mẫu khảo sát thực tế (làm tròn) |
| Hộ nông, lâm, thủy sản |
117.663 |
95,5% |
4,5% |
491 |
500 phiếu |
| Trang trại |
1.138 |
90,0% |
10,0% |
92 |
100 phiếu |
Mẫu được chọn ngẫu nhiên dựa trên danh sách hộ và trang trại do cơ quan chức năng tỉnh Hải Dương quản lý. Ngoài ra, tác giả kết hợp khảo sát thực tế và phỏng vấn trực tiếp một số cơ sở kinh tế tư nhân điển hình trên địa bàn tỉnh.
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: số liệu điều tra sơ cấp của tác giả; số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Hải Dương; các văn bản nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; các báo cáo tổng kết ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương giai đoạn 2008 - 2017.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế tư nhân trong nông nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung: vai trò, xu hướng phát triển và các giải pháp đối với kinh tế tư nhân trong nông nghiệp. Tác giả đối chiếu các quan điểm lý luận về sở hữu và bản chất của khu vực kinh tế tư nhân từ góc độ kinh tế học và kinh tế chính trị học.
Chương này chỉ ra các khoảng trống khoa học: các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và tỉnh Hải Dương chủ yếu tiếp cận dưới góc độ quản lý kinh tế, kinh tế nông nghiệp hoặc xem xét riêng rẽ từng loại hình như kinh tế hộ hoặc kinh tế trang trại; chưa có công trình kinh tế chính trị nào đánh giá đồng thời cả ba chủ thể (hộ nông nghiệp, trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp tư nhân) trên một địa bàn cấp tỉnh trong giai đoạn 2008 - 2017. Đây là cơ sở thực tế khẳng định đề tài không trùng lặp và xác lập mục tiêu nghiên cứu của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân trong nông nghiệp
Chương 2 tập trung luận giải bản chất, đặc điểm, vai trò, xu hướng vận động, tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế tư nhân trong nông nghiệp.
Về bản chất, kinh tế tư nhân trong nông nghiệp là một khu vực kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; tồn tại dưới các hình thức hộ nông nghiệp, trang trại và doanh nghiệp; hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản (không bao gồm chế biến công nghiệp và dịch vụ phi nông nghiệp).
Về đặc điểm kinh tế chính trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
- Tuyệt đại đa số các chủ thể dựa trên sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất. Việc mở rộng quy mô trong nông nghiệp gắn liền với quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất thay vì chỉ tích tụ vốn đơn thuần như trong công nghiệp.
- Quyền sở hữu đất đai tách rời quyền sử dụng: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sản xuất nhưng giữ quyền quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng, thu hồi, định giá đất và áp đặt hạn mức giao đất, thời hạn sử dụng. Điều này tạo ra rào cản tài sản trực tiếp đối với các chủ thể kinh tế tư nhân khi đầu tư dài hạn.
Luận án luận giải 7 vai trò chủ yếu của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp:
- Góp phần khơi dậy các nguồn vốn xã hội cho phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả. Luận án dẫn chứng số liệu của Ferroni và Zhou (2017) tại Ấn Độ: đầu tư công từng chiếm gần 4% GDP nông nghiệp năm 1981 nhưng sau đó giảm dần khi đầu tư tư nhân tăng lên, đạt gần 16% GDP nông nghiệp năm 2011; đến năm 2013, khu vực tư nhân chiếm 83% tổng vốn hình thành trong nông nghiệp, khu vực công chỉ chiếm 17%. Đồng thời dẫn nghiên cứu của Keith Fuglie (2014) cho thấy chi tiêu của khu vực tư nhân toàn cầu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) nông nghiệp và thực phẩm tăng từ 5,1 tỷ USD năm 1990 lên 15,6 tỷ USD năm 2014.
- Góp phần sử dụng tối ưu các nguồn lực đất đai, nguyên vật liệu, lao động và kinh nghiệm sản xuất, ngành nghề truyền thống của địa phương.
| Chỉ tiêu năm 2016 tại Việt Nam |
Khu vực kinh tế tư nhân |
Hợp tác xã (Khu vực tập thể) |
Ghi chú từ văn bản |
| Diện tích đất nông nghiệp sử dụng |
92.848 nghìn ha |
6.946 ha |
Tư nhân chiếm >99,9%; Hợp tác xã chiếm <0,1% |
| Lao động thường xuyên thu hút |
18,7 triệu người |
- |
Chiếm 99,5% lao động nông nghiệp cả nước |
| Diện tích đất do trang trại sử dụng |
175,8 nghìn ha |
- |
Nằm trong khối kinh tế tư nhân |
| Lao động do trang trại thu hút |
135,5 nghìn người |
- |
Nằm trong khối kinh tế tư nhân |
- Góp phần kích thích phát triển khoa học và công nghệ trong nông nghiệp thông qua việc tối ưu hóa chi phí sản xuất, đưa các giống mới và quy trình thâm canh vào chuỗi giá trị.
- Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy và nâng cao năng lực quản lý trong sản xuất nông nghiệp.
- Góp phần thúc đẩy xuất khẩu, tăng thu ngân sách nhà nước thông qua việc mở rộng thị trường và chuỗi cung ứng nông sản.
- Góp phần quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, nâng cao chất lượng cuộc sống. Văn bản dẫn số liệu: đến quý 4 năm 2017, dân số từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam đạt gần 72,2 triệu người, trong đó lực lượng lao động là 55,2 triệu người. Trong lao động nông thôn: 52,6% làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản; 24,6% làm trong công nghiệp - xây dựng; 22,8% làm trong dịch vụ. Khu vực ngoài nhà nước sử dụng 85,2% lao động; khu vực nhà nước sử dụng 9,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng 5,4%. Về giá trị sản lượng của các trang trại: năm 2016 đạt 92,3 nghìn tỷ đồng theo giá hiện hành (gấp 2,4 lần năm 2011), giá trị thu từ nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2011 - 2016 tăng 126,1% (loại trừ yếu tố giá), bình quân mỗi năm tăng 17,7%.
- Góp phần hình thành thế hệ người nông dân kiểu mới, thúc đẩy tiến bộ ở nông thôn, tạo đà cho xây dựng nông thôn mới.
Luận án xác định 5 xu hướng vận động của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp:
- Xu hướng giảm dần về số lượng hộ nông dân cá thể, tăng dần số lượng trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp tư nhân.
- Sản xuất theo hướng nông nghiệp an toàn, nông nghiệp sạch (tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP).
- Vận động theo hướng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Vận động theo hướng liên kết hóa (hình thành các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012, liên kết "5 nhà", chuỗi giá trị nông sản).
- Xu hướng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh giữa các đơn vị thuộc khu vực kinh tế tư nhân với nhau và với các khu vực kinh tế khác.
Chương này cũng xác định các tiêu chí đánh giá sự phát triển của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp trên địa bàn một tỉnh (quy mô, số lượng, cơ cấu, hiệu quả kinh tế, đóng góp xã hội) và các nhân tố ảnh hưởng (thể chế, đất đai, thị trường, khoa học công nghệ, vốn tín dụng).
Chương 3: Thực trạng kinh tế tư nhân trong nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương giai đoạn 2008 - 2017
Chương 3 triển khai nhiệm vụ đánh giá thực tế dựa trên dữ liệu thống kê giai đoạn 2008 - 2017 và kết quả khảo sát 500 phiếu hộ nông nghiệp, 100 phiếu trang trại cùng phỏng vấn trực tiếp các cơ sở kinh tế tư nhân trên địa bàn 11 huyện và 2 thành phố của tỉnh Hải Dương.
Nội dung chương tập trung vào:
- Phân tích thực trạng phát triển của ba hình thức tổ chức kinh tế tư nhân trong nông nghiệp tỉnh Hải Dương: kinh tế hộ nông nghiệp, kinh tế trang trại và doanh nghiệp tư nhân nông nghiệp. Đánh giá về số lượng cơ sở, quy mô đất đai, cơ cấu ngành nghề (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ nông nghiệp), nguồn vốn đầu tư và lao động.
- Phân tích việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn (VietGAP) và mức độ chuyển giao công nghệ đến các cơ sở sản xuất.
- Đánh giá thực trạng các mối liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa hộ nông dân, trang trại với các doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Tổng kết các kết quả đạt được, làm rõ các hạn chế còn tồn tại (sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi bền vững, khó khăn về tích tụ đất đai và tiếp cận vốn vay) và xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan thuộc về cơ chế quản lý nhà nước tại địa phương.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương đến năm 2025, tầm nhìn 2030
Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm, mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế tư nhân trong nông nghiệp tỉnh Hải Dương phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, hiện đại hóa nông nghiệp và tái cơ cấu kinh tế.
Các nhóm giải pháp chủ yếu được luận án xây dựng gồm:
- Hoàn thiện công tác quản lý quy hoạch đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ và tập trung đất nông nghiệp phục vụ sản xuất quy mô lớn.
- Đổi mới chính sách tín dụng, hoàn thiện các cơ chế bảo lãnh vay vốn và tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn cho trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp tư nhân.
- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ xây dựng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng.
- Phát triển các mô hình liên kết kinh tế, củng cố hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012 làm cầu nối giữa hộ nông dân với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp, đào tạo kỹ năng quản lý kinh tế và kỹ thuật canh tác cho chủ hộ nông dân và chủ trang trại.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án phân tích và luận giải bản chất kinh tế tư nhân trong nông nghiệp là một khu vực kinh tế bao gồm nhiều thành phần kinh tế (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) có chung chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thay vì xem xét nó như một thành phần kinh tế đơn lẻ.
- Làm rõ đặc điểm kinh tế chính trị của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp Việt Nam: sự tách rời giữa quyền sở hữu tối cao của Nhà nước về đất đai và quyền sử dụng đất của người sản xuất, chỉ ra yêu cầu tích tụ ruộng đất là điều kiện tiên quyết để áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp.
- Hệ thống hóa 7 vai trò kinh tế - xã hội và 5 xu hướng vận động khách quan của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá và xác định các nhóm nhân tố tác động đến sự phát triển của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh; tổng kết bài học kinh nghiệm từ thực tiễn các địa phương khác có giá trị tham khảo cho tỉnh Hải Dương.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân trong nông nghiệp tại tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 10 năm (2008 - 2017) dưới cả ba hình thức tổ chức: hộ nông nghiệp, trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp tư nhân, dựa trên nguồn số liệu thống kê chính thức kết hợp dữ liệu điều tra thực địa.
- Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp cụ thể, đồng bộ nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân trong nông nghiệp tại tỉnh Hải Dương phát triển đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu thực trạng từ năm 2008 đến năm 2017, do đó các biến động kinh tế và cơ chế chính sách ban hành sau năm 2017 chưa được phản ánh trong số liệu thực nghiệm.
- Về nội dung, luận án loại trừ các doanh nghiệp chế biến nông sản và các hộ kinh doanh phi nông nghiệp ở nông thôn. Do vậy, bức tranh về toàn bộ chuỗi giá trị nông sản sau thu hoạch chưa được phân tích sâu ở khâu công nghiệp chế biến.
- Địa bàn khảo sát thực nghiệm tập trung tại tỉnh Hải Dương, các đặc thù về sinh thái nông nghiệp và cơ cấu kinh tế có sự khác biệt nhất định so với các vùng miền khác trong cả nước.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu sang khâu chế biến nông sản và dịch vụ logistics nông nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân để đánh giá đầy đủ chuỗi giá trị nông sản.
- Cập nhật chuỗi số liệu thực nghiệm ở giai đoạn tiếp theo sau năm 2017 nhằm đánh giá tác động của các chính sách mới và bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị học, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý kinh tế: có thể khai thác khung lý thuyết về bản chất khu vực kinh tế tư nhân, mối quan hệ sở hữu ruộng đất, các vai trò và xu hướng vận động được trình bày trong Chương 2.
- Các nhà nghiên cứu phương pháp luận: có thể tham khảo phương pháp áp dụng công thức Yamane Taro trong thiết kế mẫu điều tra xã hội học phân tầng cho hộ nông nghiệp và trang trại.
- Cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ hoạch định chính sách tại tỉnh Hải Dương và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng: có thể sử dụng các kết quả đánh giá thực trạng (Chương 3) và hệ thống giải pháp về đất đai, vốn tín dụng, liên kết kinh tế (Chương 4) để xây dựng đề án, quy hoạch phát triển nông nghiệp địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án khẳng định kinh tế tư nhân là một "khu vực kinh tế" chứ không phải một "thành phần kinh tế"?
Luận án căn cứ vào lý luận của V.I. Lênin về thành phần kinh tế gắn liền với hình thức sở hữu cụ thể về tư liệu sản xuất và Điều 15 Hiến pháp năm 1992 xác định ba chế độ sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Chế độ sở hữu tư nhân hình thành nên nhiều thành phần kinh tế khác nhau: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Do đó, việc gọi kinh tế tư nhân là một "khu vực kinh tế" bao hàm các thành phần kinh tế trên đảm bảo tính chính xác và tính lôgíc khoa học.
2. Công thức xác định cỡ mẫu điều tra xã hội học được tác giả áp dụng như thế nào?
Tác giả sử dụng công thức Yamane Taro: $n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$. Đối với hộ nông, lâm, thủy sản ($N = 117.663$, độ tin cậy 95,5%, sai số $e = 4,5%$), cỡ mẫu tính toán ra 491 và làm tròn thành 500 phiếu. Đối với trang trại ($N = 1.138$, độ tin cậy 90%, sai số $e = 10%$), cỡ mẫu tính toán ra 92 và làm tròn thành 100 phiếu.
3. Số liệu năm 2016 trong luận án phản ánh quy mô sử dụng đất và lao động của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp Việt Nam ra sao?
Năm 2016, khu vực kinh tế tư nhân sử dụng 92.848 nghìn ha đất nông nghiệp (chiếm hơn 99,9% tổng diện tích đất nông, lâm, thủy sản sử dụng của cả nước, trong khi hợp tác xã chỉ dùng 6.946 ha, dưới 0,1%). Khu vực này thu hút 18,7 triệu lao động (chiếm 99,5% lực lượng lao động làm việc thường xuyên trong nông nghiệp). Riêng các trang trại sử dụng 175,8 nghìn ha đất và 135,5 nghìn lao động.
4. Luận án chỉ ra những xu hướng vận động chính nào của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp?
Văn bản xác định 5 xu hướng: (1) Giảm dần số lượng hộ nông dân cá thể, tăng dần số lượng trang trại và doanh nghiệp; (2) Sản xuất theo hướng nông nghiệp an toàn, nông nghiệp sạch (VietGAP, GlobalGAP); (3) Vận động theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; (4) Vận động theo hướng liên kết hóa (hợp tác xã kiểu mới, chuỗi giá trị); (5) Vừa hợp tác vừa cạnh tranh giữa các đơn vị kinh tế tư nhân với nhau và với các khu vực kinh tế khác.
5. Phạm vi nghiên cứu của luận án loại trừ những đối tượng nào?
Luận án chỉ tập trung vào hộ nông nghiệp, trang trại và doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ nông, lâm, thủy sản. Luận án loại trừ các hộ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ phi nông nghiệp và các doanh nghiệp chế biến nông sản (theo Quyết định số 10/QĐ-TTg ngày 23/01/2007, doanh nghiệp chế biến nông sản thuộc ngành công nghiệp chế biến).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Kinh tế tư nhân trong nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương" là công trình nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị học, hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế tư nhân với tư cách là một khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án đã kết hợp phương pháp phân tích lý luận kinh tế chính trị với điều tra xã hội học định lượng theo công thức Yamane Taro để đánh giá thực trạng ba chủ thể kinh tế tư nhân (hộ nông nghiệp, trang trại, doanh nghiệp) tại 11 huyện và 2 thành phố của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2008 - 2017. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu học thuật và hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương đến năm 2025, tầm nhìn 2030.